|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ TỈNH LÂM ĐỒNG Bản án số: 51/2024/HNGĐ - ST Ngày: 22-7-2024 V/v Ly hôn |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Như Quỳnh
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Trần Thị Hằng
- Bà Khuất Thị Minh Hiền
- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Trọng Thắng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà Trần Duy Hoàng Thao - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 126/2024/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 4 năm 2024 về việc: “ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 57/2024/QĐXXST – HNGĐ ngày 04 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Hoàng Thị Như N, sinh năm: 1992. Địa chỉ: Số 1 tổ dân phố C, thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng.
- Bị đơn: Anh Lê Đoàn L, sinh năm: 1990. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Lâm Đồng. Địa chỉ hiện nay: Đội 22K1, trại giam Đ, huyện B, tỉnh Lâm Đồng.
(Các đương sự vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nguyên đơn chị Hoàng Thị Như N trình bày: Chị và anh Lê Đoàn L chung sống với nhau năm 2017, không tổ chức đám cưới, đến năm 2023 có đăng
ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng. Quá trình chung sống hòa thuận, hạnh phúc đến giữa năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn trầm trọng, không thể hòa hợp. Sau đó anh L thì phải đi chấp hành hình phạt tù, gia đình nhà chồng thì không thể hòa hợp với chị, thường xuyên chửi bới xúc phạm chị. Mối quan hệ giữa chị và gia đình chồng rất căng thẳng. Chị đã cố gắng để dung hòa các mối quan hệ và khi đi thăm nuôi anh L chị cũng đã trao đổi nhiều lần để cùng nhau tìm cách cải thiện. Tuy nhiên, tính đến nay anh chị đều xác định không còn tình cảm, không còn muốn tiếp tục xây dựng gia đình với nhau nữa. Mục đích hôn nhân không thể đạt được, vì vậy chị N yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh L. Về con chung chị N xác định vợ chồng có một con chung là Hoàng Hiểu L1, sinh ngày: 18/8/2020, khi ly hôn chị N yêu cầu được nuôi con, không yêu cầu anh L phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung chị N xác định không có không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ngoài ra, chị N không trình bày gì thêm.
Tại bản tự khai bị đơn anh Lê Đoàn L trình bày: Anh và chị Hoàng Thị Như N chung sống với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng. Sau khi anh đi chấp hành án thì phát sinh mâu thuẫn, không thể hòa hợp, mối quan hệ giữa chị N với gia đình anh cũng căng thẳng. Sau nhiều lần chị N thăm nuôi anh thì vợ chồng đã nói chuyện tìm hướng giải quyết nhưng không được. Vì vậy, anh yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị Hoàng Thị Như N. Về con chung anh L xác định vợ chồng có 01 con chung là Hoàng Hiểu L1, sinh ngày 18/8/2020. Khi ly hôn anh L đồng ý giao con cho chị N có trách nhiệm trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục, anh L không cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung anh L xác định vợ chồng không có không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ngoài ra, anh L không trình bày gì thêm.
Tòa án đã tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải nhưng anh L vắng mặt nên không hòa giải được. Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ cho đương sự vắng mặt nhưng anh L không có ý kiến gì nên Tòa án triển khai đưa vụ án ra xét xử theo quy định.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán và Hội đồng xét xử, cụ thể: Thẩm phán, Thư ký đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự trong quá trình thụ lý và giải quyết vụ án. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng trình tự phiên tòa sơ thẩm theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn xin ly hôn của
chị N, xử cho chị N được ly hôn với anh L. Về con chung đề nghị giao con chung cho chị Hoàng Thị Như N có trách nhiệm trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục, anh L không phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung không đặt ra xem xét giải quyết. Về án phí: đề nghị buộc chị N phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào ý kiến phát biểu của Viện kiểm sát tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Tại phiên tòa, nguyên đơn, bị đơn cùng có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt nên căn cứ khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự xử vắng mặt các đương sự theo thủ tục chung.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Hoàng Thị Như N và anh Lê Đoàn L đăng ký kết hôn vào ngày 22 tháng 5 năm 2023 tại Ủy ban nhân dân thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng. Hôn nhân giữa chị N và anh L được xác lập trên cơ sở tự nguyện nên hôn nhân giữa chị N và anh L là hợp pháp.
Về nguyên nhân mâu thuẫn: Quá trình chung sống chị N cho rằng không hạnh phúc nên chị N làm đơn ly hôn. Tại bản tự khai anh L cũng xác định vợ chồng không thể hòa hợp nên đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn. Xét thấy, nguyên nhân mâu thuẫn giữa chị N và anh L là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống và do mối quan hệ giữa chị N với gia đình chồng không hòa hợp nên hay cãi nhau nhưng khi xảy ra mâu thuẫn thì các đương sự lại không tìm cách hàn gắn tình cảm khiến cho cuộc sống gia đình không hạnh phúc. Hiện nay anh L đang chấp hành án tại Trại giam Đ, trong thời gian anh L chấp hành án thì chị N có đi thăm và anh chị đã nhiều lần nói chuyện, trao đổi nhưng vẫn không thể hòa hợp được. Vì vậy, nếu cứ kéo dài tình trạng hôn nhân như hiện nay cũng không mang lại hạnh phúc cho các đương sự do mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng kéo dài, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận đơn khởi kiện về việc ly hôn của chị N, xử cho chị N và anh L được ly hôn.
[2.2] Về con chung: Chị N và anh L có 01 con chung là Hoàng Hiểu L1, sinh ngày 18/8/2020. Khi ly hôn chị N yêu cầu được trực tiếp nuôi con còn anh L cũng đồng ý giao con cho chị N có trách nhiệm trực tiếp nuôi dưỡng. Xét thấy, hiện nay cháu L1 sống cùng chị N, do chị N trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục còn
anh L hiện nay đang chấp hành án. Vì vậy, giao con cho chị N có trách nhiệm trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.
Về việc cấp dưỡng nuôi con: chị N không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[2.3] Về tài sản chung và nợ chung các đương sự cùng xác định không có nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết về tài sản chung và nợ chung trong vụ án này. Nếu sau này các đương sự có tranh chấp thì sẽ được giải quyết bằng vụ án khác khi có yêu cầu khởi kiện.
[3] Về án phí: Chị N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ vào Điều 53, khoản 1 Điều 56; Điều 57; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
- - Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 203; khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và Điều 266 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;
- - Căn cứ khoản 6 Điều 26, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hoàng Thị Như N, xử cho chị Hoàng Thị Như N và anh Lê Đoàn L được ly hôn.
- Về con chung: Giao con là Hoàng Hiểu L1, sinh ngày 18/8/2020 cho chị Hoàng Thị Như N có trách nhiệm trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh Lê Đoàn L không phải cấp dưỡng nuôi con.
Quyền đi lại thăm nom con, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con; quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con; thay đổi mức cấp dưỡng được thực hiện theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình.
- Về án phí: chị Hoàng Thị Như N phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị N đã nộp là 300.000đồng theo biên lai thu tiền số 0004637 ngày 19/4/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Lâm Hà, chị N đã nộp đủ án phí.
- Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày Tòa án niêm yết bản án tại nơi cư trú để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Thành viên Hội đồng xét xử |
Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa |
|
|
Khuất Thị Minh Hiền |
Trần Thị Hằng |
Nguyễn Thị Như Quỳnh |
6
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Như Quỳnh |
Bản án số 51/2024/HNGĐ - ST ngày 22/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG về ly hôn
- Số bản án: 51/2024/HNGĐ - ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tranh chấp ly hôn giữa nguyên đơn chị Hoàng Thị Như Ngọc với bị đơn anh Lê Đoàn Long
