|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - HƯNG YÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 51/2025/HS-ST
Ngày 04/12/2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - HƯNG YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đồng Ngọc Huyền.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trần Văn Hiểu.
Ông Phạm Mã Siêu.
- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Khánh Ly - Thư ký Tòa án án nhân dân khu vực 6 - Hưng Yên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Hưng Yên tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Duyên - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 6 - Hưng Yên xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 36/2025/HSST ngày 06/11/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 43/2025/QĐXXST-HS ngày 07/11/2025, Quyết định hoãn phiên tòa số: 12/HSST-QĐ ngày 21/11/2025, đối với các bị cáo:
- Bị cáo Nguyễn Văn N; Sinh ngày: 01/6/1980 tại xã Đ, tỉnh Hưng Yên. Nơi cư trú: thôn T, xã Đ, tỉnh Hưng Yên; Căn cước công dân số: [...]; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 1/12; Con ông Nguyễn Văn N1 (đã chết) và bà Đặng Thị H (đã chết); bị cáo có vợ là chị Ngô Thị T, sinh năm 1980 và có 3 con, lớn nhất sinh năm 2001, nhỏ nhất sinh năm 2019; Nhân thân: Không; Tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 24/8/2025, đến ngày 02/9/2025 thay thế bằng biện pháp C đi khỏi nơi cư trú tại xã Đ, tỉnh Hưng Yên (có mặt).
- Bị cáo Nguyễn Bá T1; Sinh ngày: 01/11/1998 tại xã Đ, tỉnh Hưng Yên; Nơi cư trú: thôn T, xã Đ, tỉnh Hưng Yên. Căn cước công dân số: [...]; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Con ông Nguyễn Văn H1 và bà B Lê Thị T2; bị cáo có vợ là chị Đặng Thị P, sinh năm 1999 và có 2 con, lớn nhất sinh năm 2020, nhỏ nhất sinh năm 2023; Nhân thân: Không; Tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 24/8/2025, đến ngày 02/9/2025 thay thế bằng biện pháp C đi khỏi nơi cư trú tại xã Đ, tỉnh Hưng Yên (có mặt).
- Bị cáo Bùi Văn N2; Sinh ngày: 03/02/1964 tại xã Đ, tỉnh Hưng Yên; Nơi cư trú: thôn T, xã Đ, tỉnh Hưng Yên; Căn cước công dân số: [...]; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 7/12; Con ông Bùi Ngọc C1 (đã chết) và bà Nguyễn Thị S (đã chết); bị cáo có vợ là bà Cao Thị T3 (đã chết) và có 2 con, lớn nhất sinh năm 1986, nhỏ nhất sinh năm 1989; Nhân thân: Từ năm 1982 đến năm 1985, tham gia nghĩa vụ quân sự tại Lữ đoàn 126 Hải Phòng, sau đó xuất ngũ về địa phương. Tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 24/8/2025, đến ngày 02/9/2025 thay thế bằng biện pháp C đi khỏi nơi cư trú tại xã Đ, tỉnh Hưng Yên (có mặt).
- Bị cáo Bùi Văn T4; Sinh ngày: 25/3/1995 tại xã Đ, tỉnh Hưng Yên; Nơi cư trú: thôn Đ, xã Đ, tỉnh Hưng Yên; Căn cước công dân số: [...]; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Con ông Bùi Văn T5 và bà Đỗ Thị P1; bị cáo có vợ là chị Phan Thị Kim T6, sinh năm 2000 và có 1 con sinh năm 2019; Nhân thân: Từ năm 2015 đến 2016, tham gia nghĩa vụ quân sự tại Trung đoàn B, Sư đoàn C2, sau đó xuất ngũ về địa phương. Tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 24/8/2025, đến ngày 02/9/2025 thay thế bằng biện pháp C đi khỏi nơi cư trú tại xã Đ, tỉnh Hưng Yên (có mặt).
- Bị cáo Nguyễn Văn H2; Sinh ngày: 20/11/1990 tại xã Đ, tỉnh Hưng Yên; Nơi cư trú: thôn T, xã Đ, tỉnh Hưng Yên; Căn cước công dân số: [...]; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông Nguyễn Đ và bà Đặng Thị L; bị cáo có vợ là chị Hà Thị Quỳnh G, sinh năm 2005 và có 1 con sinh ngày 03/11/2025; Nhân thân: Không; Tiền sự: Không. Tiền án: 01 tiền án (Bản án số 26 ngày 07/8/2013 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình xử phạt 18 năm tù về tội giết người, bị cáo chưa được xóa án tích); bị cáo bị tạm giữ từ ngày 24/8/2025, đến ngày 02/9/2025 áp dụng biện pháp tạm giam. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 2, Công an tỉnh H; bị cáo được trích xuất, có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 09 giờ ngày 24/8/2025, bị cáo Nguyễn Văn N đang ở nhà tại thôn T, xã Đ thì bị cáo Bùi Văn N2 đến chơi, tiếp đó bị cáo Nguyễn Bá T1 đến và cùng ngồi uống nước. Sau đó các bị cáo N, N2 và T1 rủ nhau đánh bạc ăn tiền bằng hình thức đánh “Lốc”, bị cáo N lấy bộ bài tú lơ khơ 52 quân đã cũ ra và 3 người ngồi xuống chiếu tại phòng ngủ nhà bị cáo N đánh bạc. Các bị cáo thống nhất thể thức đánh bạc như sau: Trước mỗi ván chơi, từng người rút một lá bài bất kỳ, nếu ai có lá bài điểm cao nhất là người được chia bài và đánh quân đầu tiên. Mỗi người chơi được chia 10 lá bài, sau khi chơi đánh quân hoặc bộ đầu tiên thì mỗi lượt người tiếp theo tham gia đánh và phải đánh quân bài có số điểm lớn hơn hoặc bộ lớn hơn, cụ thể như: Đôi chặn đôi, “sảnh” chặn “sảnh” (“sảnh” là bộ quân bài theo thứ tự hàng dọc, ngang có thể là từ 3 quân trở lên); nếu người chơi tiếp theo không chặn được thì bỏ lượt; nếu tất cả đều bỏ lượt thì người đánh sẽ được quyền đánh ra bài mới. Khi người nào đánh hết bài của mình đầu tiên là người thắng ván, những người còn lại được xác định thua và phải trả cho người thắng tương ứng 5.000 đồng/1 quân bài còn cầm trên tay. Khi chia xong bài mỗi ván, nếu người cầm cái hoặc người chơi nào thấy bài mình mạnh, tức là có nhiều bộ quân bài lớn hoặc là bộ có số lượng quân bài nhiều thì có thể xin “Lốc”, tức là đề nghị đánh trước (hạ bài) một mình, sau đó nếu không có ai chặn được bài thì người thắng được hưởng của những người chơi còn lại số tiền 100.000 đồng/người; ngoài ra nếu xin “Lốc” thất bại (tức là bị người chơi khác chặn) thì người đó phải trả cho người bắt được “Lốc” số tiền 100.000đồng nhân với tổng số người chơi còn lại. Trong mỗi ván chơi, nếu ai bị “Lủng” bài (tức là không đánh ra được quân bài nào) thì phải trả cho người thắng 80.000 đồng.
Đến khoảng 10 giờ cùng ngày, bị cáo Nguyễn Văn H2 và bị cáo Bùi Văn T4 đến cùng tham gia đánh bạc, lúc này bị cáo N không chơi nữa mà để cho bị cáo T4 chơi thay vị trí của mình. Các bị cáo thống nhất nâng mức cá cược lên 10.000 đồng/1 lá bài, xin “Lốc” 130.000 đồng, bắt “Lốc” là 150.000 đồng, “Lủng” bài là 100.000 đồng. Những người trên tiếp tục đánh bạc đến khoảng 11 giờ 30 cùng ngày thì bị lực lượng Công an xã Đ phối hợp với Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh H phát hiện, bắt quả tang; thu tại chiếu bạc 1 bộ bài tú lơ khơ 52 quân, 1 chiếc chiếu cói và 5.320.000 đồng tiền Ngân hàng N3.
Trong quá trình điều tra, các bị cáo khai đã sử dụng số tiền vào việc đánh bạc ngày 24/8/2025 như sau: bị cáo Nguyễn Văn N sử dụng số tiền 1.300.000đồng, bị cáo Bùi Văn T4 sử dụng số tiền 1.300.000đồng, bị cáo Nguyễn Bá T1 sử dụng số tiền 1.130.000đồng, bị cáo Bùi Văn N2 sử dụng số tiền 1.000.000đồng và bị cáo Nguyễn Văn H2 sử dụng số tiền 600.000đồng. Tổng số tiền các bị cáo khai sử dụng vào mục đích đánh bạc là 5.330.000đồng. Trong quá trình đánh bạc, các bị cáo không nhớ thắng thua thế nào.
Cáo trạng số 09/CT-VKSKX ngày 04/11/2025, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Hưng Yên truy tố các bị cáo Nguyễn Văn N, Nguyễn Bá T1, Bùi Văn N2, Bùi Văn T4 và Nguyễn Văn H2 về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu.
Tại phiên toà, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Hưng Yên giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về tội danh:
Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn N, Nguyễn Bá T1, Bùi Văn N2, Bùi Văn T4 và Nguyễn Văn H2 phạm tội “Đánh bạc”.
- Về hình phạt:
- Áp dụng: Khoản 1, Khoản 3 Điều 321; điểm i, s Khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 50; Điều 58, Điều 65 Bộ luật Hình sự:
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn N từ 09 tháng đến 01 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 01 năm 6 tháng đến 02 năm, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Phạt bị cáo từ 10.000.000đồng đến 15.000.000đồng để sung vào ngân sách nhà nước.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Bá T1 từ 09 tháng đến 01 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 01 năm 6 tháng đến 02 năm, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Phạt bị cáo từ 10.000.000đồng đến 15.000.000 đồng để sung vào ngân sách nhà nước.
- Áp dụng: Khoản 1, Khoản 3 Điều 321; điểm i, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 38; Khoản 3 Điều 35; Điều 17; Điều 50; Điều 58, Điều 65 Bộ luật Hình sự:
- Xử phạt bị cáo Bùi Văn N2 từ 6 tháng đến 9 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 01 năm đến 01 năm 6 tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Phạt bị cáo từ 5.000.000đồng đến 7.000.000đồng để sung vào ngân sách nhà nước.
- Xử phạt bị cáo Bùi Văn T4 từ 6 tháng đến 9 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 01 năm đến 01 năm 6 tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Phạt bị cáo từ 5.000.000đồng đến 7.000.000đồng để sung vào ngân sách nhà nước.
- Áp dụng: Khoản 1, Khoản 3 Điều 321; điểm s Khoản 1 Điều 51; điểm h Khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 38; Khoản 3 Điều 35; Điều 50; Điều 58 Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H2 từ 6 tháng đến 9 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 24/8/2025. Phạt bị cáo từ 5.000.000 đồng đến 7.000.000 đồng để sung vào ngân sách nhà nước.
- Áp dụng: Khoản 1, Khoản 3 Điều 321; điểm i, s Khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 50; Điều 58, Điều 65 Bộ luật Hình sự:
- Giao các bị cáo Nguyễn Văn N, Nguyễn Bá T1, Bùi Văn N2, Bùi Văn T4 cho Ủy ban nhân dân xã Đ giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng: Điểm a Khoản 1 Điều 46; điểm a, b Khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, b, c Khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 5.320.000 đồng các bị cáo dùng để đánh bạc. Tịch thu tiêu hủy 01 chiếu cói và 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân.
- Về án phí: Các bị cáo Nguyễn Văn N, Nguyễn Bá T1, Bùi Văn T4, Nguyễn Văn H2 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định. Bị cáo Bùi Văn N2 là người cao tuổi được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
- Các bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định.
Các bị cáo đồng ý với tội danh mà Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Hưng Yên đã truy tố, không tranh luận gì.
Các bị cáo nói lời sau cùng: Các bị cáo rất ân hận về hành vi phạm tội của mình và xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Hưng Yên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Vì vậy, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là đúng quy định của pháp luật.
[2] Tại phiên toà, các bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã khai tại cơ quan điều tra, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Lời khai của các bị cáo là chứng cứ kết tội lẫn nhau, ngoài ra còn được chứng minh bằng các chứng cứ như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh H lập hồi 12 giờ 30 ngày 24/8/2025 tại Công an xã Đ, tỉnh Hưng Yên; Biên bản tạm giữ tài sản, đồ vật, tài liệu; Biên bản niêm phong đồ vật tài liệu tạm giữ; Bản Kết luận giám định số 1180 ngày 16/9/2025 của Phòng K Công an tỉnh H, kết luận 61 tờ tiền gửi giám định là tiền thật. Cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 24/8/2025, tại nhà ở của bị cáo Nguyễn Văn N. Các bị cáo Nguyễn Văn N, Bùi Văn T4, Nguyễn Bá T1, Bùi Văn N2 và Nguyễn Văn H2 đã có hành vi đánh bạc được thua bằng tiền dưới hình thức đánh “Lốc”; với tổng số tiền xác định sử dụng đánh bạc là 5.320.000 đồng. Bị cáo Nguyễn Văn N dùng chỗ ở của mình cho các bị cáo khác đánh bạc. Bị cáo Nguyễn Văn N sử dụng số tiền 1.300.000 đồng, bị cáo Bùi Văn T4 sử dụng số tiền 1.300.000 đồng, bị cáo Nguyễn Bá T1 sử dụng số tiền 1.130.000 đồng, bị cáo Bùi Văn N2 sử dụng số tiền 1.000.000 đồng và bị cáo Nguyễn Văn H2 sử dụng số tiền 600.000 đồng để đánh bạc.
[3] Do đó, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để kết luận các bị cáo đã phạm tội “Đánh bạc” theo quy định tại Khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Hưng Yên đã truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Điều 321. Tội Đánh bạc:
- Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm.
- Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.
...
[4] Xét tính chất mức độ hậu quả của vụ án thì thấy: Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự công cộng, đánh bạc là một tệ nạn xã hội, gây dư luận xấu trong nhân dân. Các bị cáo đã thực hiện hành vi sát phạt nhau bằng tiền, chiếm đoạt tài sản của nhau một cách bất hợp pháp, điều đó không chỉ thể hiện việc coi thường kỷ cương pháp luật, coi thường giá trị sức lao động của con người mà còn có thể là nguyên nhân phát sinh các tội phạm khác trong xã hội. Vì vậy, cần phải xử phạt các bị cáo mức án tương xứng với hành vi, phù hợp với tính chất, mức độ phạm tội của các bị cáo mới có tác dụng cải tạo, giáo dục các bị cáo và góp phần đấu tranh phòng ngừa tội phạm.
[5] Hành vi phạm tội của các bị cáo là đồng phạm giản đơn, cùng rủ nhau đánh bạc. Tuy nhiên tính chất, mức độ của hành vi phạm tội và nhân thân các bị cáo khác nhau do đó cần đánh giá để cá thể hóa trách nhiệm hình sự cho phù hợp với quy định của pháp luật.
[6] Bị cáo N và bị cáo T4 cùng sử dụng số tiền 1.300.000đồng vào việc đánh bạc, bị cáo N dùng chỗ ở của mình cho các bị cáo đánh bạc, bị cáo T1 sử dụng số tiền 1.130.000 đồng, tham gia đánh bạc từ đầu do đó bị cáo N và bị cáo T1 cùng giữ vai trò thứ nhất. Các bị cáo N2 sử dụng số tiền 1.000.000 đồng, cũng tham gia đánh bạc từ đầu; bị cáo T4 đến sau nhưng sử dụng số tiền đánh bạc là 1.300.000đồng; bị cáo H2 đến sau, sử dụng số tiền vào việc đánh bạc 600.000 đồng, ít nhất so với các bị cáo nhưng có 01 tiền án nên vai trò ngang với bị cáo N2, T4. Do các bị cáo đánh bạc sát phạt nhau bằng tiền nên cần phạt bổ sung các bị cáo một khoản tiền nhất định để sung vào ngân sách nhà nước, tuy nhiên, do các bị cáo lao động tự do, thu nhập không ổn định nên Hội đồng xét xử xem xét áp dụng mức phạt tiền thấp hơn khung hình phạt.
[7] Xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy:
[7.1] Các bị cáo Nguyễn Văn N, Nguyễn Bá T1, Bùi Văn N2, Bùi Văn T4 không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo Điều 52 Bộ luật hình sự. Các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm i, s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo Bùi Văn N2 và bị cáo Bùi Văn T4 có thời gian tham gia nghĩa vụ quân sự nên bị cáo N2 và bị cáo T4 được áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[7.2] Bị cáo Nguyễn Văn H2 quá trình điều tra và tại phiên tòa thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên bị cáo H2 có 01 tiền án về tội “Giết người” đã chấp hành xong hình phạt nhưng chưa được xóa án tích mà phạm tội nên bị áp dụng 01 tình tiết tăng nặng là tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Vì vậy cần thiết phải xử phạt tù giam bị cáo H2 một thời gian nhất định mới có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm.
[7.3] Các bị cáo Nguyễn Văn N, Nguyễn Bá T1, Bùi Văn N2, Bùi Văn T4 có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú rõ ràng, xét thấy không cần thiết cách ly các bị cáo khỏi xã hội nên áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự cho các bị cáo được hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Hưng Yên tại phiên tòa là phù hợp.
[8] Về vật chứng vụ án:
[8.1] Đối với số tiền 5.320.000 đồng các bị cáo sử dụng để đánh bạc nên áp dụng điểm a Khoản 1 điều 47 Bộ luật hình sự; căn cứ vào điểm a, b Khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
[8.2] Đối với 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân và 01 chiếu cói đây là công cụ các bị cáo dùng vào việc phạm tội, không còn giá trị sử dụng nên áp dụng điểm a Khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và căn cứ vào điểm a, b, c Khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu để tiêu hủy.
[9] Về án phí: Các bị cáo Nguyễn Văn N, Nguyễn Bá T1, Bùi Văn T4, Nguyễn Văn H2 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định. Bị cáo Bùi Văn N2 là người cao tuổi được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
[10] Các bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Văn N, Nguyễn Bá T1, Bùi Văn N2, Bùi Văn T4 và Nguyễn Văn H2 phạm tội “Đánh bạc”.
- Về hình phạt:
- Áp dụng: Khoản 1, Khoản 3 Điều 321; điểm i, s Khoản 1 Điều 51; Điều 38; Khoản 3 Điều 35; Điều 17; Điều 50; Điều 58, Điều 65 Bộ luật Hình sự:
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn N 9 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 (một) năm 6 (sáu) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 04/12/2025. Phạt bị cáo 7.000.000đồng để sung vào ngân sách nhà nước.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Bá T1 9 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 (một) năm 6 (sáu) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 04/12/2025. Phạt bị cáo 7.000.000đồng để sung vào ngân sách nhà nước.
- Áp dụng: Khoản 1, Khoản 3 Điều 321; điểm i, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 38; Khoản 3 Điều 35; Điều 17; Điều 50; Điều 58, Điều 65 Bộ luật Hình sự:
- Xử phạt bị cáo Bùi Văn N2 7 (bảy) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 (một) năm 02 (hai) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 04/12/2025. Phạt bị cáo 5.000.000đồng để sung vào ngân sách nhà nước.
- Xử phạt bị cáo Bùi Văn T4 7 (bảy) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 (một) năm 02 (hai) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 04/12/2025. Phạt bị cáo 5.000.000đồng để sung vào ngân sách nhà nước.
- Áp dụng: Khoản 1, Khoản 3 Điều 321; điểm s Khoản 1 Điều 51; điểm h Khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 38; Khoản 3 Điều 35; Điều 50; Điều 58 Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H2 7 (bảy) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 24/8/2025. Phạt bị cáo 5.000.000 đồng để sung vào ngân sách nhà nước.
- Áp dụng: Khoản 1, Khoản 3 Điều 321; điểm i, s Khoản 1 Điều 51; Điều 38; Khoản 3 Điều 35; Điều 17; Điều 50; Điều 58, Điều 65 Bộ luật Hình sự:
- Giao các bị cáo Nguyễn Văn N, Nguyễn Bá T1, Bùi Văn N2, Bùi Văn T4 cho Ủy ban nhân dân xã Đ giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 điều 92 Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng: Điểm a Khoản 1 Điều 46; điểm a, b Khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, b, c Khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 5.320.000 đồng các bị cáo dùng để đánh bạc. Tịch thu tiêu hủy 01 chiếu cói và 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân.
(Toàn bộ vật chứng có đặc điểm mô tả chi tiết trong Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 06/11/2025 tại Phòng thi hành án dân sự Khu vực 6-Hưng Yên).
- Về án phí: Căn cứ vào Điều 135; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; áp dụng Điều 12, Điều 21; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14: Các bị cáo Nguyễn Văn N, Nguyễn Bá T1, Bùi Văn T4, Nguyễn Văn H2 mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo Bùi Văn N2 được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
- Căn cứ Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự: Các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 04/12/2025.
Trường hợp bản án quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự; người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 của Luật Thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án Dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Đồng Ngọc Huyền |
Bản án số 51/2025/HS-ST ngày 04/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - HƯNG YÊN về hình sự về tội đánh bạc
- Số bản án: 51/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Đánh bạc
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/12/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - HƯNG YÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: guyễn Văn Nam và Đồng phạm
