|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 - AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 51/2025/HS-ST Ngày 27 tháng 10 năm 2025. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 - AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Triều.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đình Chưởng và ông Nguyễn Thiện Pháp.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Khuyên - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 10 - An Giang.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 10 - An Giang tham gia phiên tòa: Ông Dương Ngọc Sử - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 10 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 10 - An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 35/2025/TLST-HS ngày 10 tháng 10 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 48/2025/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 10 năm 2025 đối với bị cáo:
Nguyễn Minh N (Nhí Max), sinh ngày 05/8/2001. Nơi cư trú: ấp P, xã Đ, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Đạo Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Thanh L, sinh năm 1980 và bà Võ Thị L1, sinh năm 1973; bị cáo chưa có vợ, con.
Tiền án: Không.
Tiền sự: Ngày 16/8/2024, bị Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện T, tỉnh An Giang (nay là xã Đ, tỉnh An Giang) ra Quyết định xử phạt hành chính số tiền 1.500.000 đồng, về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”, chưa nộp phạt.
Bị cáo bị tạm giam từ ngày 01/8/2025 cho đến nay.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Người làm chứng:
- 1/ Bà Võ Thị L1 (có mặt)
- 2/ Ông Nguyễn Thanh L (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Ngày 01/3/2025 Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện T, tỉnh An Giang (nay là xã Đ, tỉnh An Giang) ra Quyết định cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng từ ngày 01/3/2025 đến ngày 01/3/2026 đối với Nguyễn Minh N.
Khoảng 18 giờ ngày 28/7/2025, N điều khiển xe mô tô biển số 65H6-7177 (mượn của cha ruột tên Nguyễn Thanh L) đến gần khu vực chợ C Vồn, xã V, tỉnh An Giang gặp người thanh niên tên L2 (chưa rõ nhân thân) mua 150.000 đồng ma tuý để sử dụng. Sau đó, N cất giấu ma túy đá trong người rồi điều khiển xe về nhà ở ấp P, xã Đ, tỉnh An Giang. Khoảng 21 giờ cùng ngày, N đem ma túy và bộ D sử dụng ma túy vào nhà vệ sinh sử dụng một mình đến hết ma túy rồi đập bỏ bộ sử dụng ma túy vào bồn cầu.
Đến khoảng 08 giờ ngày 01/8/2025, N xin tiền Võ Thị L1 (mẹ ruột của N) để tiêu xài cá nhân thì xảy ra cự cãi nên gia đình trình báo Công an xã Đ. Sau đó, Công an xã Đ đến mời Nhí về trụ sở làm việc thì N khai nhận đã sử dụng ma túy nên tiến hành xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể của N tại trung tâm y tế xã Đ dương tính với chất ma túy, loại Methamphetamine.
Vật chứng thu giữ: Không.
Tại Bản Kết luận giám định số 94 ngày 08/8/2025 của Phòng K - Công an tỉnh A, kết luận: Mẫu M₁ gửi đến giám định có tìm thấy thành phần chất ma túy, loại Methamphetamine.
Tại Cáo trạng số 01/CT-VKSKV10, ngày 10/10/2025 của Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 10 - An Giang truy tố bị cáo Nguyễn Minh N về tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sụng năm 2025.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Minh N khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu trên.
Người làm chứng bà Võ Thị L1, ông Nguyễn Thanh L trình bày như nội dung vụ án đã nêu.
Đại diện Viện Kiểm sát luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 256a; điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã sửa đổi, bổ sung năm 2025. Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh N mức án từ 02 năm đến 03 năm tù về tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”. Về hình phạt bổ sung: không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về xử lý vật chứng: không có.
Bị cáo Nguyễn Minh N nhất trí với bản luận tội, không bào chữa và tranh luận gì khác. Nói lời sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh A, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 10 - An Giang, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người làm chứng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, người làm chứng Nguyễn Thanh L vắng mặt không rõ lý do, mặc dù Tòa án đã tống đạt giấy triệu tập hợp lệ. Xét thấy, sau khi vụ án xảy ra, ông L đã có lời khai trong quá trình điều tra, khi cần thiết Hội đồng xét xử sẽ công bố lời khai ông L trước tòa. Căn cứ Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[2] Về nội dung: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu. Lời khai nhận tội của bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của người làm chứng, phù hợp với kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ kết luận:
Ngày 01/3/2025, Nguyễn Minh N bị Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện T, tỉnh An Giang (nay là xã Đ, tỉnh An Giang) ra Quyết định cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng từ ngày 01/3/2025 đến ngày 01/3/2026. Ngày 28/7/2025, tại ấp P, xã Đ, tỉnh An Giang, Nguyễn Minh N thực hiện hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, loại Methamphetamine, bị phát hiện.
Hành vi nêu trên của bị cáo đã phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025 có khung hình phạt tù từ 02 năm đến 03 năm.
[3] Hành vi phạm tội của bị cáo nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến sức khỏe, tính mạng và sự an toàn của con người; xâm phạm chế độ thống nhất quản lý các chất ma túy của Nhà nước, gây mất an ninh trật tự, an toàn xã hội, tạo dư luận xấu trong nhân dân, là một trong những nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tội phạm khác. Do đó cần phải xử lý nghiêm minh đối với bị cáo để giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.
[4] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Bị cáo xuất thân thành phần lao động, trước khi phạm tội là người có nhân thân xấu vì bị xử phạt hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy và bị áp dụng biện pháp cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng nhưng vẫn tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy. Hành vi của bị cáo được thực hiện với lỗi cố ý, động cơ mục đích của tội phạm là nhằm thỏa mãn cơn nghiện. Do đó cần phải có hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm hành vi phạm tội của bị cáo.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo xuất thân thành phần lao động, hiểu biết pháp luật hạn chế; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm i, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xét thấy: Mặc dù bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, không có tình tiết tăng nặng, tội phạm ít nghiêm trọng nhưng bị cáo đã bị áp dụng nhiều biện pháp cai nghiện ma túy nhưng vẫn không khắc phục được. Do đó, cần áp dụng mức hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân tốt có ích cho xã hội. Mức hình phạt mà đại diện Viện Kiểm sát đề nghị đối với bị cáo là tương xứng với tính chất, mức độ tội phạm đã gây ra nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[5] Đối với người tên L2 bán ma túy cho bị cáo N, do chưa xác định rõ nhân thân nên Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh A tiếp tục xác minh, làm rõ xử lý sau.
[6] Về các vấn đề khác: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh N (N) phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”.
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 256a, điểm i, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025. Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh N (N) 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 01/8/2025.
Căn cứ Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/ 12/ 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Nguyễn Minh N (N) phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu xét xử phúc thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Triều |
Bản án số 51/2025/HS-ST ngày 27/10/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 - AN GIANG về hình sự về tội sử dụng trái phép chất ma túy
- Số bản án: 51/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Sử dụng trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/10/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 - AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Minh N phạm tội Sử dụng trái phép chất ma túy
