Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH TÂY NINH
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 51/2025/DS-ST

Ngày: 11-12-2025

V/v: “Tranh chấp chia tài sản chung,
yêu cầu tuyên vô hiệu di chúc”.


NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phùng Thị Cẩm Hồng

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Thủy

2. Ông Võ Văn Cẩm

Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Huỳnh Nhã Mi - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên toà: Ông Huỳnh Phạm Khánh - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Tây Ninh mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 56/2025/TLST-DS ngày 20 tháng 10 năm 2025 về việc “Tranh chấp chia tài sản chung, yêu cầu tuyên vô hiệu di chúc”.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 45/2025/QĐXXST-DS ngày 12 tháng 11 năm 2025, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Võ Thị Lệ T, sinh năm 1943.

Địa chỉ: số B ấp B, xã B, huyện T, tỉnh Long An (nay là ấp B, xã T, tỉnh Tây Ninh).

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Đặng Văn T1, sinh năm 1981. Địa chỉ: ấp P, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai (nay là ấp P, xã P, tỉnh Đồng Nai). (Theo Văn bản ủy quyền ngày 25/01/2024). (có mặt)

2. Bị đơn: Ông Nguyễn Ngọc D, sinh năm 1980.

Địa chỉ: số E ấp B, xã B, huyện T, tỉnh Long An (nay là ấp B, xã T, tỉnh Tây Ninh). (có mặt)

Người đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Thị Trúc H, sinh năm 1987

Địa chỉ: số E ấp B, xã B, huyện T, tỉnh Long An (nay là ấp B, xã T, tỉnh Tây Ninh). (có mặt)

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

3.1. Bà Nguyễn Thị Kim C, sinh năm 1970.

Địa chỉ: số A ấp B, xã B, huyện T, tỉnh Long An (nay là ấp B, xã T, tỉnh Tây Ninh).

3.2. Ông Nguyễn Ngọc H1, sinh năm 1976.

Địa chỉ: số B ấp B, xã B, huyện T, tỉnh Long An (nay là ấp B, xã T, tỉnh Tây Ninh).

3.3. Bà Nguyễn Thị Kim O, sinh năm 1979.

Địa chỉ: số G T, Phường A, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là phường P, Thành phố Hồ Chí Minh).

3.4. Ông Nguyễn Ngọc G, sinh năm 1981.

Địa chỉ: Tổ A xã T, huyện T, tỉnh Đồng Nai (nay là xã T, tỉnh Đồng Nai).

3.5. Ông Nguyễn Quốc L, sinh năm 1988.

Địa chỉ: khu phố B, thị trấn V, huyện V, tỉnh Long An (nay là khu phố B, xã V, tỉnh Tây Ninh).

Người đại diện theo ủy quyền của bà C, ông H1, bà O, ông G, ông L: Ông Đặng Văn T1, sinh năm 1981. Địa chỉ: ấp P, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai (Theo các Văn bản ủy quyền cùng ngày 08/5/2025). (có mặt)

3.6. Bà Nguyễn Thị Kiều G1, sinh năm 1985.

Địa chỉ: khu phố B, thị trấn V, huyện V, tỉnh Long An (nay là khu phố B, xã V, tỉnh Tây Ninh). (có mặt)

3.7. Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1966.

Địa chỉ: số B Pecen S G, WI E, USA. (vắng mặt)

3.8. Ủy ban nhân dân xã B, huyện T, tỉnh Long An (nay là Ủy ban nhân dân xã T, tỉnh Tây Ninh. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn bà Võ Thị Lệ T có người đại diện theo ủy quyền ông Đặng Văn T1 trình bày như sau:

Ông Nguyễn Văn L1 (sinh năm 1945, đã chết ngày 27/5/2023) và bà Võ Thị Lệ T sống chung năm 1964 có đăng ký kết hôn, có tất cả 07 người con chung gồm: Nguyễn Thị Kim C, Nguyễn Ngọc H1, Nguyễn Thị Kim O, Nguyễn Ngọc G, Nguyễn Ngọc D, Nguyễn Thị N, Nguyễn Ngọc T2 (đã chết, có con là Nguyễn Thị Kiều G1 và Nguyễn Quốc L). Ngoài ra, ông L1 và bà N1 không còn con chung hay con riêng nào khác.

Trong quá trình chung sống, ông L1 và bà T tạo lập được khối tài sản gồm 06 thửa đất gồm:

  1. Thửa đất số 83, tờ bản đồ số 14, diện tích giấy chứng nhận 245,8m², (đã tách thành 02 thửa 170, 171). Bà T không tranh chấp đối với thửa 170 vì thửa 170 hiện nay đã bán, bà T chỉ yêu cầu chia tài sản chung đối với thửa mới 171, diện tích đo đạc thực tế 139,3m²), loại đất ONT tọa lạc tại xã B, huyện T, tỉnh Long An (nay là xã B, tỉnh Tây Ninh) theo GCN QSDĐ số BD 794031 do UBND huyện T cấp ngày 30/10/2010 cho ông Nguyễn Văn L1.
  2. Thửa đất số 30, tờ bản đồ số 30, diện tích giấy chứng nhận 781,3m², (diện tích đo đạc thực tế 734,1 m²) loại đất ONT tọa lạc tại xã B, huyện T, tỉnh Long An (nay là xã B, tỉnh Tây Ninh) theo GCN QSDĐ /số BD 794030 do UBND huyện T cấp ngày 30/10/2010 cho ông Nguyễn Văn L1.
  3. Thửa đất số 31, tờ bản đồ số 30, diện tích giấy chứng nhận 2.558,4m², (diện tích đo đạc thực tế 2.489,2m²), loại đất NTS tọa lạc tại xã B, huyện T, tỉnh Long An (nay là xã B, tỉnh Tây Ninh) theo GCN QSDĐ số BD 794029 do UBND huyện T cấp ngày 30/10/2010 cho ông Nguyễn Văn L1.
  4. Thửa đất số 391, tờ bản đồ số 26, diện tích giấy chứng nhận 7000,5m², (diện tích đo đạc thực tế 6791,7m²), loại đất LUA tọa lạc tại xã B, huyện T, tỉnh Long An (nay là xã B, tỉnh Tây Ninh) theo GCN QSDĐ số BD 794028 do UBND huyện T cấp ngày 30/10/2010 cho ông Nguyễn Văn L1.
  5. Thửa đất số 29, tờ bản đồ số 30, diện tích giấy chứng nhận 3511,7m², (diện tích đo đạc thực tế 3.373,4m²) loại đất HNK, tọa lạc tại xã B, huyện T, tỉnh Long An (nay là xã B, tỉnh Tây Ninh) theo GCN QSDĐ số BD 794027 do UBND huyện T cấp ngày 30/10/2010 cho ông Nguyễn Văn L1.
  6. Thửa đất số 64, tờ bản đồ số 30, diện tích giấy chứng nhận 966,4m2, (diện tích đo đạc thực tế 1.076,1m²) loại đất NTS, tọa lạc tại xã B, huyện T, tỉnh Long An (nay là xã B, tỉnh Tây Ninh) theo GCN QSDĐ số BD 794026 do UBND huyện T cấp ngày 30/10/2010 cho ông Nguyễn Văn L1.

Toàn bộ các quyền sử dụng đất trên hiện nay ông L1 vẫn đang đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ngày 30/12/2018, ông Nguyễn Văn L1 lập di chúc phân chia toàn bộ các QSDĐ trên cho tất cả các con, di chúc được chứng thực tại Ủy ban nhân dân xã B ngày 16/01/2019, chỉ có một mình ông L1 ký tên, không có ý kiến và chữ ký cũng như sự đồng ý của bà T. Bà T không hề biết đến di chúc đến khi ông L1 chết.

Ngày 27/5/2023, ông L1 chết. Bị đơn ông Nguyễn Ngọc D quản lý, sử dụng thửa đất được ông L1 chia theo di chúc. Việc ông L1 lập di chúc định đoạt toàn bộ tài sản chung của vợ chồng đã xâm phạm trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của bà T cũng như những người con khác, gây mất đoàn kết trong nội bộ gia đình vì ông D được chia hầu như toàn bộ tài sản có giá trị.

Tại đơn khởi kiện đề ngày 23/11/2013, bà T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:

  1. Hủy di chúc do ông Nguyễn Văn L1 lập ngày 30/12/2018, được chứng thực tại Ủy ban nhân dân xã B ngày 16/01/2019.
  2. Chia tài sản chung của ông Nguyễn Văn L1 và bà Võ Thị Lệ T trong thời kỳ hôn nhân đối với các quyền sử dụng đất sau: thửa đất số 64, diện tích đo đạc thực tế 1.076,1m², thửa đất số 29, diện tích đo đạc thực tế 3.373,4m², thửa đất số 31, diện tích đo đạc thực tế 2.489,2m², thửa đất số 30, diện tích đo đạc thực tế 734,1 m², các thửa đất cùng tờ bản đồ số 30; thửa đất số 391, tờ bản đồ số 26, diện tích đo đạc thực tế 6791,7m², thửa đất số 83 (nay là thửa 171) diện tích đo thực tế 139,3m², tờ bản đồ số 14 . Toàn bộ các thửa đất cùng tọa lạc tại xã B, huyện T, tỉnh Long An (nay là xã B, tỉnh Tây Ninh). Tổng diện tích yêu cầu chia theo giấy chứng nhận quyền là 7.548,4m². Bà T yêu cầu nhận tài sản bằng hiện vật.
  3. Chia thừa kế theo pháp luật đối với phần di sản của ông Nguyễn Văn L1 được hưởng là ½ quyền sử dụng đất và tài sản nêu trên, với 1 kỷ phần có diện tích là 943,55m². Bà T cũng yêu cầu được nhận kỷ phần thừa kế bằng hiện vật.

Ngày 10/5/2025, bà T có Đơn xin rút một phần yêu cầu khởi kiện, Chia thừa kế theo pháp luật đối với phần di sản của ông Nguyễn Văn L1 được hưởng là ½ quyền sử dụng đất và tài sản nêu trên, với 1 kỷ phần có diện tích là 943,55m². Bà T cũng yêu cầu được nhận kỷ phần thừa kế bằng hiện vật, xác định chỉ yêu cầu:

  1. Yêu cầu tuyên di chúc do ông Nguyễn Văn L1 lập ngày 30/12/2018 được chứng thực tại UBND xã B vô hiệu.
  2. Chia 1/2 tài sản chung của ông Nguyễn Văn L1 và bà Võ Thị Lệ T trong thời kỳ hôn nhân đối với các quyền sử dụng đất số: 64, 29, 30, 31 tờ bản đồ số: 30; Thửa đất số: 391 tờ bản đồ: 26; Thửa đất số: 171, tờ bản đồ: 14, cùng tọa lạc tại địa chỉ: xã B, huyện T, tỉnh Long An (nay là xã B, tỉnh Tây Ninh).

Hiện nay thửa đất 171 do ông Nguyễn Ngọc D đang quản lý, sử dụng và 1 phần thửa đất 391 diện tích 5.000m² ông D đang quản lý, sử dụng. Các thửa đất 29, 30, 31, 64, và 1 phần thửa đất 391 diện tích còn lại do ông Nguyễn Ngọc H1 và bà T đang trực tiếp quản lý, sử dụng.

Bị đơn ông Nguyễn Ngọc D trình bày:

Cha ông là Nguyễn Văn L1 (sinh năm 1945, đã chết vào ngày 27/5/2023) và bà Võ Thị Lệ T có tất cả 07 người con chung gồm: Nguyễn Thị Kim C, Nguyễn Ngọc H1, Nguyễn Thị Kim O, Nguyễn Ngọc G, Nguyễn Ngọc D, Nguyễn Thị N, Nguyễn Ngọc T2 (đã chết, có con là Nguyễn Thị Kiều G1 và Nguyễn Quốc L). Ngoài ra, không còn con nuôi hay con riêng nào khác. Khi còn sống, ông L1 được cha mẹ tặng cho riêng khối tài sản gồm:

  1. Thửa đất số 83, tờ bản đồ số 14, diện tích 245,8m², loại đất ONT tọa lạc tại xã B, huyện T, tỉnh Long An (nay là xã B, tỉnh Tây Ninh) theo GCN QSDĐ số BD 794031 do UBND huyện T cấp ngày 30/10/2010 cho ông Nguyễn Văn L1. Sau đó, thừa 83 đã tách thành thửa 170, 171. Thửa 170 trước đây ông L1 đã tặng cho vợ chồng tôi, hiện nay đã bán cho người khác. Thửa 171 tôi đang quản lý sử dụng để thờ cúng ông L1. Trên đất có 01 căn nhà cấp 4 do ông L1 xây cất tử khoảng năm 2007.
  2. Thửa đất số 30, tờ bản đồ số 30, diện tích 781,3m², (diện tích đo đạc thực tế 734,1 m²) loại đất ONT tọa lạc tại xã B, huyện T, tỉnh Long An (nay là xã B, tỉnh Tây Ninh) theo GCN QSDĐ số BD 794030 do UBND huyện T cấp ngày 30/10/2010 cho ông Nguyễn Văn L1. Hiện nay ông Nguyễn Ngọc H1 đang quản lý sử dụng.
  3. Thửa đất số 31, tờ bản đồ số 30, diện tích 2.558,4m², (diện tích đo đạc thực tế 2.489,2m²), loại đất NTS tọa lạc tại xã B, huyện T, tỉnh Long An (nay là xã B, tỉnh Tây Ninh) theo GCN QSDĐ số BD 794029 do UBND huyện T cấp ngày 30/10/2010 cho ông Nguyễn Văn L1. Hiện nay ông Nguyễn Ngọc H1 đang quản lý sử dụng.
  4. Thửa đất số 391, tờ bản đồ số 26, diện tích 7.000,5m², (diện tích đo đạc thực tế 6791,7m²), loại đất LUA tọa lạc tại xã B, huyện T, tỉnh Long An (nay là xã B, tỉnh Tây Ninh) theo GCN QSDĐ số BD 794028 do UBND huyện T cấp ngày 30/10/2010 cho ông Nguyễn Văn L1. Hiện nay tôi đang quản lý sử dụng diện tích khoảng 5000m² còn khoảng 2000m² do Nguyễn Ngọc H1 đang canh tác.
  5. Thửa đất số 29, tờ bản đồ số 30, diện tích 3511,7m², (diện tích đo đạc thực tế 3.373,4m²) loại đất HNK tọa lạc tại xã B, huyện T, tỉnh Long An (nay là xã B, tỉnh Tây Ninh) theo GCN QSDĐ số BD 794027 do UBND huyện T cấp ngày 30/10/2010 cho ông Nguyễn Văn L1. Hiện nay ông Nguyễn Ngọc H1 đang quản lý sử dụng.
  6. Thửa đất số 64, tờ bản đồ số 30, diện tích 966,4m², (diện tích đo đạc thực tế 1.076,1m²) loại đất NTS tọa lạc tại xã B, huyện T, tỉnh Long An (nay là xã B, tỉnh Tây Ninh) theo GCN QSDĐ số BD 794026 do UBND huyện T cấp ngày 30/10/2010 cho ông Nguyễn Văn L1. Hiện nay ông Nguyễn Ngọc H1 đang quản lý sử dụng.

Toàn bộ các quyền sử dụng đất hiện nay ông L1 vẫn đang đứng tên giấy chứng nhận QSDĐ được cấp giấy lần đầu vào năm 1996, cấp đổi năm 2008 và 2010.

Ngày 30/12/2018, ông Nguyễn Văn L1 lập di chúc phân chia toàn bộ các QSDĐ cho tất cả các con, di chúc được chứng thực tại Ủy ban nhân dân xã B ngày 16/01/2019.

Trước yêu cầu khởi kiện của bà T, ông D không đồng ý toàn bộ, vì các thửa đất này ông D cho rằng đều là tài sản riêng của cha ông là ông Nguyễn Văn L1 nên cha ông có quyền tự định đoạt với các tài sản này. Ông D được cha ông chia phần nhiều tài sản vì ông là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc ông L1 khi ông L1 còn sống. Bà T đã bỏ đi, không chung sống với ông L1 từ khoảng năm 1996, không quan tâm, chăm sóc cũng như nuôi dưỡng ông L1. Di chúc của ông L1 là hợp pháp nên ông D đồng ý tiếp tục thực hiện theo di chúc của ông Nguyễn Văn L1 lập ngày 30/12/2018 được chứng thực tại Ủy ban nhân dân xã B ngày 16/01/2019. Ngoài ra, ông D xác định không tranh chấp gì trong vụ án này, cũng như không yêu cầu chia thừa kế.

Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị Kim C, Nguyễn Ngọc H1, Nguyễn Thị Kim O, Nguyễn Ngọc G, Nguyễn Thị Kiều G1 và Nguyễn Quốc L có người đại diện theo ủy quyền ông Đặng Văn T1 trình bày:

Các ông bà thống nhất với lời trình bày của bà Võ Thị Lệ T về quan hệ hôn nhân và những người thừa kế, cũng như tài sản chung của ông Nguyễn Văn L1 và bà Võ Thị Lệ T.

Việc ông Nguyễn Văn L1 lập Di chúc ngày 30/12/2018 có chứng thực tại Ủy ban nhân dân xã B ngày 16/01/2019 để phân chia tài sản cho các con trong gia đình thì các ông bà không hề biết. Chỉ đến khi ông L1 chết, ông D mới đưa ra cho cả nhà xem.

Các ông, bà đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà T và không yêu cầu chia di sản thừa kế của ông L1 chết để lại trong vụ án này và cũng không tranh chấp gì trong vụ án này.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị N hiện cư trú tại Mỹ đã có văn bản từ chối nhận di sản thừa kế (có hợp thức hóa lãnh sự) trình bày: Bà là con ruột và là người thừa kế thuộc hàng thừa kế thứ nhất theo pháp luật của ông Nguyễn Văn L1 (sinh năm 1945, đã chết vào ngày 27/5/2023). Di sản mà bà N được thừa kế là bao gồm tất cả các di sản mà ông Nguyễn Văn L1 để lại. Nay bằng văn bản này bà N tự nguyện tuyên bố từ chối nhận toàn bộ phần di sản mà bà được thừa kế theo pháp luật từ ông Nguyễn Văn L1 (trong đó di sản thừa kế mà bà từ chối bao gồm luôn cả tài sản gắn liền trên đất nếu có).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ủy ban nhân dân xã B có ý kiến tại Công văn 211/CV-UBND ngày 19/4/2024 như sau: Ý kiến đối với vụ án: Vào ngày 16/01/2019, ông Nguyễn Văn L1 có đến UBND xã B yêu cầu chứng thực di chúc do ông L1 tự lập và viết tay, Công chức tư pháp hộ tịch - chứng thực tiếp nhận và có giải thích cho ông L1 biết về quyền sử dụng đất và tài sản hiện tại ông L1 đứng tên là tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân của ông L1 và bà T, ông L1 chỉ được ½ tài sản nhưng ông L1 trình bày hiện tại ông và bà T có mâu thuẫn chuyện tình cảm vợ chổng nên đã ly thân từ lâu, việc cùng nhau xác lập di chúc là không thể. Ông yêu cầu chứng thực di chúc do ông lập, phần còn lại của bà T sau này gia đình tự thỏa thuận.

Ủy ban nhân dân xã B, huyện T, tỉnh Long An (nay là Ủy ban nhân dân xã T, tỉnh Tây Ninh) xin vắng mặt không tham gia tố tụng. Đề nghị, Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh giải quyết vụ án chia tài sản chung và chia thừa kế là quyền sử dụng đất, yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu giữa nguyên đơn bà Võ Thị Lệ T với bị đơn ông Nguyễn Ngọc D theo quy định của pháp luật.

Ngoài ra, trong suốt quá trình giải quyết các đương sự đã được Tòa án giải thích về và nghĩa vụ của các bên. Tuy nhiên, các đương sự thống nhất không ai có tranh chấp gì và ý kiến gì thêm trong vụ án nếu có ảnh hưởng về quyền lợi thì sẽ yêu cầu giải quyết bằng một vụ án khác.

Tại phiên tòa: Các đương sự đã thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án.

Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh đề nghị:

- Về thủ tục: Người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự tại Tòa án cấp sơ thẩm.

- Về nội dung: Xét thấy, tại phiên tòa sơ thẩm các đương sự đã tự nguyện thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án. Việc thỏa thuận này không trái với đạo đức xã hội, không vi phạm điều cấm của pháp luật, nên đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận. Căn cứ Điều 246 của Bộ luật Tố tụng dân sự, công nhận sự tự nguyện thỏa thuận của các bên đương sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn bà Võ Thị Lệ T yêu cầu Tòa án tuyên di chúc do ông Nguyễn Văn L1 lập ngày 30/12/2018 được chứng thực tại UBND xã B, huyện T, tỉnh Long An (nay là UBND xã T, tỉnh Tây Ninh) vô hiệu và chia tài sản chung của ông Nguyễn Văn L1 và bà Võ Thị Lệ T trong thời kỳ hôn nhân đối với các quyền sử dụng đất tại các thửa đất 64, 29, 30, 31 thuộc tờ bản đồ số 30; thửa đất số 391 thuộc tờ bản đồ số 26; thửa đất số 171, thuộc tờ bản đồ số 14, cùng tọa lạc tại địa chỉ: xã B, huyện T, tỉnh Long An (nay là xã B, tỉnh Tây Ninh). Do đó, Tòa án xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là “Tranh chấp chia tài sản chung, yêu cầu tuyên vô hiệu di chúc”. Ngoài ra, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1966. Địa chỉ: số B Pecen S G, WI E, USA. Căn cứ Điều 26, khoản 4 Điều 34, Điều 37 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết sơ thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.

[1.2] Việc vắng mặt của đương sự: Bà Nguyễn Thị N và Ủy ban nhân dân xã T, tỉnh Tây Ninh vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt phù hợp theo quy định tại Điều 296 của Bộ luật tố Tụng dân sự, nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt những người này.

[1.3] Ngày 10/05/2025, nguyên đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện về việc yêu cầu chia thừa kế theo pháp luật đối với di sản do ông Nguyễn Văn L1 chết để lại. Xét thấy, việc rút đơn của bà T là tự nguyện, không bị ai ép buộc và phù hợp với quy định của pháp luật tại Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận và Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu này của bà T.

[2] Về nội dung giải quyết vụ án: Xét thấy tại phiên tòa sơ thẩm: Các đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án. Cụ thể:

[2.1] Đồng ý tuyên di chúc do ông Nguyễn Văn L1 lập ngày 30/12/2018 được chứng thực tại UBND xã B vô hiệu.

[2.2] Người đại diện theo ủy quyền của bà Võ Thị Lệ T là ông Đặng Văn T1 xác định đồng ý giao cho ông Nguyễn Ngọc D ½ giá trị căn nhà tại thửa đất số 171, diện tích theo giấy chứng nhận là 245,8m2 diện tích đo đạc thực tế 139,3m², loại đất ONT tọa lạc tại xã B, huyện T, tỉnh Long An (nay là xã B, tỉnh Tây Ninh) là 1.200.000.000đồng và 600.000.000đồng tương ứng với 2000m² tại thửa đất số 391, tờ bản đồ số 26, diện tích theo giấy chứng nhận là 7.000,5m², (diện tích đo đạc thực tế 6791,7m²), loại đất LUA tọa lạc tại xã B, huyện T, tỉnh Long An (nay là xã B, tỉnh Tây Ninh). Tổng cộng phía bà T sẽ giao cho ông D là 1.800.000.000đồng. Thời hạn bà T hoàn trả tiền cho ông D là ngày 01/02/2026.

[2.3] Ông Nguyễn Ngọc D đồng ý để bà Võ Thị Lệ T quản lý, sử dụng và được quyền đứng tên toàn bộ các quyền sử dụng đất do cha ông là ông Nguyễn Văn L1 chết để lại gồm: Thửa đất số 64, diện tích theo giấy chứng nhận là 966,4m², diện tích đo thực tế là 1.076,1m²; thửa đất số 29, diện tích theo giấy chứng nhận là 3.511,7m², diện tích đo thực tế là 3.373,4m²; thửa đất số 31, diện tích theo giấy chứng nhận là 2.558,4 m², diện tích đo thực tế là 2.489,2m²; thửa đất số 30, diện tích theo giấy chứng nhận là 781,3m2, diện tích đo thực tế là 734,1m², các thửa đất này cùng tờ bản đồ số 30; thửa đất số 391, diện tích theo giấy chứng nhận là 7000,5m2, diện tích đo thực tế 6791,7m² tờ bản đồ số 26; thửa đất số 83 (nay thửa mới 171), diện tích theo giấy chứng nhận là 245,8m², diện tích đo thực tế là 139,3m², tờ bản đồ số 14 cùng tọa lạc tại địa chỉ: xã B, huyện T, tỉnh Long An (nay là xã B, tỉnh Tây Ninh); ngoài ra ông D xác định không tranh chấp gì khác.

[2.4] Ông Nguyễn Ngọc D đồng ý giao cho bà Võ Thị Lệ T toàn bộ tài sản trên đất và đất tại thửa đất số 83 (nay thửa mới 171), diện tích theo giấy chứng nhận là 245,8m², diện tích đo thực tế là 139,3m², tờ bản đồ số 14; và một phần thửa đất số 391, diện tích đo thực tế 5.000m² tờ bản đồ số 26; cùng tọa lạc tại địa chỉ: xã B, huyện T, tỉnh Long An (nay là xã B, tỉnh Tây Ninh) vì ông D đang quản lý, sử dụng. Thời gian để gia đình ông D được lưu cư ra khỏi nhà tại thửa đất số 83 (nay thửa mới 171), diện tích theo giấy chứng nhận là 245,8m2, diện tích đo thực tế là 139,3m², tờ bản đồ số 14 cùng tọa lạc tại địa chỉ: xã B, huyện T, tỉnh Long An (nay là xã B, tỉnh Tây Ninh) là đến ngày 01/3/2026.

[2.5] Về chi phí tố tụng (chi phí định giá tài sản, đo vẽ, xem xét thẩm định tại chỗ) tổng cộng số tiền là 66.365.000đồng, số tiền này bà T tự nguyện chịu toàn bộ, bà T đã nộp xong.

[2.6] Về án phí dân sự sơ thẩm: Các đương sự thỏa thuận chịu theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, bà Võ Thị Lệ T được miễn án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; ông Nguyễn Ngọc D phải chịu án phí theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.

[3] Xét thấy: Tại phiên tòa các bên đương sự đã tự nguyện thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án là tự nguyện, không bị ai ép buộc, không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội, nên Hội đồng xét xử căn cứ theo quy định tại Điều 246 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận của các đương sự.

[4] Phát biểu của Kiểm sát viên Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh là có căn cứ nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 5, Điều 26, Điều 35, Điều 37, Điều 39, Điều 147, Điều 246, Điều 272, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Căn cứ Điều 217, 218, Điều 219; khoản 2 Điều 357 của Bộ luật Dân sự năm 2015; căn cứ Điều 33, Điều 35, Điều 66 Luật Hôn nhân và gia đình 2014;

Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

  1. Ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận giữa bà Võ Thị Lệ T và ông Nguyễn Ngọc D về việc “Tranh chấp chia tài sản chung, yêu cầu tuyên vô hiệu di chúc” cụ thể như sau:
    1. Xác định di chúc do ông Nguyễn Văn L1 lập ngày 30/12/2018 được chứng thực tại UBND xã B vô hiệu.
    2. Bà Võ Thị Lệ T được quyền quản lý, sử dụng toàn bộ các quyền sử dụng đất và toàn bộ tài sản trên đất gồm: Thửa đất số 64, diện tích theo giấy chứng nhận là 966,4m2, diện tích đo thực tế là 1.076,1m²; thửa đất số 29, diện tích theo giấy chứng nhận là 3.511,7m², diện tích đo thực tế là 3.373,4m²; thửa đất số 31, diện tích theo giấy chứng nhận là 2.558,4 m², diện tích đo thực tế là 2.489,2m²; thửa đất số 30, diện tích theo giấy chứng nhận là 781,3m2, diện tích đo thực tế là 734,1m², các thửa đất này cùng tờ bản đồ số 30; thửa đất số 391, diện tích theo giấy chứng nhận là 7000,5m², diện tích đo thực tế 6791,7m² tờ bản đồ số 26; thửa đất số 83 (nay thửa mới 171), diện tích theo giấy chứng nhận là 245,8m2, diện tích đo thực tế là 139,3m², tờ bản đồ số 14 cùng tọa lạc tại địa chỉ: xã B, huyện T, tỉnh Long An (nay là xã B, tỉnh Tây Ninh). Các thửa đất này hiện tại do ông Nguyễn Văn L1 đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
    3. Buộc gia đình ông Nguyễn Ngọc D giao cho bà Võ Thị Lệ T thửa đất số 83 (nay thửa mới 171) cùng toàn bộ tài sản trên đất là nhà, diện tích theo giấy chứng nhận là 245,8m², diện tích đo thực tế là 139,3m², tờ bản đồ số 14; và một phần thửa đất số 391, diện tích đo thực tế 5.000m² tờ bản đồ số 26; cùng tọa lạc tại địa chỉ: xã B, huyện T, tỉnh Long An (nay là xã B, tỉnh Tây Ninh).

      Về quyền lưu cư: Gia đình ông Nguyễn Ngọc D được quyền lưu cư tại quyền sử dụng đất và nhà tại thửa đất số 83 (nay là thửa đất số 171) diện tích 139,3m², loại đất ONT, thuộc tờ bản đồ số 14 đất tọa lạc tại xã B, huyện T, tỉnh Long An (nay là xã B, tỉnh Tây Ninh) đến ngày 01/3/2025.

    4. Bà Võ Thị Lệ T được quyền liên hệ với cơ quan có thẩm quyền để đăng ký, kê khai, cấp, điều chỉnh giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và sở hữu tài sản gắn liền với đất theo quy định pháp luật. Văn phòng đăng ký đất đai, cơ quan Tài nguyên và Môi trường căn cứ vào bản án, quyết định của Tòa án để giải quyết điều chỉnh biến động hoặc cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phù hợp với kết quả giải quyết vụ án. Trường hợp bên phải thi hành án không giao nộp bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì bên được thi hành án được quyền yêu cầu cơ quan Nhà nước có thẩm quyền điều chỉnh, thu hồi, hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp (hoặc một phần diện tích trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp).

      (Vị trí, tứ cận, tờ bản đồ, loại đất tại các thửa đất trên theo Mảnh trích đo địa chính số 33-2025, Mảnh trích đo địa chính số 34-2025, Mảnh trích đo địa chính số 35-2025, M trích đo địa chính số 36-2025 và M trích đo địa chính số 37-2025 được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện T duyệt ngày 14/03/2025 đính kèm theo bản án).

    5. Buộc Võ Thị Lệ T có nghĩa vụ phải giao cho ông Nguyễn Ngọc Danh S tiền là 1.800.000.000đồng (một tỷ tám trăm triệu đồng). Thời hạn bà T giao tiền cho ông D là ngày 01/02/2026.
    6. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, bên có nghĩa vụ chậm thi hành sẽ phải chịu thêm khoản tiền lãi tính trên số tiền chậm trả theo quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự tương ứng với thời gian chưa thi hành án, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.
  2. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của bà Võ Thị Lệ T chia thừa kế theo pháp luật đối với phần di sản của ông Nguyễn Văn L1 được hưởng là ½ quyền sử dụng đất và tài sản nêu trên, với 1 kỷ phần thừa kế diện tích là 943,55m².
  3. Về chi phí tố tụng (chi phí định giá tài sản, đo vẽ, xem xét thẩm định tại chỗ) tổng cộng số tiền là tiền là 66.365.000đồng, số tiền này bà T tự nguyện chịu toàn bộ, bà T đã nộp xong.
  4. Về án phí dân sự sơ thẩm:
    1. Bà Võ Thị Lệ T được miễn án phí.
    2. Ông Nguyễn Ngọc D phải chịu án phí trên số tiền được hưởng là 66.000.000 đồng (sáu mươi sáu triệu đồng).
  5. Về quyền kháng cáo và thời hạn kháng cáo: Các đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt bản án hợp lệ theo quy định của pháp luật.
  6. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND Tối Cao tại TP Hồ Chí Minh;
  • - VKSND tỉnh Tây Ninh;
  • - THADS tỉnh Tây Ninh;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: VT; hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




Phùng Thị Cẩm Hồng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 51/2025/DS-ST ngày 11/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH về tranh chấp chia tài sản chung, yêu cầu tuyên vô hiệu di chúc

  • Số bản án: 51/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp chia tài sản chung, yêu cầu tuyên vô hiệu di chúc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/12/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ghi nhận thỏa thuận
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger