Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 51/2024/HS-ST

Ngày: 23/5/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Quang Dũng

Các hội thẩm nhân dân:

Bà Trần Nguyệt Mai

Bà Trần Thị Tuyết

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên toà: Ông Phan Văn Dần – Thư ký Toà án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Đẩu - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 29/2024/HSST ngày 27/02/2024, quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 53/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:

Lê Duy A, sinh năm 2003, tại Nghệ An; giới tính: Nam; Thường trú: C P, Phường A, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi cư trú: 41/76/43 tổ A ấp F xã Đ, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Không; Học vấn: 8/12; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: (Không rõ) và bà: Lê Thị X; Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 06/5/2022 bị cáo bị Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội xử phạt 26 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo phạm tội lúc 17 tuổi 04 tháng và phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng nên căn cứ điểm b, Khoản 1, Điều 107 Bộ luật hình sự 2015 thì bị cáo được coi như không có án tích; Ngày 06/12/2022, bị cáo bị Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng xử phạt 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” và 15 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Tổng hợp chung hình phạt của 02 bản án là 56 (năm mươi sáu) tháng tù (theo bản án số 215/2022/HS-ST của Tòa án nhân dân Thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng); Ngày 15/8/2023 bị Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Tổng hợp hình phạt tù chung với bản án số 215/2022/HSST ngày 06/12/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng là 08 (tám năm 02 (hai) tháng tù.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/7/2022 (có mặt tại phiên tòa).

Bị hại: Ông Mang Thanh N, sinh năm: 1995 (Vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp M, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Nguyễn Mạc T, sinh năm 1971 (vắng mặt).

Địa chỉ: A Hòa Bình, Phường E, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lê Duy A và anh M Thanh N1 là bạn bè quen biết với nhau khi cả hai trò chuyện qua mạng xã hội Facbook. Khoảng 13 giờ 30 phút, ngày 02/7/2022, Duy A và anh N1 hẹn nhau đi đến Trung tâm T1, địa chỉ số A Hồ N, Phường A, Quận E để cùng nhau ăn uống và xem phim. Khi đi anh N1 rủ chị Võ Trương Hà M1 (bạn anh N1) để đi cùng Duy A. Khi đến nơi cả 3 đến lầu 3 của Trung tâm thương mại ngồi uống nước. Lúc này Duy A thấy anh N1 để chìa khóa xe mô tô ở bên hông túi đeo chéo nên nảy sinh ý định trộm cắp xe của anh N1. Lợi dụng lúc anh N1 để túi đeo chéo trên bàn và cùng M1 đi lấy đồ ăn, Duy A đã lén lút lấy chìa khóa xe và thẻ xe từ trong túi đeo chéo của anh N1 và bỏ vào túi quần. Sau đó, khi cả 3 đi xem phim thì Duy A nói mình bị đau bụng, cần đi vệ sinh. Tuy nhiên, Duy A đi xuống bãi để xe và điều khiển xe mô tô của anh N1 tẩu thoát. Duy A điều khiển xe đến tiệm cầm đồ Xuân A1 (địa chỉ: số A Hòa Bình, Quận A) gặp anh Nguyễn Mạc T (chủ tiệm cầm đồ) và cầm chiếc xe trên với số tiền 20.000.000 đồng (không có giấy tờ gì thể hiện). Duy A sử dụng số tiền trên mua 01 điện thoại di động Iphone 12 Pro A với giá 17.000.000 đồng số tiền còn lại đã tiêu xài cá nhân hết. Sau đó, Duy A liên lạc với anh N1 (qua mạng xã hội Facebook) yêu cầu chuyển khoản 30.000.000 đồng để chuộc lại xe nhưng anh N1 không đồng ý do anh N1 không tin tưởng và sợ bị lừa. Do đó, Duy A đã bán chiếc xe trên cho 01 nam thanh niên (không rõ lai lịch) với giá 40.000.000 đồng. Sau đó, Duy A đi lên Thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng để xin việc làm thì tiếp tục có hành vi “Trộm cắp tài sản” và “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” nên bị Công an T2, tỉnh Lâm Đồng bắt tạm giam. Ngày 26/7/2022, anh N1 đến Công an P, Quận E trình báo. Vụ việc sau đó được chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q để điều tra theo thẩm quyền.

Tại Cơ quan điều tra Lê Duy A đã thừa nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên.

Tại bản kết quả định giá tài sản trong tố tụng hình sự số 114/KL-HĐĐGTS ngày 13/10/2022, của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự Quận E có kết quả định giá như sau: “Xe gắn máy hiệu Honda SH150i (phiếu trả lời xác minh phương tiện giao thông cơ giới đường bộ ngày 05/10/2022), BS 62P2-278.55, đã qua sử dụng, tỷ lệ mới 85% có trị giá 65.000.000 đồng/chiếc.

Vật chứng: 01 (một) xe mô tô hiệu SH150i, biển số 62P2 – 278.55.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Mang Thanh Nhàn chưa nhận lại tài sản và có yêu cầu bị cáo bồi thường gia trị chiếc xe máy bị chiếm đoạt là 65.000.000đ.

Bản cáo trạng số: 30/CT-VKSQ5 ngày 23/02/2024 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Lê Duy A về tội “Trộm cắp tài sản” theo Điểm c Khoản 2 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 5 giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Bị cáo Lê Duy A đã có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 (một) xe mô tô hiệu SH150i, biển số 62P2 – 278.55 có giá trị 65.000.000đ của anh Mang Thanh N2 tại Trung tâm thương mại T1. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Lê Duy A về tội “Trộm cắp tài sản”, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điểm c Khoản 2 Điều 173; Điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Lê Duy A với mức án từ 03 (ba) năm đến 04 (bốn) năm tù.

Bị cáo Lê Duy A không có ý kiến bào chữa, tranh luận và nói lời nói sau cùng xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa công khai, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận, bị cáo Lê Duy A đã có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 (một) xe mô tô hiệu SH150i, biển số 62P2 - 278.55 có giá trị 65.000.000₫ của anh Mang Thanh N2 tại Trung tâm thương mại T1. Từ những nhận định trên cho thấy, hành vi của bị cáo Lê Duy A đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xét bị cáo là người trưởng thành, có sức khỏe, có đủ khả năng nhận biết được hành vi của mình, biết hành vi trộm cắp là vi phạm pháp luật nhưng vì tham lam mà bị cáo đã bất chấp pháp luật, cố ý thực hiện hành vi phạm tội.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ; gây mất trật tự xã hội ở địa phương. Do đó, cần phải có một mức án nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo; nhằm mục đích giáo dục bị cáo, đồng thời có tác dụng răn đe và phòng ngừa chung.

[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, cần xem xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo.

[5] Về hình phạt áp dụng đối với bị cáo: Căn cứ Điều 50 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017), Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù với một thời gian nhất định để có thể cải tạo bị cáo thành người có ích cho xã hội.

[6] Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

[7] Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố để xét xử và đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo là có cơ sở pháp luật, đúng người, đúng tội, không oan sai.

Đối với Nguyễn Mạc T là người đã cầm cố chiếc xe do bị cáo Lê Duy A mang đến nhưng không biết đây là tài sản do bị cáo phạm tội mà có nên không có cở sở xử lý.

[8] Về vật chứng:

01 (một) xe mô tô hiệu SH150i, biển số 62P2 – 278.55 hiện không thu hồi được nên Tòa không xét.

[9] Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa, bị cáo Lê Duy A đồng ý bồi thường theo yêu cầu của bị hại với số tiền là 65.000.000đ. Xét đây là sự tự nguyện thỏa thuận giữa bị cáo và bị hại, phù hợp với quy định của pháp luật nên hội đồng xét xử ghi nhận.

[10] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm và án phí Dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 173; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 56 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt bị cáo Lê Duy A 03 (ba) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

Buộc bị cáo Lê Duy A phải chấp hành hình phạt chung với bản án hình sự sơ thẩm số 184/2023/HS-ST ngày 15 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh. Tổng hợp hình phạt chung của hai bản án mà bị cáo Lê Duy A phải chấp hành là 11 (mười một) năm 02 (hai) tháng tù.

Thời hạn tù tính từ ngày 22/7/2022.

Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 357; Khoản 1 Điều 589 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Buộc bị cáo Lê Duy A bồi thường cho anh M Thanh Nhàn số tiền 65.000.000đ.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và anh Mang Thanh N2 có đơn yêu cầu thi hành án mà bị cáo không thanh toán khoản tiền bồi thường thiệt hại nêu trên, thì hàng tháng bị cáo còn phải chịu thêm khoản tiền lãi chậm trả theo quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Luật phí và lệ phí.

Bị cáo chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 3.250.000đ (ba triệu, hai trăm năm mươi nghìn đồng) án phí Dân sự sơ thẩm.

Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân TpHCM;
  • - Sở Tư pháp TpHCM;
  • - Viện kiểm sát nhân dân TpHCM;
  • - Viện kiểm sát nhân dân Quận 5;
  • - Cơ quan CSĐT Công an Quận 5;
  • - Bộ phận THA HS Tòa án Quận 5;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự Quận 5;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu Hồ sơ vụ án, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trương Quang Dũng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 51/2024/HS-ST ngày 23/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 51/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Lê Duy A phạm tội trộm cắp tài sản đối với bị hại là ông Mang Thanh N
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger