Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ TÂN UYÊN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 51/2025/HS-ST

Ngày: 25/3/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh;

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Thảo.

Ông Nguyễn Thanh Cần.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Nam – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Nhâm Hoàng Long - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 31/2025/TLST-HS ngày 24 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 53/2025/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 02 năm 2025 đối với các bị cáo:

1. Lê Văn C, sinh năm 1982 tại Bình Dương; nơi cư trú: Tổ F, khu phố K, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hoá (học vấn): 3/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn H (đã chết) và bà Nguyễn Thị T (đã chết); bị cáo có vợ tên Huỳnh Thị N, sinh năm 1982 và 02 con, con lớn nhất sinh năm 2007 và con nhỏ nhất sinh năm 2009; tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 24/01/2025 đến nay; có mặt

2. Phạm Văn T1, sinh năm 1964, tại Bình Dương; nơi cư trú: Khu phố K, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hoá (học vấn): 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn T2 (đã chết) và bà Nguyễn Thị Ú, sinh năm 1934; bị cáo có vợ tên Bùi Thị L, sinh năm 1969 và 02 con, con lớn nhất sinh năm 1990 và con nhỏ nhất sinh năm 1995; tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 24/01/2025 đến nay; có mặt.

2

3. Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1965, tại Đồng Nai; nơi cư trú: 1, khu phố T, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ văn hoá (học vấn): 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Đ1 (đã chết) và bà Tống Thi C1 (đã chết); bị cáo có vợ tên Lê Thị Ngọc H1 (đã chết) và 02 con, con lớn nhất sinh năm 1993 và con nhỏ nhất sinh năm 1997; tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 24/01/2025 đến nay; có mặt.

4. Võ Văn T3, sinh năm 1970, tại Bình Dương; nơi cư trú: Tổ D, khu phố B, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hoá (học vấn): 4/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Văn N1 (đã chết) và bà Nguyễn Thị H2 (đã chết); bị cáo chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 24/01/2025 đến nay; có mặt.

5. Huỳnh Minh T4, sinh năm 1979, tại Sóc Trăng; nơi cư trú: Ấp M, xã N, huyện K, tỉnh Sóc Trăng; nơi tạm trú: Nhà trọ Phạm Thành T5, tổ F, khu phố K, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ văn hoá (học vấn): 4/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh Văn Đ2 (đã chết) và bà Lê Thị Ý, sinh năm 1939; bị cáo có vợ tên Nguyễn Thị Thúy N2, sinh năm 1985 và 01 con sinh năm 2004; tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 24/01/2025 đến nay; có mặt.

6. Nguyễn Văn C2, sinh năm 1969, tại Bình Dương; nơi cư trú: Tổ E, khu phố K, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Bảo vệ; trình độ văn hoá (học vấn): 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn B (đã chết) và bà Nguyễn Thị R (đã chết); bị cáo có vợ tên Trần Thị H3, sinh năm 1974 và 02 con, con lớn nhất sinh năm 1995 và con nhỏ nhất sinh năm 2000; tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 24/01/2025 đến nay; có mặt.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Mai Thành T6, sinh năm 1987. Địa chỉ: Khu phố K, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10 giờ 40 phút ngày 13/10/2024, Lê Văn C, Nguyễn Văn C2, Nguyễn Văn Đ, Võ Văn T3, Huỳnh Minh T4 và Mai Trung T7 đến quán cà phê của Phạm Văn T1 tại tổ F, khu phố K, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương để uống nước. Tại đây, C rủ cả nhóm chơi đánh bài binh xập xám thắng thua bằng tiền thì tất cả đồng ý. Sau đó, Phạm Văn T1 lấy 02 bộ bài tây 52 lá đưa cho nhóm C, T3, T7, C2, Được, Minh T4 để chơi đánh bạc, cách thức chơi mỗi ván người chơi đặt cược 50.000 đồng, mỗi người làm cái một lần xoay vòng đến hết,

3

chia làm bốn tụ gồm có C, T3, Được, Minh T4 mỗi người một tụ, C và C2 góp tiền chơi chung một tụ. Mỗi tụ sẽ được chia 13 lá bài, bài ai lớn nhất thì sẽ thắng được 150.000 đồng là tiền cược của ba tụ còn lại. Mai Trung T7 ngồi ngoài xem và cá cược riêng với C2 bằng hình thức cá cược trong ván bài T7 và C2 mỗi người sẽ chọn một tụ bài, khi dở bài lên nếu trong tụ bài đó có lá bài ách thì sẽ thắng được 50.000 đồng/01 lá bài. Khi bị bắt quả tang thì tất cả đồng tiền thu lợi bất chính do đánh bạc và tang vật tại nhà của bị cáo Phạm Văn T1 các bị cáo Lê Văn C, Nguyễn Văn C2, Nguyễn Văn Đ, Võ Văn T3, Huỳnh Minh T4 đang đánh bạc được thu bằng tiền dưới hình thức chơi đánh bài binh xập xám, thu giữ 02 (hai) bộ bài tây đã qua sử dụng; số tiền 2.700.000 đồng (hai triệu bảy trăm ngàn đồng) thu giữ trên chiếu bạc và số tiền 12.400.000 đồng (mười hai triệu bốn trăm ngàn đồng) thu giữ trên người các con bạc.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo khai nhận cụ thể như sau:

- Bị cáo Huỳnh Minh T4 khai: bị cáo mang theo số tiền 800.000 đồng, bị cáo đã đưa 50.000 đồng cho Phạm Văn T1 là tiền mua bài, còn lại 750.000 đồng bị cáo sử dụng hết để đánh bạc, khi bị bắt quả tang bị cáo không thắng cũng không thua và bị thu giữ tại vị trí bị cáo ngồi đánh bạc số tiền 750.000 đồng.

- Bị cáo Nguyễn Văn C2 khai: bị cáo mang theo số tiền 250.000 đồng để đánh bạc. Bị cáo C2 cùng với bị cáo C góp tiền chung tụ để đánh bạc. Ngoài ra, C2 còn đánh bạc riêng với Mai Trung T7 bằng hình thức cá cược trong ván bài C2 và T7 mỗi người sẽ chọn một tụ bài, khi dở bài lên nếu trong tụ bài đó có lá bài ách thì sẽ thắng được 50.000 đồng/01 lá bài. Khi bị bắt quả tang thì C2 không thắng cũng không thua, bị thu giữ tại vị trí bị cáo ngồi đánh bạc số tiền 250.000 đồng.

- Bị cáo Nguyễn Văn Đ khai: bị cáo sử dụng số tiền 7.100.000 đồng để đánh bạc, bị cáo thắng được số tiền 1.150.000 đồng, 750.000 đồng bị cáo để tại vị trí ngồi đánh bạc và bị thu giữ trong túi quần bên phải số tiền 7.500.000 đồng. Bị cáo đã đưa 50.000 đồng cho Phạm Văn T1 là tiền mua bài.

- Bị cáo Võ Văn T3 khai: bị cáo sử dụng số tiền 2.500.000 đồng để đánh bạc, bị cáo đánh thua số tiền 200.000 đồng. Bị cáo bị thu giữ tại chỗ ngồi đánh bạc số tiền 300.000 đồng và thu giữ trên người số tiền 2.000.000 đồng.

- Bị cáo Lê Văn C khai: bị cáo sử dụng số tiền 3.700.000 đồng để đánh bạc. C và C2 thống nhất góp mỗi người 1.000.000 đồng chung tụ để chơi đánh bạc, do C2 không mang tiền nhiều nên C ứng ra trước 1.500.000 đồng. Khi bị bắt quả tang thì C đánh thua số tiền 950.000 đồng. Bị cáo bị thu giữ tại chỗ bị cáo ngồi đánh bạc số tiền 550.000 đồng và thu giữ trên người bị cáo số tiền 2.200.000 đồng.

- Bị cáo Phạm Văn T1 khai: bị cáo đã cung cấp 02 bộ bài tây loại 52 lá cho Huỳnh Minh T4, Nguyễn Văn Đ, Nguyễn Văn C2, Mai Trung T7, Lê Văn C, Võ Văn T3 chơi đánh bạc thắng thua bằng tiền trong nhà của bị cáo Phạm

4

Văn T1. Đồng thời, bị cáo có thu số tiền 50.000 đồng/bộ bài, Phạm Văn T1 đã thu được 100.000 đồng từ Huỳnh Minh T4 và Nguyễn Văn Đ.

- Ông Mai Trung T7 khai: ông T7 sử dụng số tiền 800.000 đồng để đánh bạc với Nguyễn Văn C2 bằng hình thức cá cược trong ván bài T7 và C2 mỗi người sẽ chọn một tụ bài, khi dở bài lên nếu trong tụ bài đó có lá bài ách thì sẽ thắng được 50.000 đồng/01 lá bài. Khi bị bắt quả tang thì T7 không thắng cũng không thua, số tiền 100.000 đồng T7 bị thu giữ tại chỗ ngồi đánh bạc. Ngoài ra lực lượng Công an kiểm tra trên người T7 thu giữ số tiền 700.000 đồng.

Căn cứ vào biên bản bắt người phạm tội quả tang và lời khai của các bị cáo về số tiền bị tạm giữ dùng vào mục đích đánh bạc khi bị bắt quả tang vào ngày 13/10/2024, xác định tổng số tiền các bị cáo Huỳnh Minh T4, Nguyễn Văn C2, Nguyễn Văn Đ, Võ Văn T3 và Lê Văn C sử dụng để đánh bạc tại nhà của bị cáo Phạm Văn T1 tại tổ F, khu phố K, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương là 14.300.000 đồng, Phạm Văn T1 thu tiền bài là 100.000 đồng.

Cáo trạng số 55/CT-VKS.TU ngày 22/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên truy tố các bị cáo Huỳnh Minh T4, Nguyễn Văn C2, Nguyễn Văn Đ, Võ Văn T3 và Lê Văn C, Phạm Văn T1 về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên trong phần tranh luận, giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 58, Điều 35 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Lê Văn C mức hình phạt từ 30.000.000 đồng đến 35.000.000 đồng.

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 58, Điều 35 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Phạm Văn T1 mức hình phạt từ 30.000.000 đồng đến 35.000.000 đồng.

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 58, Điều 35 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ mức hình phạt 30.000.000 đồng đến 35.000.000 đồng.

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58, Điều 35 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Võ Văn T3 mức hình phạt từ 30.000.000 đồng đến 35.000.000 đồng.

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58, Điều 35 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Huỳnh Minh T4 mức hình phạt từ 25.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 58, Điều 35 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C2 mức hình phạt từ 30.000.000 đồng đến 35.000.000 đồng.

5

Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy 02 bộ bài tây đã qua sử dụng; tịch thu nộp ngân sách nhà nước 15.100.000 đồng; buộc bị cáo Phạm Văn T1 phải nộp 100.000 đồng tiền thu lợi bất chính để nộp vào ngân sách nhà nước.

Đối với hành vi của Mai Trung T7 sử dụng số tiền 1.050.000 đồng tham gia đánh bạc thắng thua bằng tiền với Nguyễn Văn C2. Hành vi của T7 chưa đủ yếu tố cấu thành tội đánh bạc theo quy định tại Điều 321 Bộ luật Hình sự. Công an thành phố T, tỉnh Bình Dương đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 03/QĐ-XPHC ngày 06/01/2025 xử phạt Mai Trung T7 số tiền 1.500.000 đồng là có căn cứ.

Tại phiên tòa, bị cáo Huỳnh Minh T4, Nguyễn Văn C2, Nguyễn Văn Đ, Võ Văn T3 và Lê Văn C đã khai nhận hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng truy tố đối với các bị cáo.

Trong lời nói sau cùng, các bị cáo đã nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nên rất hối hận, ăn năn hối cải và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để sớm được trở về hòa nhập với cộng đồng, trở thành công dân có ích cho xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và người tham gia tố tụng không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án ông Mai Trung T7 vắng mặt. Trong quá trình điều tra ông T7 đã có lời khai đầy đủ. Xét thấy, việc vắng mặt của ông T7 không ảnh hưởng đến việc xét xử. Căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án.

[3] Lời khai của các bị cáo Phạm Văn T1, Huỳnh Minh T4, Nguyễn Văn C2, Nguyễn Văn Đ, Võ Văn T3 và Lê Văn C tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo đã khai báo tại cơ quan điều tra, phù hợp với những tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Từ những chứng cứ nêu trên, Hội đồng xét xử có căn cứ kết luận: Ngày 13/10/2024, tại tổ F, khu phố K, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương, bị cáo Phạm Văn T1 đã có hành vi sử dụng nhà của mình và cung cấp 02 bộ bài tây để thu tiền mỗi bộ bài là 50.000 đồng cho các bị cáo Huỳnh Minh T4, Nguyễn Văn C2, Nguyễn Văn Đ, Võ Văn T3 và Lê Văn C đánh bạc dưới hình thức đánh bài binh xập xám thắng thua bằng tiền với tổng số

6

tiền sử dụng để đánh bạc là 14.300.000 đồng. Hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội Đánh bạc, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

Do đó, bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên truy tố các bị cáo Huỳnh Minh T4, Nguyễn Văn C2, Nguyễn Văn Đ, Võ Văn T3, Lê Văn C và Phạm Văn T1 với tội danh và khung hình phạt nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[4] Hành vi của các bị cáo đã xâm phạm đến trật tự công cộng tại địa phương nơi các bị cáo gây án. Các bị cáo đều nhận thức được Nhà nước ta nghiêm cấm việc đánh bạc trái phép dưới mọi hình thức nhưng vì động cơ tư lợi mà các bị cáo đã bất chấp pháp luật, phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Do đó, để có tác dụng giáo dục các bị cáo ý thức tuân theo pháp luật, đồng thời nhằm đấu tranh phòng chống tội phạm chung trong xã hội, đối với các bị cáo cần có mức án tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội mà mỗi bị cáo đã thực hiện. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt cần xem xét toàn diện về nhân thân, vai trò, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo.

[5] Về nhân thân: các bị cáo có nhân thân tốt.

[6] Về vai trò: các bị cáo phạm tội với vai trò đồng phạm giản đơn, các bị cáo cùng nhau thực hiện hành vi phạm tội, trong đó bị cáo C là người rủ rê, bị cáo Phạm Văn T1 là người chuẩn bị phương tiện và sử dụng địa điểm của mình quản lý để cho các bị cáo khác thực hiện hành vi đánh bạc và thu lợi bất chính; các bị cáo khác cùng tham gia đánh bạc tích cực như nhau.

[7] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

[8] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, sau khi phạm tội đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Ngoài ra bị cáo Võ Văn T3 có mẹ (bà Nguyễn Thị H2) là người có công được Nhà nước tặng Huy chương kháng chiến Hạng nhì vì đã có thành tích trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước; bị cáo Huỳnh Minh T4 có hoàn cảnh khó khăn, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[9] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân, vai trò của các bị cáo, cũng như số tiền các bị cáo dùng để đánh bạc, Hội đồng xét xử xét thấy việc áp dụng hình phạt tiền cũng đủ răn đe, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội nên Viện kiểm sát đề nghị áp dụng hình phạt tiền đối với các bị cáo là phù hợp.

[10] Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:

7

Đối với số tiền 15.100.000 đồng được các bị cáo sử dụng để đánh bạc nên cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước.

Đối với 02 bộ bài tây đã qua sử dụng là phương tiện thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu tiêu hủy.

Bị cáo Phạm Văn T1 thu lợi bất chính số tiền 100.000 đồng nên cần buộc bị cáo nộp lại để sung vào ngân sách nhà nước.

[11] Đối với hành vi của Mai Trung T7 sử dụng số tiền 1.050.000 đồng tham gia đánh bạc thắng thua bằng tiền với Nguyễn Văn C2. Hành vi của T7 chưa đủ yếu tố cấu thành tội đánh bạc theo quy định tại Điều 321 Bộ luật Hình sự. Công an thành phố T, tỉnh Bình Dương đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 03/QĐ-XPHC ngày 06/01/2025 xử phạt Mai Trung T7 số tiền 1.500.000 đồng là phù hợp.

[12] Về án phí: Các bị cáo phạm tội và bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố các bị cáo Phạm Văn T1, Lê Văn C, Huỳnh Minh T4, Nguyễn Văn C2, Nguyễn Văn Đ và Võ Văn T3 phạm tội “Đánh bạc”.

1. Về trách nhiệm hình sự và hình phạt:

1.1. Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 35 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Lê Văn C 40.000.000 đồng (Bốn mươi triệu đồng).

1.2. Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 35 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Huỳnh Minh T4 25.000.000 đồng (Hai mươi lăm triệu đồng).

1.3. Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 35 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Phạm Văn T1 40.000.000 đồng (Bốn mươi triệu đồng).

1.4. Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 35 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C2 25.000.000 đồng (Hai mươi lăm triệu đồng).

1.5. Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 35 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ 35.000.000 đồng (Ba mươi lăm triệu đồng).

1.2. Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 35 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Võ Văn T3 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng).

2. Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:

8

- Tịch thu nộp ngân sách nhà nước số tiền 15.100.000 (Mười lăm triệu một trăm nghìn đồng)

- Tịch thu tiêu hủy 02 bộ bài tây đã qua sử dụng

(Theo Biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 06/02/2025).

- Buộc bị cáo Phạm Văn T1 phải nộp số tiền 100.000 đồng (Một trăm nghìn đồng) là tiền thu lợi bất chính để nộp vào ngân sách nhà nước.

3. Về án phí sơ thẩm: căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Buộc các bị cáo Phạm Văn T1, Lê Văn C, Huỳnh Minh T4, Nguyễn Văn C2, Nguyễn Văn Đ và Võ Văn T3, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND tỉnh Bình Dương;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương;
  • - PV06, Công an tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND thành phố Tân Uyên;
  • - Chi cục THADS thành phố Tân Uyên;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: VT, HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Mỹ Hạnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 51/2025/HS-ST ngày 25/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về hình sự (đánh bạc)

  • Số bản án: 51/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Đánh bạc)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Văn C và đồng phạm
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger