|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH HÓA TỈNH THÁI NGUYÊN Bản án số: 51/2023/HS-ST Ngày 21/8/2023 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH HÓA, TỈNH THÁI NGUYÊN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hoàng Văn Kiểm.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Đồng Văn Nghiên
- Ông Hoàng Đức Thuỷ
Thư ký phiên toà: Bà Phan Thị Phượng - Thư ký Toà án nhân dân huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên toà: Ông Hoàng Đại Nghĩa - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên; xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 50/2023/HSST ngày 28/7/2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 52/2023/QĐXXST- HS ngày 09/8/2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Ma Khánh B, sinh năm 1990 tại huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và cư trú: Xóm Đ, xã P, huyện Đ, tỉnh T; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học vấn: Lớp 10/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Tày; tôn giáo: Không; con ông Ma Đình Đa và bà Lý Thị Bưởi; vợ con chưa có; tiền sự: Không; tiền án: có 02 tiền án: Tại bản án số: 42/HSST ngày 29/11/2018 của Tòa án nhân dân huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên, xử phạt Ma Khánh B 18 tháng tù về tội” Tàng trữ trái phép chất ma tuý” (Chấp hành xong bản án ngày 08/01/2020). Tại bản án số: 93/HSST ngày 28/9/2020 của Tòa án nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang, xử phạt Ma Khánh B 15 tháng tù về tội” Trộm cắp tài sản” (Chấp hành xong bản án ngày 15/10/2021).
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/5/2023 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên. Có mặt.
Người bị hại: Anh Ma Khánh N, sinh năm: 1976, trú tại: Xóm Trung Tâm, xã Phú Đình, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên. Có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan : Anh Nguyễn Văn N2, sinh năm: 1972, trú tại: Xóm N, xã T, huyện Đ, tỉnh T. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 12 giờ 30 phút, ngày 18/5/2023, Ma Khánh B một mình đi bộ qua nhà anh Ma Khánh N ở Xóm Trung Tâm, xã Phú Đình, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên, thì thấy 01 xe mô tô nhãn hiệu AURIGA, màu sơn nâu, biển kiểm soát: 20L7-7776 dựng trước cổng nhà, đầu xe hướng vào trong sân, chìa khóa của xe mô tô vẫn cắm ở ổ khóa điện, B đã nảy sinh ý định trộm cắp xe mô tô trên mang bán lấy tiền tiêu sài cá nhân. Sau khi quan sát xung quanh không thấy có ai, B đi đến cạnh chiếc xe mô tô và dắt chiếc xe ra đường ĐT 264B cách đó khoảng 100 m rồi bật chìa khóa điện và khởi động xe nổ máy, B điều khiển xe đi tìm nơi tiêu thụ. Khi đến nhà Nguyễn Văn N2, sinh năm: 1972, tại xóm Quyết Tâm, xã Trung Lương, huyện Định Hóa, B vào nhà hỏi Nam có mua xe không, anh N2 hỏi xe của ai, B nói xe của B, B viết giấy bán xe cho anh N2, anh N2 đã trả cho B 500.000 đồng, số tiền này B đã đi đến khu vực ngã ba B Yên, thuộc xã B Yên, huyện Định Hóa mua ma túy sử dụng hết.
Khoảng 13 giờ ngày 18/5/2023 sau khi ngủ trưa dậy phát hiện gia đình bị mất xe mô tô, anh N đã làm đơn trình báo Công an xã Phú Đình, huyện Định Hóa đề nghị giải quyết. Cùng ngày Ma Khánh B đã đến Công an xã Phú Đình đầu thú về hành vi trộm cắp xe mô tô của anh N, sau khi trộm cắp dược B đã bán xe cho anh N2 và B giao nộp 01 áo sơ mi dài tay nhãn hiệu “TUẤN TÚ APOLLO"; 01 áo phông cộc tay nhãn hiệu “YODY”, màu xanh dương; 01 quần đùi không rõ nhãn hiệu, màu xám, kích cỡ “32”, là quần áo mà B đã mặc khi thực hiện hành vi trộm cắp xe mô tô của anh N. Qua xác minh, cùng ngày 18/5/2023, Nguyễn Văn N2 đã giao nộp cho Công an xã Phú Đình, huyện Định Hóa 01 xe mô tô nhãn hiệu AURIGA, màu sơn nâu, biển kiểm soát: 20L7-7776 và 01 giấy bán xe mô tô do Ma Khánh B viết. Vụ việc sau đó được chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Định Hóa để giải quyết theo thẩm quyền.
Tại Kết luận Định Giá tài sản số: 15/KL-ĐG ngày 19/5/2023 của Hội đồng Định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự huyện Định Hóa, kết luận: 01 xe mô tô nhãn hiệu AURIGA, màu sơn: nâu, số máy: FMG001924, số khung: TT7XB01924, BKS: 20L7-7776, đăng ký lần đầu ngày 10/5/2007, có giá trị là: 2.300.000 đồng (Hai triệu ba trăm nghìn đồng).
Vật chứng của vụ án gồm: 01 xe mô tô nhãn hiệu AURIGA, màu sơn nâu, số máy: FMG 001924, số khung: TT7XB 01924, BKS: 20L7-7776; 01 áo sơ mi dài tay nhãn hiệu “TUẤN TÚ APOLLO”, màu tím, kích cỡ “L”, cũ đã qua sử dụng; 01 áo phông cộc tay nhãn hiệu “YODY”, màu xanh dương, kích cỡ “XL”, cũ đã qua sử dụng; 01 quần đùi không rõ nhãn hiệu, màu xám, kích cỡ “32”, kích thước (48x40)cm, cũ đã qua sử dụng. Sau khi điều tra làm rõ, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại chiếc xe mô tô trên cho anh Ma Khánh N là chủ sở hữu quản lý, sử dụng, các vật chứng còn lại hiện đang được bảo quản để xử lý theo quy định của pháp luật.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại anh Ma Khánh N sau khi nhận lại tài sản là chiếc xe mô tô còn nguyên vẹn, không yêu cầu phải bồi thường gì thêm. Anh Nguyễn Văn N2 yêu cầu B phải trả lại số tiền 500.000 đồng tiền mua xe mô tô, nhưng B chưa trả.
Ma Khánh B sau khi phạm tội đã ra đầu thú khai nhận hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, vật chứng thu giữ; phù hợp với biên bản, sơ đồ, bản ảnh khám nghiệm hiện trường và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Bản Cáo trạng số: 54/CT-VKSĐH, ngày 25/7/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố bị cáo Ma Khánh B về tội “Trộm cắp tài sản”, theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản Cáo trạng đã truy tố. Bị cáo khai bị cáo biết hành vi trộm cắp tài sản của bị cáo là vi phạm pháp luật, do không có tiền mua ma tuý sử dụng nên bị cáo đã trộm cắp chiếc xe mô tô của anh Ma Khánh N nhằm mục đích đem bán lấy tiền mua ma tuý sử dụng, hành vi trộm cắp do một mình bị cáo thực hiện.
Kết thúc phần xét hỏi, Kiểm sát viên giữ quyền công tố phát biểu quan điểm luận tội. Sau khi phân tích, đánh giá chứng cứ, tính chất, hành vi, hậu quả mà bị cáo gây ra, Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Ma Khánh B về tội danh và điều luật áp dụng, đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Ma Khánh B phạm tội: "Trộm cắp tài sản".
Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Ma Khánh B từ 30 đến 42 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam là ngày 18/5/2023.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự; các Điều 357,468, 584, 585, 589 Bộ luật dân sự. Buộc bị cáo Ma Khánh B phải hoàn trả cho anh Nguyễn Văn N2 số tiền 500.000 đồng.
Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tiêu huỷ: 01 áo sơ mi dài tay nhãn hiệu “TUẤN TÚ APOLLO”, màu tím, kích cỡ “L”, cũ đã qua sử dụng; 01 áo phông cộc tay nhãn hiệu “YODY”, màu xanh dương, kích cỡ “XL”, cũ đã qua sử dụng; 01 quần đùi không rõ nhãn hiệu, màu xám, kích cỡ “32”, kích thước (48x40)cm, cũ đã qua sử dụng của bị cáo B.
Về án phí: Áp dụng Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về án phí, lệ phí Tòa án, buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự theo quy định của pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên quyền kháng cáo đối với bản án.
Tại phiên toà bị cáo không có ý kiến tranh luận.
Trước khi Hội đồng xét xử nghị án, bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của của Cơ quan điều tra Công an huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh, điều luật truy tố: Tại phiên toà bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với chứng cứ trong hồ sơ vụ án. Như vậy có đủ cơ sở để khẳng định: Khoảng 12 giờ 30 phút, ngày 18/5/2023, tại xóm Trung Tâm, xã Phú Đình, huyện Định Hoá, tỉnh Thái Nguyên, Ma Khánh B đã thực hiện hành vi trộm cắp 01 xe mô tô nhãn hiệu AURIGA, màu sơn: nâu, BKS: 20L7-7776, có giá trị là: 2.300.000 đồng (Hai triệu ba trăm nghìn đồng) của anh Ma Khánh N. Sau khi trộm cắp được xe mô tô, B đã mang đến nhà anh Nguyễn Văn N2 tại xóm Quyết Tâm, xã Trung Lương, huyện Định Hóa và bán cho Nam với số tiền 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng). Số tiền này B mua ma túy sử dụng hết.
Quá trình điều tra xác định: Tại bản án số: 42/HSST ngày 29/11/2018 của Tòa án nhân dân huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên, xử phạt Ma Khánh B 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” bị cáo chấp hành xong bản án ngày 08/01/2020, chưa được xóa án tích, bị cáo tiếp tục có hành vi phạm tội nên tại bản án số: 93/HSST ngày 28/9/2020 của Tòa án nhân dân huyện Sơn Dương, Tuyên Quang đã áp dụng tình tiết “Tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự, xử phạt Ma Khánh B 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, bản án này bị cáo mới chấp hành xong ngày 15/10/2021. Bị cáo chưa được xóa án tích, lần phạm tội này là tái phạm nguy hiểm.
Hành vi của bị cáo trộm cắp xe mô tô của anh Ma Khánh N đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy địunh tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Điều 173.Tội trộm cắp tài sản.
“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”:
a......
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:
g) Tái phạm nguy hiểm.”
Bản cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Định Hoá, tỉnh Thái Nguyên truy tố bị cáo về tội danh và điều luật viện dẫn ở trên và lời luận tội của Kiểm sát viên tại phiên toà đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
[3] Về nhân thân, tính chất, mức độ và hành vi phạm tội: Bị cáo là người trưởng thành, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, nhưng thực hiện với lỗi cố ý. Hành vi bị cáo đã thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm hại đến quyền chiếm hữu, sử dụng tài sản của công dân, đi ngược lại công cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm của toàn xã hội, đã xâm phạm đến các điều cấm được Bộ luật hình sự bảo vệ. Hành vi bị cáo đã thực hiện phải được xử lý bằng pháp luật hình sự.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo "Thành khẩn khai báo". Do đó, bị cáo được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Ngoài ra, bố của bị cáo là người có công lao trong công cuộc kháng chiến chống Mỹ, được Nhà nước tặng thưởng Huy chương; sau khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo ra đầu thú; Vỳ vậy, bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.
[5] Về hình phạt áp dụng đối với bị cáo: Căn cứ vào nhân thân, tính chất của vụ án và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, thấy rằng bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, bị cáo đã bị Toà án kết án, xử phạt với mức án nghiêm khắc, nhưng bị cáo không chịu tu dưỡng để trở thành người công dân lương thiện, ngược lại, sau khi chấp hành xong hình phạt tù trở về địa phương, bị cáo tiếp tục sử dụng và nghiện ma tuý, tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội, điều đó thể hiện ý thức coi thường pháp luật của bị cáo. Do vậy, để đảm bảo phòng chống tội phạm tại địa phương trong tình hình hiện nay có diễn biến phức tạp, cần cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại anh Ma Khánh N sau khi nhận lại tài sản là chiếc xe mô tô còn nguyên vẹn, không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm. Anh Nguyễn Văn N2 yêu cầu B phải trả lại số tiền 500.000 đồng tiền mua xe mô tô, nhưng B chưa trả, nay cần buộc bị cáo B phải hoàn trả số tiền trên cho anh N2.
[7] Về vật chứng của vụ án: 01 áo sơ mi dài tay nhãn hiệu “TUẤN TÚ APOLLO”, màu tím, kích cỡ “L”, cũ đã qua sử dụng; 01 áo phông cộc tay nhãn hiệu “YODY”, màu xanh dương, kích cỡ “XL”, cũ đã qua sử dụng; 01 quần đùi không rõ nhãn hiệu, màu xám, kích cỡ “32”, kích thước (48x40)cm, cũ đã qua sử dụng bị cáo sử dụng khi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, nay không còn giá trị sử dụng, bị cáo không yêu cầu được lấy lại cần tiêu huỷ.
[8] Trong vụ án này anh Nguyễn Văn N2 là người đã mua chiếc xe mô tô nhãn hiệu AURIGA, màu sơn: nâu, BKS: 20L7-7776 là tài sản Ma Khánh B trộm cắp, do anh N2 khi mua không biết chiếc xe mô tô do B trộm cắp mà có nên hành vi không cấu thành tội phạm.
[9] Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự theo quy định của pháp luật. Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
[10] Xét đề nghị của vị Kiểm sát viên tại phiên tòa về tội danh, điều luật áp dụng hình phạt tù, và các vấn đề khác là phù hợp.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ Điều 326 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Ma Khánh B phạm tội: "Trộm cắp tài sản".
- Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự; Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự. Xử phạt bị cáo Ma Khánh B 36 (ba mươi sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam bị cáo là ngày 18/5/2023. Quyết định tạm giam bị cáo 45 (Bốn mươi lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
- Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự; các Điều 357,468, 584, 585, 589 Bộ luật dân sự. Nghị quyết số 01/2019/NQ - HĐTP, ngày 11 tháng 01 năm 2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số qui định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm.
Buộc bị cáo Ma Khánh B phải bồi hoàn cho anh Nguyễn Văn N2 số tiền 500.000 đồng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi xuất quy định tại Điều 357, Điều 468 của bộ luật dân sự năm 2015.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tiêu huỷ: 01 áo sơ mi dài tay nhãn hiệu “TUẤN TÚ APOLLO”, màu tím, kích cỡ “L”, cũ đã qua sử dụng; 01 áo phông cộc tay nhãn hiệu “YODY”, màu xanh dương, kích cỡ “XL”, cũ đã qua sử dụng; 01 quần đùi không rõ nhãn hiệu, màu xám, kích cỡ “32”, kích thước (48x40)cm, cũ đã qua sử dụng của bị cáo Ma Khánh B. (Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng ngày 01/8/2023 giữa Công an huyện Định Hoá và Chi cục thi hành án dân sự huyện Định Hoá).
- Về án phí và quyền kháng cáo: Áp dụng các Điều 135; 136; 331; 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Ma Khánh B phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng án phí dân sự sung quỹ nhà nước.
Án xử công khai sơ thẩm, có mặt bị cáo, bị hại; Báo cho biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; báo cho biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Hoàng Văn Kiểm |
Bản án số 51/2023/HS-ST ngày 21/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH HÓA, TỈNH THÁI NGUYÊN về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 51/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/08/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH HÓA, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án
