Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LẤP VÒ

TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 51/2025/HS-ST

Ngày 24 - 6 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẤP VÒ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Hữu Phước.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Chung Thị Thu Nguyệt.
  2. Ông Huỳnh Trung Tính.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Nhựt Hồ, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Bà Lý Băng Tâm - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 6 năm 20215 tại trụ sở Tòa án huyện Lấp Vò xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 53/2025/TLST-HS ngày 28 tháng 5 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 54/2021/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 6 năm 2025, đối với bị cáo:

* Họ và tên: Nguyễn Hoàng Anh T, sinh năm 1999; HKTT: Khóm S, phường T, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Anh T1 và con bà Nguyễn Thị Ngọc L; vợ, con: Chưa có; tiền sự: Không; tiền án: Ngày 04/01/2024, bị Toà án nhân dân huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp tuyên phạt 06 tháng tù, về tội: “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 03//2024/HS-ST, đến ngày 18/8/2024 chấp hành xong hình phạt tù. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực S, tỉnh Đồng Tháp do bị khởi tố về hành vi “Trộm cắp tài sản” xảy ra ngày 22/8/2024 tại xã T, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp và có mặt tại phiên tòa.

* Bị hại: Chị Cung Thư M, sinh năm 2005.

Địa chỉ: Số B, khóm B, thị trấn L, huyện L, tỉnh Đồng Tháp. (Vắng mặt có đơn)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung

vụ án được tóm tắt như sau: Vào khoảng 20 giờ ngày 02/08/2024, bị cáo Nguyễn Hoàng Anh T cùng với P và Hậu N (Không rõ họ tên, địa chỉ cụ thể) là bạn quen biết ngoài xã hội uống cà phê ở thành phố C. Sau khi uống cà phê xong cả 3 đi tìm tài sản để chiếm đoạt. Bị cáo T điều khiển xe mô tô hiệu Satria (Không rõ biển số, thuê của người khác), P điều khiển xe mô tô hiệu Vario (Không rõ biển số) chở Hậu N đi trên đường T hướng về xã V, huyện L, Đồng Tháp. Lúc này, Hậu N phát hiện bị hại Cung Thư M đang điều khiển xe mô tô hiệu Sh Mode màu đen xám, biển số 66L1- 844.77 chạy cùng chiều vượt lên, trên xe có treo 01 túi xách màu đen nên bị cáo T và P điều khiển xe chạy theo bị hại M. Đến khoảng 22 giờ cùng ngày, bị hại M điều khiển xe đến đoạn đường thuộc ấp T, xã T, huyện L, Đồng Tháp thì dừng xe lại bên lề phải đường để nghe điện thoại. P điều khiển xe chở Hậu N chạy đến và dừng xe cạnh đầu xe của bị hại M, còn bị cáo T dừng xe ở phía sau. Hậu Nhỏ xuống xe và bước đến dùng tay nhanh chóng giật lấy túi xách treo trên xe của bị hại M rồi nhanh chóng lên xe cho P chở và cùng bị cáo T tẩu thoát. Lúc này, bị hại M điều khiển xe đuổi theo nhưng không kịp. P điều khiển xe chở Hậu N, bị cáo T điều khiển xe đến đoạn đường vắng dừng xe lại kiểm tra bên trong 01 túi xách màu đen có chứa tài sản gồm: 01 ví da màu xanh nhãn hiệu Vascara, 01 giấy chứng minh nhân dân, 01 giấy căn cước công dân và 01 thẻ ngân hàng B đều mang tên Cung Thư M, 01 giấy đăng ký xe mô tô biển số 66L1-844.77, 01 khoá thông minh xe mô tô và số tiền là 180.000 đồng. P và Hậu N giữ lấy túi xách, ví da, chìa khoá xe và 180.000đ, còn bị cáo T giữ các loại giấy tờ của bị hại M cho vào ví của mình rồi để bên trong cốp xe. Đến ngày 22/08/2024, bị cáo T tiếp tục thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác ở thành phố S thì bị bắt.

Cơ quan Cảnh sát điều tra đã yêu cầu định giá tài sản bị thiệt hại của bị hại M nhưng Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự, Ủy ban nhân dân tỉnh Đ có Công văn số 1486/HĐĐGTS ngày 08/5/2025 phúc đáp: Tài sản được trưng cầu định giá hiện chưa đủ các thông tin cần thiết để tiến hành định giá tài sản theo quy định.

* Về vật chứng: Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tạm giữ bị cáo T và trả lại cho bị hại Cung Thư Mẫn: 01 giấy chứng minh nhân dân, 01 giấy căn cước công dân và 01 thẻ ngân hàng B đều mang tên Cung Thư M, 01 giấy đăng ký xe mô tô biển số 66L1-844.77. Đối với các tài sản bị thiệt hại M không yêu cầu bồi thường.

Tại Bản Cáo trạng số 49/CT-VKSLVo ngày 26 tháng 5 năm 2025 của Viện kiểm sát huyện L, đã truy tố bị cáo Nguyễn Hoàng Anh T về tội “Cướp giật tài sản” theo khoản 1 Điều 171 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa sơ thẩm:

Vị đại diện Viện kiểm sát huyện L thực hiện quyền công tố tại phiên tòa phát biểu quan điểm luận tội đã đưa ra những chứng cứ, lý lẽ kết tội đối với bị cáo. Sau khi phân tích hành vi phạm tội, căn cứ nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên:

  1. Về tội danh: Căn cứ Điều 171 của Bộ luật hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoàng Anh T phạm tội “Cướp giật tài sản”.
  2. Về hình phạt chính:

Áp dụng khoản 1 Điều 171; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự, xử phạt: Bị cáo Nguyễn Hoàng Anh T

3. Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản riêng nên đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với hành vi phạm tội của bị cáo.

4. Về trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong.

5. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự đề nghị Tòa án nhân dân huyện Lấp Vò trả lại cho bị cáo Nguyễn Hoàng Anh T 01 ví da màu nâu.

Tịch thu lưu theo hồ sơ vụ án làm căn cứ xét xử: 01 đĩa DVD ghi âm, ghi hình hỏi cung bị cáo.

- Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Hoàng Anh T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung Cáo trạng truy tố và tại phần tranh luận bị cáo cũng không phát biểu tranh luận gì với Kiểm sát viên, chỉ xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát huyện L, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Hoàng Anh T khai nhận: Vào khoảng 22 giờ ngày 02/8/2024, tại đoạn đường thuộc ấp T, xã T, huyện L, tỉnh Đồng Tháp bị cáo Nguyễn Hoàng Anh T và P, Hậu N (Không rõ họ tên, địa chỉ cụ thể) đã lợi dụng sơ hở trong quản lý tài sản của bị hại Cung Thư M giật lấy 01 túi xách màu đen có chứa tài sản gồm: 01 ví da màu xanh nhãn hiệu Vascara, 01 giấy chứng minh nhân dân, 01 giấy căn cước công dân và 01 thẻ Ngân hàng B đều mang tên Cung Thư M, 01 giấy đăng ký xe mô tô biển số 66L1-844.77, 01 khoá thông minh xe mô tô và số tiền là 180.000 đồng rồi nhanh chóng lên xe mô tô tẩu thoát.

Xét lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai bị hại và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập đầy đủ trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã có đủ cơ sở pháp lý để kết luận bị cáo Nguyễn Hoàng Anh T cùng P, Hậu N đã lợi dụng sơ hở trong quản lý tài sản của bị hại Cung Thư M giật lấy 01 túi xách màu đen có chứa tài sản là phạm tội.

[3] Do đó, Viện kiểm sát huyện L truy tố bị cáo Nguyễn Hoàng Anh T về tội “Cướp giật tài sản” và là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Tội phạm và hình phạt được quy định theo khoản 1 Điều 171 của Bộ luật hình sự.

Tại khoản 1 Điều 171 của Bộ luật hình sự quy định:

“1. Người nào cướp giật tài sản của người khác, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm”.

[4] Xét, bị cáo Nguyễn Hoàng Anh T là người đã thành niên, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, thực hiện hành vi với lỗi cố ý đã xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của bị hại được pháp luật bảo vệ mà còn gây nguy hiểm đến tính mạng của bị hại. Nhưng do muốn có tiền phục vụ cho mục đích cá nhân mà không phải bỏ công sức lao động vất vả, nên bị cáo đã lấy cướp giật tài sản của bị hại M nên phạm tội. Hành vi của bị cáo T thể hiện sự liều lĩnh, coi thường pháp luật nên cần xử lý nghiêm.

[5] Do đó, việc đưa bị cáo T ra xét xử tại phiên tòa hôm nay là cần thiết, cần áp dụng mức hình phạt tương xứng đối với hành vi phạm tội mà bị cáo T gây ra, để bị cáo T có điều kiện học tập, cải tạo trở thành một công dân tốt, sống có ích cho gia đình và xã hội.

[6] Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ “Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”, để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo là phù hợp với điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

[7] Bị cáo T đã có 01 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” chưa được xóa án tích. Đáng lý ra, khi trở về địa phương, bị cáo phải biết tuân thủ pháp luật và sống có ích cho xã hội. Đồng thời, bị cáo biết việc cướp giật tài sản của bị hại là vi phạm pháp luật. Do đó, cần có một mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo. Áp dụng tình tiết “Tái phạm”, để tăng nặng hình phạt đối với bị cáo là phù hợp với điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.

[8] Về hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 171 của Bộ luật hình sự. Hội đồng xét xử, xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản riêng nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung với bị cáo T.

[9] Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa, bị hại M có dơn xin vắng mặt và đã nhận lại tài sản, không yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[10] Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 3 Điều của 106 Bộ luật tố tụng hình sự;

- Trả lại cho bị cáo Nguyễn Hoàng Anh T 01 ví da màu nâu.

- Tịch thu lưu theo hồ sơ vụ án làm căn cứ xét xử: 01 đĩa DVD ghi âm, ghi hình hỏi cung bị cáo.

[11] Đối với Đối với người tên P và Hậu N không rõ họ tên, địa chỉ cụ thể, nên tách ra khỏi vụ án khi nào làm việc được sẽ xử lý sau.

[12] Đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa: Về tội danh, điều khoản của tội danh, mức hình phạt, trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng đối với bị cáo T là phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[14] Bị cáo Nguyễn Hoàng Anh T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[15] Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án này theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Áp dụng khoản 1 Điều 171; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.
    1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Hoàng Anh T phạm tội “Cướp giật tài sản”.
    2. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Hoàng Anh T........ tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày chấp hành án.
  2. Về trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong.
  3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự;
    • - Trả lại cho bị cáo Nguyễn Hoàng Anh T 01 ví da màu nâu.
    • - Tịch thu lưu theo hồ sơ vụ án làm căn cứ xét xử: 01 đĩa DVD ghi âm, ghi hình hỏi cung bị cáo.

    (Hiện Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lấp Vò đang quản lý vật chứng, theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày tháng năm 2025).

  4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

    Bị cáo Nguyễn Hoàng Anh T phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

  5. Quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Hoàng Anh T có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Riêng bị hại Cung T2 Mẫn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày Tòa án niêm yết bản án tại nơi cư trú.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKS Tỉnh, Huyện;
  • - Tòa án Tỉnh;
  • - Sở Tư pháp Tỉnh;
  • - Nhà tạm giữ Công an Huyện;
  • - Chi cục THADS Huyện;
  • - Bị cáo, các đương sự;
  • - Lưu: HSVA, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Hữu Phước

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 51/2025/HS-ST ngày 24/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẤP VÒ, TỈNH ĐỒNG THÁP về hình sự - cướp giật tài sản

  • Số bản án: 51/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Cướp giật tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẤP VÒ, TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vào khoảng 22 giờ ngày 02/8/2024, tại đoạn đường thuộc ấp Tân Trong, xã Tân Mỹ, huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp bị cáo Nguyễn Hoàng Anh Tài và Phúc, Hậu Nhỏ (Không rõ họ tên, địa chỉ cụ thể) đã lợi dụng sơ hở trong quản lý tài sản của bị hại Cung Thư Mẫn giật lấy 01 túi xách màu đen có chứa tài sản gồm: 01 ví da màu xanh nhãn hiệu Vascara, 01 giấy chứng minh nhân dân, 01 giấy căn cước công dân và 01 thẻ Ngân hàng BIDV đều mang tên Cung Thư Mẫn, 01 giấy đăng ký xe mô tô biển số 66L1-844.77, 01 khoá thông minh xe mô tô và số tiền là 180.000 đồng rồi nhanh chóng lên xe mô tô tẩu thoát.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger