Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TIỀN HẢI

TỈNH THÁI BÌNH

Bản án số: 51/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 22 - 8 - 2024

V/v: “Tranh chấp hôn nhân gia đình”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIỀN HẢI, TỈNH THÁI BÌNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Nhi

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Tô Thị Hương và ông Phạm Mã Siêu.

- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Nguyễn Lê Huy - Thư ký Toà án nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình tham gia phiên toà: Ông Phạm Quang Huy - Kiểm sát viên

Ngày 22 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Tiền Hải xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 51/2024/TLST - HNGĐ ngày 06/5/2024 về việc: “Tranh chấp hôn nhân gia đình” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 46/2024/QĐXXST- HNGĐ ngày 23/7/2024 và quyết định hoãn phiên tòa số: 35/2024/QÐST-HNGĐ ngày 09/8/2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Phạm Thị N, sinh năm 1992 (Có mặt).

Địa chỉ: Thôn B, xã D, huyện H, tỉnh Thái Bình

- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1986 (Vắng mặt).

Địa chỉ: Thôn Đ, xã N, huyện T, tỉnh Thái Bình.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện về việc xin ly hôn và trong quá trình tố tụng tại Tòa án nguyên đơn - chị Phạm Thị N trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Văn T tự do tìm hiểu và tự nguyện kết hôn với nhau, được Ủy ban nhân dân xã N, huyện T kết hôn vào ngày 29 tháng 01 năm 2019. Sau khi kết hôn chị và anh T chung sống với nhau tại gia đình anh T ở thôn Đ, xã N, huyện T, tỉnh Thái Bình. Cuộc sống chung vợ chồng hoà thuận, hạnh phúc được một năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình vợ chồng không hợp nhau, vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi chửi nhau, thậm chí anh T đã đánh đập chị. Mâu thuẫn ngày càng trầm trọng nên chị đã phải bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở huyện H, tỉnh Thái Bình sinh sống từ tháng 8 năm 2021 đến nay, không ai còn quan tâm đến ai nữa. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, không thể quay lại tiếp tục chung sống với nhau được nữa, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh T.

Về quan hệ con chung: Chị và anh T có 01 con chung là Nguyễn Thị Kim N1, sinh ngày 14/11/2019 hiện đang do anh T nuôi dưỡng. Ly hôn chị có nguyện vọng nhường con chung cho anh T tiếp tục nuôi dưỡng

Về quan hệ tài sản chung và công nợ chung: Chị và anh T không có tài sản gì chung, không vay nợ ai và cũng không cho ai vay nợ nên không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về phía bị đơn: Tòa án đã triệu tập bị đơn là anh Nguyễn Văn T nhiều lần nhưng anh T không đến Tòa án để làm việc. Tòa án đã tiến hành xác minh và lấy lời khai của bố đẻ anh T là ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1962, trú tại thôn Đ, xã N, huyện T, tỉnh Thái Bình.

Tại biên bản lấy lời khai ngày 21/5/2024 ông T1 trình bày: Ông là bố đẻ của anh Nguyễn Văn T, chị Phạm Thị N và anh Nguyễn Văn T tự nguyện tìm hiểu và kết hôn với nhau có đăng ký kết hôn tại ủy ban nhân dân xã N, huyện T, tỉnh Thái Bình vào ngày 29/01/2019. Sau khi kết hôn vợ chồng anh T chị N chung sống hạnh phúc đến đầu năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do hai vợ chồng không hợp nhau về tính cách và lối sống và chị N và anh T đã sống ly thân từ năm 2020 đến nay. Nay chị N có đơn xin ly hôn anh T, quan điểm của ông cho rằng đây là việc của anh T và chị N thì anh chị ấy tự quyết định. Quá trình chung sống anh T và chị N có 01 con chung là Nguyễn Thị Kim N1, sinh ngày 14/11/2019 hiện nay cháu đang ở cùng gia đình ông và anh T, anh T hiện đang đi làm ăn ở tỉnh ngoài nhưng thường xuyên gửi tiền về để nuôi con. Nếu vợ chồng anh T chị N ly hôn thì ông đề nghị Toà án giao con cho anh T nuôi dưỡng và gia đình ông cũng không yêu cầu chị N phải cấp dưỡng nuôi con chung vì chị N bỏ con đi khi con mới được 04 tháng tuổi và không có trách nhiệm gì đối với con chung. Về quan hệ tài sản chung và công nợ chung: Anh T và chị N không có gì chung về tài sản và công nợ.

Hiện tại anh T đi làm ăn ở Vũng Tàu tuy nhiên anh làm gì và ở địa chỉ nào thì ông không biết. Gia đình anh nhận được giấy báo và văn bản tố tụng của Toà án, gia đình cũng đã thông báo cho anh T biết việc chị N xin ly hôn nhưng anh T bận việc nên không đến Toà án để làm việc được nhưng anh T có nguyện vọng xin được nuôi con chung và không yêu cầu chị N phải cấp dưỡng nuôi con cùng anh.

Kết quả xác minh tại xã N, huyện T thể hiện: Chị Phạm Thị N, sinh năm 1992 và anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1986 tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn với nhau vào ngày 29/01/2019 tại ủy ban nhân dân xã N, huyện T, tỉnh Thái Bình. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc với nhau được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn cụ thể như thế nào địa phương không nắm được. Quá trình chung sống chị N và anh T có 01 con chung là Nguyễn Thị Kim N1, sinh ngày 14/11/2019. Về tài sản chung và công nợ chung, địa phương không nắm được cụ thể. Nay chị N có đơn xin ly hôn anh T, địa phương đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án như sau:

- Về việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án, nguyên đơn là chị N đã thực hiện theo đúng quy định của Bộ luật luật tố tụng dân sự, bị đơn là anh Nguyễn Văn T không thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử xử cho chị Phạm Thị N được ly hôn anh Nguyễn Văn T. Về quan hệ con chung: Giao cho anh Nguyễn Văn T trực tiếp nuôi con chung Nguyễn Thị Kim N1, sinh ngày 14/11/2019, việc cấp dưỡng nuôi con chung không đặt ra giải quyết khi nào đương sự có yêu cầu sẽ được giải quyết bằng vụ, việc dân sự khác. Về quan hệ tài sản chung và công nợ chung: Không đặt giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về áp dụng pháp luật tố tụng:

Xét thấy nguyên đơn là chị Phạm Thị N khởi kiện xin ly hôn anh Nguyễn Văn T, anh T đang đăng ký hộ khẩu thường trú tại xã N, huyện T, tỉnh Thái Bình. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự Hội đồng xét xử xét thấy Tòa án nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình đã thụ lý và giải quyết yêu cầu của chị N là đúng thẩm quyền.

Bị đơn là anh Nguyễn Văn T đã được triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai mà không có lý do. Vì vậy, Toà án tiến hành xét xử vắng mặt anh T là phù hợp với quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành biện pháp thu thập tài liệu, chứng cứ. Vì vậy Viện kiểm sát tham gia phiên toà là đúng với quy định tại Điều 21 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về áp dụng pháp luật nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị N và anh Nguyễn Văn T tự nguyện kết hôn có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện T, tỉnh Thái Bình vào ngày 29/01/2019 xác định là hôn nhân hợp pháp. Vợ chồng chị N anh T mâu thuẫn và hiện tại chị N, anh T không còn chung sống với nhau từ năm 2021 đến nay (chị N bỏ về quê ở huyện H sinh sống), không ai còn quan tâm ai nữa. Nay chị N có đơn xin ly hôn anh T, anh T không đến Toà án làm việc cũng không có văn bản thể hiện quan điểm của mình điều này thể hiện anh T cũng không muốn duy trì cuộc hôn nhân này nữa và không có ý thức níu kéo để vợ chồng về đoàn tụ. Từ những tình tiết nêu trên, xét thấy, tình trạng hôn nhân của chị N và anh T đã trầm trọng, đời sống chung trên thực tế không còn tồn tại, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, Hội đồng xét xử cần chấp nhận yêu cầu của chị N, xử cho chị N được ly hôn anh T là phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

Về quan hệ con chung: Xét thấy con chung của chị N và anh T là Nguyễn Thị Kim N1, sinh ngày 14/11/2019 đang do anh T nuôi dưỡng từ khi 04 tháng tuổi đến nay. Ly hôn chị N có nguyện vọng nhường con cho anh T tiếp tục nuôi dưỡng nên cần giao cho anh T tiếp tục nuôi dưỡng con chung là phù hợp với quy định tại Điều 83 Luật Hôn nhân gia đình. Việc cấp dưỡng nuôi con chung anh T không đến Toà án làm việc cũng không có văn bản thể hiện quan điểm của mình nên không đặt ra giải quyết.

Về quan hệ tài sản chung và công nợ chung: Chị N trình bày chị và anh T không có tài sản gì chung, không vay nợ ai và cũng không cho ai vay nợ nên không yêu cầu Toà án giải quyết, anh T không đến Toà án làm việc cũng không có văn bản thể hiện quan điểm của mình nên không đặt ra giải quyết.

Về án phí: Chị Phạm Thị N phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 56, Điều 58 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Phạm Thị N được ly hôn anh Nguyễn Văn T.
  2. Về quan hệ con chung: Giao cho anh Nguyễn Văn T trực tiếp nuôi con chung là Nguyễn Thị Kim N1, sinh ngày 14/11/2019 việc cấp dưỡng nuôi con chung không đặt ra giải quyết khi nào đương sự có yêu cầu sẽ được giải quyết bằng vụ, việc dân sự khác.
  3. Về quan hệ tài sản chung và công nợ chung: Không đặt ra giải quyết.
  4. Về án phí: Chị Phạm Thị N phải nộp 300.000 (ba trăm ngàn) đồng tiền án phí ly hôn sơ thẩm. Chuyển số tiền 300.000 (ba trăm ngàn) đồng chị N đã nộp tiền tạm ứng án phí theo biên lai số 0002632 ngày 06/5/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Tiền Hải thành án phí.

Án xử công khai sơ thẩm, chị Phạm Thị N có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, anh Nguyễn Văn T có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt theo quy định của pháp luật.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

HỘI THẨM NHÂN DÂN THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
Nguyễn Thị Nhi

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Tiền Hải;
  • - UBND xã Nam Hồng;
  • - Chi cục THADS huyện Tiền Hải;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Nhi

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 51/2024/HNGĐ-ST ngày 22/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIỀN HẢI, TỈNH THÁI BÌNH về tranh chấp hôn nhân gia đình

  • Số bản án: 51/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIỀN HẢI, TỈNH THÁI BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: NÀN - THỌ
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger