Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI

TỈNH BÌNH PHƯỚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 51/2023/HNGĐ-ST

Ngày: 21/8/2023.

V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI, TỈNH BÌNH PHƯỚC

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Hoàng Long

Các hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Loan, bà Nguyễn Thị Hương.

-Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Thanh Tuyền - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước.

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài tham gia phiên tòa:

Bà Trần Thị Thủy Hằng -Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 8 năm 2023, tại Tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 93/2023/TLST-HNGĐ ngày 11/5/2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 34/2023/QĐXX-ST ngày 17/7/2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 19/2023/QĐST –HNGĐ ngày 31/7/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài giữa các đương sự:

-Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1985, có đơn xin vắng mặt

-Bị đơn: Ông Nguyễn Minh D, sinh năm 1984, vắng mặt không lý do

Cùng địa chỉ nơi cư trú: B L, phường T, thành phố Đ, Bình Phước.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 11/4/2023, quá trình giải quyết nguyên đơn bà Nguyễn Thị T trình bày:

Bà T và ông Nguyễn Minh D tự nguyện tìm hiểu yêu thương và chung sống với nhau, có tổ chức cưới hỏi theo phong tục địa phương. Ngày 02/7/2004 đăng ký kết hôn tại UBND phường T, thị xã Đ (nay là thành phố Đ), Bình Phước. Từ khi chung sống đến năm 2017 hai vợ chồng có nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do ông D hay ăn nhậu, nhiều lần tìm cớ đánh đập và gây thương tích cho bà T, bà T đã nhiều lần nói chuyện nhưng ông D không thay đổi. Nay bà T thấy cuộc sống hôn nhân có những mâu thuẫn không hàn gắn được, cuộc sống chung không hạnh phúc nên yêu cầu ly hôn với Nguyễn Minh D.

Về con chung: Quá trình chung sống giữa bà T và ông Nguyễn Minh D có 03 con chung là Nguyễn Thị Yến N, sinh ngày 07/10/2005; Nguyễn Phúc Thành N1, sinh ngày 13/11/2012; Nguyễn Phúc Thành L, sinh ngày 24/8/2017. Khi ly hôn bà T yêu cầu được nuôi 03 con chung.

Về cấp dưỡng nuôi con: Tự thỏa thuận, không yêu cầu tòa án giải quyết.

Về tài sản chung, cho vay, nợ chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu tòa án giải quyết.

Bị đơn ông Nguyễn Minh D vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án nên không có ý kiến.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài phát biểu ý kiến: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán – chủ tọa phiên tòa, Hội đồng xét xử và nguyên đơn đã tuân thủ các quy định của thủ tục tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt đúng quy định của pháp luật. Về nội dung vụ án: Cuộc sống chung của bà T, ông D có mâu thuẫn trầm trọng không thể hàn gắn và kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, áp dụng quy định tại Khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết 326 của /2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị T, cho bà Nguyễn Thị T được ly hôn với ông Nguyễn Minh D.

Giao 03 con chung Nguyễn Thị Yến N sinh ngày 7 tháng 10 năm 2005, Nguyễn Phúc Thành N1, sinh ngày 13 tháng 11 năm 2012, Nguyễn Phúc Thành L, sinh ngày 24 tháng 8 năm 2017 cho bà Nguyễn Thị T chăm sóc nuôi dưỡng.

Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét giải quyết.

Về án phí bà Nguyễn Thị T phải chịu 300.000đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1].Về thủ tục tố tụng: Đây là vụ án “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” do bà Nguyễn Thị T khởi kiện. Bị đơn ông Nguyễn Minh D cư trú tại phường T, thành phố Đ, Bình Phước nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35, 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2]. Về sự vắng mặt của các đương sự: Bà T có đơn xin xét xử vắng mặt đúng quy định của pháp luật. Ông D dù được tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không có lý do; Căn cứ quy định tại Điều 227; Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án thành phố Đ tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo thủ tục chung.

[3].Nội dung vụ án:

[3.1]. Về quan hệ hôn nhân: Bà T, ông D tự nguyện chung sống với nhau từ năm 2004, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, thị xã Đ (nay là thành phố Đ), tỉnh Bình Phước, vào sổ đăng ký kết hôn số 52, ngày 02/7/2004. Căn cứ điều 8 và điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình thì đây là hôn nhân hợp pháp. Do vậy bà T có đơn khởi kiện xin ly hôn với ông D là có căn cứ.

Xét tình trạng hôn nhân của bà T và ông D: Trong suốt quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tạo điều kiện cho hai bên có cơ hội hàn gắn tình cảm, quay về đoàn tụ chung sống với nhau nhưng đến nay bà T vẫn giữ nguyên yêu cầu được ly hôn với ông D, vì bà cho rằng cuộc sống chung không hạnh phúc, phát sinh nhiều mâu thuẫn, ông D thường đánh đập bà T, hai vợ chồng thường bất đồng quan điểm sống; Vì cuộc sống chung không còn hạnh phúc nên bà T yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Minh D. Đối với bị đơn trong quá trình giải quyết vụ án dù Tòa án đã nhiều lần triệu tập lên làm việc, hòa giải nhưng ông D vẫn vắng mặt không có lý do. Xét thấy, hôn nhân hạnh phúc được xây dựng trên sự tự nguyện yêu thương, chăm sóc, tôn trọng lẫn nhau và cùng có trách nhiệm chung với gia đình, nhưng trong cuộc sống chung của bà T và ông D có những mâu thuẫn trầm trọng không thể hàn gắn, cuộc sống chung không thể tiếp tục kéo dài vì mục đích hôn nhân không đạt được, do vậy Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà T.

[3.2].Về con chung: Trong quá trình chung sống giữa bà T và ông D có 03 con chung là Nguyễn Thị Yến N - sinh ngày 07 tháng 10 năm 2005, Nguyễn Phúc Thành N1 - sinh ngày 13 tháng 11 năm 2012, Nguyễn Phúc Thành L - sinh ngày 24 tháng 8 năm 2017. Bà T yêu cầu được nuôi 03 con chung.

Xét bà T hiện tại có chỗ ở ổn định, đang là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng 03 con chung, do cháu Nguyễn Phúc T1 L còn nhỏ (06 tuổi) nên cần sự chăm sóc, gần gũi của người mẹ; trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án tiến hành lấy lời khai các cháu Nguyễn Thị Yến N, Nguyễn Phúc Thành N1, cháu N và cháu N1 đều thể hiện nguyện vọng được sống chung với mẹ là bà T sau khi ông D và bà T ly hôn.

Mặt khác, ông D biết rõ yêu cầu của bà T về việc yêu cầu nuôi con nhưng không có ý kiến. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, giao cháu Nguyễn Thị Yến N, sinh ngày 07 tháng 10 năm 2005, Nguyễn Phúc Thành N1, sinh ngày 13 tháng 11 năm 2012, Nguyễn Phúc Thành L, sinh ngày 24 tháng 8 năm 2017 cho bà T tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp.

Về cấp dưỡng: Bà T yêu cầu tự thỏa thuận với ông D, không yêu cầu Tòa án xem xét, do đó hội đồng xét xử không đề cập xử lý.

[3.3].Về tài sản chung, cho vay, nợ chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[4].Án phí sơ thẩm: Các đương sự phải chịu theo quy định của pháp luật.

Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ nêu trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 9, Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án:

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị T.

  1. [1].Về hôn nhân: Cho bà Nguyễn Thị T được ly hôn với ông Nguyễn Minh D.
  2. [2].Về nuôi con chung và cấp dưỡng nuôi con: Giao con chung Nguyễn Thị Yến N, sinh ngày 07 tháng 10 năm 2005, Nguyễn Phúc Thành N1, sinh ngày 13 tháng 11 năm 2012, Nguyễn Phúc Thành L, sinh ngày 24 tháng 8 năm 2017 cho bà T trực tiếp trôm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục;

Về cấp dưỡng nuôi con: Tự thỏa thuận, không yêu cầu tòa án giải quyết.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Vì lợi ích mọi mặt của con chưa thành niên, các bên đều có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người nuôi con, việc cấp dưỡng nuôi con nếu có căn cứ cho rằng mình hoặc bên kia không đáp ứng được quyền lợi của con.

  1. [3].Về tài sản, cho vay và nợ chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  2. [4].Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Bà T phải nộp 300.000đồng (Ba trăm ngàn đồng) được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000đồng (Ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu tiền số 0004872 ngày 11/5/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Đồng Xoài. Bà T đã nộp đủ án phí.
  3. [5].Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
  4. [6]. Quyền kháng cáo: Bà T, ông D có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày niêm yết tại chính quyền địa phương nơi cư trú.

Nơi nhận:

  • -TAND tỉnh Bình Phước;
  • -VKSND TP. Đồng Xoài;
  • -Chi cục THADS TP. Đồng Xoài;
  • -UBND phường Tân Bình.
  • -Các đương sự;
  • -Lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN–CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bùi Thị Hoàng Long

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 51/2023/HNGĐ-ST ngày 21/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI, TỈNH BÌNH PHƯỚC về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 51/2023/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/08/2023
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI, TỈNH BÌNH PHƯỚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger