Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ PHƯỚC LONG

TỈNH BÌNH PHƯỚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 51/2025/HS-ST

Ngày 27/6/2025

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHƯỚC LONG, TỈNH BÌNH PHƯỚC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Trần Ánh Nguyệt

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Tạ Đình Thành
  2. Ông Điểu Phương

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Thanh Tùng – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Phước Long, tỉnh Bình Phước.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phước Long, tỉnh Bình Phước tham gia phiên tòa: Ông Phạm Văn Lợi - Kiểm sát viên.

Trong ngày 27 tháng 6 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Phước Long, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 43/2025/TLST-HS ngày 02 tháng 6 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 55/2025/QĐXXST- HS ngày 16 tháng 6 năm 2025, đối với bị cáo:

Lâm Quốc V; Tên gọi khác: Không; sinh ngày: 24/9/1986; tại: Bình Phước N thường trú: Khu phố B, phường P, thị xã P, tỉnh Bình Phước; Nơi ở hiện tại: Khu phố B, phường P, thị xã P, tỉnh Bình Phước; CCCD: [...], cấp ngày: 13/4/2021, nơi cấp: Cục C Bộ C1; Nghề nghiệp: Thợ sửa điện thoại; Trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lâm Văn L (đã chết) và bà Đỗ Thị Q, sinh năm 1958; bị cáo có vợ tên Nguyễn Thị Thu H, sinh năm 1994 (đã ly hôn năm 2020) và một người con tên Lâm Nhật H1, sinh năm 2020; Tiền án; tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 20/9/2018, bị Tòa án nhân dân thị xã Bình Long, tỉnh Bình Phước xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội tàng trữ trái phép chất ma tuý, theo Bản án số 46/2018/HSST; tạm giữ ngày 19/12/2024, tạm giam từ ngày 25/12/2024 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người làm chứng:

  1. Anh Bùi Ngọc A – sinh năm 1986. Vắng mặt, Địa chỉ: Thôn B, xã P, huyện B, tỉnh Bình Phước.
  2. Anh Cao Văn T – sinh năm 1976. Vắng mặt, Địa chỉ: Khu phố C, phường L, thị xã P, tỉnh Bình Phước.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 16 tháng 12 năm 2024, V liên hệ qua điện thoại với một người tên T1 (V không rõ nhân thân, lai lịch) ở thành phố Hồ Chí Minh hỏi mua ma túy đá với số tiền 1.000.000 đồng nhằm mục đích để sử dụng dần. Sau đó thì có một đối tượng (không rõ nhân thân, lai lịch) đến gần nhà V tại khu phố B, phường P, thị xã P, tỉnh Bình Phước giao ma tuý cho V và lấy tiền. V mang số ma tuý này về cất giấu dưới gầm bàn chỗ V ngồi sửa điện thoại tại nhà V. Khoảng 21 giờ ngày 18/12/2024, V lấy ra một ít sử dụng và vẫn để gói ma túy dưới gầm bàn, dụng cụ sử dụng ma túy thì để trong khe giữa tủ lạnh và tủ gỗ. Khoảng 16 giờ ngày 19/12/2024, khi V đang ở nhà riêng cùng với Bùi Ngọc A là bạn đến gặp V để sửa chữa điện thoại trước đó thì lực lượng Công an phường P phối hợp với Công an thị xã P, tỉnh Bình Phước tiến hành kiểm tra, phát hiện bên dưới bàn ngồi uống nước có 01 cục quấn băng keo màu đen kích thước (03 x 04)cm gói bên trong 01 túi nilon dạng khóa miết kích thước (4,7 x 04)cm chứa chất tinh thể màu trắng cùng 09 ống hút nhựa đủ màu sắc, 01 vỏ chai nước ngọt màu xanh loại 250ml nắp chai màu đỏ có 02 lỗ tròn trên mặt và số tiền 1.810.000 đồng và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Lâm Quốc V về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.

Tại Bản kết luận giám định số 1448/KL-KTHS, ngày 24/12/2024 của Phòng K Công an tỉnh B xác định: Tinh thể màu trắng (ký hiệu M) có trong 01 gói nylon miệng khóa miết được niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng là 2,4626 gam. Mẫu hoàn lại sau giám định được niêm phong có khối lượng là 1,7824 gam.

Ngày 24/12/2024, Lâm Quốc V bị khởi tố bị can để điều tra.

Bản Cáo trạng số 44/CT-VKSPL ngày 02/6/2025 Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phước Long, tỉnh Bình Phước đã truy tố Lâm Quốc V về “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa:

- Đại diện Viện kiểm sát thực hiện quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Lâm Quốc V về “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy”; Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa tại phiên tòa: bị cáo thành khẩn khai báo nên đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Lâm Quốc V từ 02 (hai) năm 06 (sáu) đến 03 (Ba năm) tù.

- Về vật chứng của vụ án:

Đề nghị tuyên tịch thu tiêu hủy 1,7824 gam ma túy còn lại sau giám định được Phòng K Công an tỉnh B niêm phong.

Số tiền 1.810.000 đồng là tiền của bị cáo có được từ sửa điện thoại không liên quan đến việc phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo.

09 ống hút nhựa đủ màu sắc và 01 vỏ chai nước ngọt màu xanh loại 250ml nắp chai màu đỏ có 02 lỗ tròn trên mặt là dụng cụ để V sử dụng trái phép chất ma túy nên cần tịch thu tiêu hủy.

- Bị cáo tự bào chữa: Bị cáo thành khẩn khai báo, thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã truy tố và không có ý kiến tranh luận gì với phần luận tội của Kiểm sát viên.

- Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo rất ăn năn về hành vi phạm tội của mình, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phước Long, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố; phù hợp với lời khai của người làm chứng; Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở khẳng định: Khoảng 16 giờ ngày 19/12/2024, Lâm Quốc V có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy và bị phát hiện, trọng lượng ma túy do bị cáo tàng trữ là 2,4626 gam, loại Methamphetamine. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố để cấu thành “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy”. Viện kiểm sát truy tố và luận tội bị cáo theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015 là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến chính sách độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước, ngoài ra còn gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an xã hội ở địa phương. Bị cáo phạm tội với lỗi cố ý, mặc dù khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo nhận thức được tác hại của chất ma túy, sẽ bị pháp luật xử lý nghiêm nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện để thỏa mãn lối sống sa đọa, hủy hoại chính tương lai và sức khỏe của bản thân bị cáo. Bị cáo đã từng bị kết án về tội tàng trữ trái phép chất ma tuý và bị xử phạt 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, chấp hành xong và đã được xoá án tích nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học cảnh tỉnh bản thân, đoạn tuyệt với ma tuý, tu dưỡng, rèn luyện thành công dân tốt có ích cho gia đình và xã hội. Do đó, việc áp dụng hình phạt tù tương xứng với hành vi và hậu quả do bị cáo gây ra là cần thiết, nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo có ý thức tôn trọng pháp luật và phòng ngừa chung.

[4] Bị cáo có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Thành khẩn khai báo” được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[5] Về hình phạt bổ sung: tại phiên toà bị cáo khai có công việc nhưng thu nhập không ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[6] Đối với Bùi Ngọc A, quá trình điều tra xác định việc sử dụng trái phép chất ma túy của Ngọc A tại nhà V vào khoảng 21 giờ ngày 18/12/2024 là do Ngọc A lén lút. tự ý sử dụng, V không có lời nói hay hàng đồng gì rủ rê hay cung cấp dụng cụ cho Ngọc A để cùng nhau sử dụng trái phép chất ma tuý nên không có căn cứ để khởi tố Lâm Quốc V về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật hình sự. Công an phường P đã lập biên bản vi phạm hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” đối với Bùi Ngọc A và thông báo cho UBND xã P, huyện B, tỉnh Bình Phước nơi Ngọc A cư trú biết để theo dõi là đúng nên không xem xét lại.

Đối với đối tượng bán ma tuý cho bị cáo. Do không xác minh được nhân thân lai lịch nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã P không có căn cứ xử lý là đúng nên không xem xét lại.

[7] Về xử lý vật chứng:

01 (một) Phong bì ma túy sau giám định có trọng lượng 1,7824 gam được Phòng K Công an tỉnh B niêm phong, đây là vật cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy.

Số tiền 1.810.000 đồng là tiền của bị cáo có được từ sửa điện thoại không liên quan đến việc phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo.

09 ống hút nhựa đủ màu sắc và 01 vỏ chai nước ngọt màu xanh loại 250ml nắp chai màu đỏ có 02 lỗ tròn trên mặt là dụng cụ để V sử dụng trái phép chất ma túy nên cần tịch thu tiêu hủy.

[8] Quan điểm của Kiểm sát viên về tội danh, hình phạt đối với bị cáo là có căn cứ, phù hợp với qui định pháp luật, phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên được ghi nhận.

[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự; điểm s khoản 1 Điều 51; các Điều 38, 47, 50 Bộ luật hình sự; các điều 106, 136, 331, 333 và 337 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

  1. Tuyên bố bị cáo Lâm Quốc V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  2. Về hình phạt:

    Xử phạt bị cáo Lâm Quốc V 03 (Ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 19/12/2024.

  3. Về vật chứng:

    Tịch thu tiêu hủy 1,7824 gam ma túy còn lại sau giám định được Phòng K Công an tỉnh B niêm phong; 09 ống hút nhựa đủ màu sắc và 01 vỏ chai nước ngọt màu xanh loại 250ml nắp chai màu đỏ có 02 lỗ tròn trên mặt.

    Trả lại cho bị cáo Lâm Quốc V số tiền 1.810.000 đồng.

  4. Về án phí:

    Bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

  5. Về quyền kháng cáo:

    Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 27/6/2025).

“Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”.

Nơi nhận:

  • - TAND, VKSND tỉnh Bình Phước;
  • - VKSND thị xã Phước Long;
  • - Chi cục THADS thị xã Phước Long;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ vụ án, Tòa án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Nguyễn Trần Ánh Nguyệt

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 51/2025/HS-ST ngày 27/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHƯỚC LONG, TỈNH BÌNH PHƯỚC về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 51/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHƯỚC LONG, TỈNH BÌNH PHƯỚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Lâm Quốc V
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger