Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT

TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 51/2025/HS-ST

Ngày: 21 - 3 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT, TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa:

Bà Trần Thị Hương Trang

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Mai Lương A – Cán bộ hưu trí
  2. Ông Mai P – Giáo viên hưu trí

- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Ngọc Trung Dũng – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Duyên - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 08/2025/TLST-HS ngày 07 tháng 01 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 53/2025/QĐXXST-HS ngày 20/02/2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 32/2025/QĐ-ST ngày 05/3/2025 và Thông báo hoãn phiên tòa số 38/TB-HS ngày 12/3/2025 đối với:

Các bị cáo:

1. Nguyễn Hữu T (tên gọi khác: Bợm); sinh năm 1993, tại Lâm Đồng; nơi ĐKHKTT: 7 T, Phường F, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Hữu L và bà Lê Thị Mỹ H; vợ, con: Không; tiền sự: Không.

Tiền án:

Tại Bản án số 01/2018/HSST ngày 16/01/2018 bị Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng xử phạt 05 năm tù giam về tội “Cướp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày 07/11/2017. Ngày 07/11/2018, T trốn khỏi Trại tạm giam Công an tỉnh L.

2

- Tại Bản án số 41/2019/HSST ngày 25/3/2019 bị Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng xử phạt 01 năm tù giam về tội “Trốn khỏi nơi giam”. Tổng hợp với hình phạt 04 năm tù chưa chấp hành của Bản án số 01/2018/HSST ngày 16/01/2018, buộc chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 05 năm tù. Đã chấp hành án xong ngày 09/01/2023, đã đóng án phí hình sự sơ thẩm đối với 02 bản án trên vào ngày 17/4/2018 và ngày 17/7/2019.

Nhân thân: Tại Quyết định số 1913 ngày 07/12/2011, bị Công an P1, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng xử phạt vi phạm hành chính về hành vi: Dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản người khác, bị phạt số tiền 1.500.000 đồng, đã đóng phạt ngày 09/12/2011.

Bị bắt tạm giam từ ngày 07/10/2024, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.

2. Trần Thị Hoài T1; sinh năm 1996, tại Lâm Đồng; nơi ĐKHKTT: C Đ, Phường Đ, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 05/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Trần Văn K và bà: Trần Thị H1; chồng: Nguyễn Văn T2; con: 02 con, lớn nhất sinh năm 2013, nhỏ nhất sinh năm 2020; tiền án, tiền sự: Không.

Bị tạm giam từ ngày 18/9/2024, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.

Các bị hại:

  • - Bà Phạm Nguyễn Hoàng M, sinh năm 1997; địa chỉ: Số A N, Phường Đ, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng. Có đơn xin vắng mặt.
  • - Chị Nguyễn Thị Thảo N, sinh năm 2006; địa chỉ: Số C Thôn G, Phường B, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.
  • - Chị Phạm Thị Bích T3, sinh năm 2005; địa chỉ: Số C Thôn G, Phường B, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.
  • - Cháu Nguyễn Ngọc Yến N1, sinh năm 2009; địa chỉ: Hẻm A V, Phường H, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.
  • Đại diện hợp pháp của bị hại: Ông Nguyễn Ngọc L1, sinh năm 1977 và bà Nguyễn Thị T4, sinh năm 1985; địa chỉ: Hẻm A V, Phường H, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.
  • - Chị Đặng Thị Phương M1, sinh năm 2006; địa chỉ: 3 T, Phường H, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng. Có đơn xin vắng mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • - Ông Trương Công D, sinh năm 1982; địa chỉ: Số A N, Phường B, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng. Có đơn xin vắng mặt.

3

  • Ông Nguyễn Xuân S, sinh năm 1995; địa chỉ: Số A N, Phường H, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.
  • Ông Nguyễn Thanh H2, sinh năm 1993; địa chỉ: Tổ A, khu phố A, K, Phường F, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.
  • Ông Vũ Văn T5, sinh năm 1999; địa chỉ: Tổ A, Thôn F, xã T, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Hữu T là đối tượng có tiền án về tội “Cướp tài sản” và “Trốn khỏi nơi giam”, đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 09/01/2023, chưa được xóa án tích. Sau khi ra tù, T gặp Trần Thị Hoài T1 và có quan hệ tình cảm với nhau. T1 và T không có nghề nghiệp, không có tiền tiêu xài cá nhân. Do đó, T1 và T đã thực hiện các lần phạm tội tại thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng cụ thể như sau:

Lần 1: Vào khoảng 21 giờ ngày 09/9/2024, Trần Thị Hoài T1 và Nguyễn Hữu T đến quán H3 ở đường T, Phường H, thành phố Đ uống nước. Sau đó, T đi về trước. Lúc này, do không có tiền trả tiền nước nên T1 mượn điện thoại di động hiệu IPHONE 12 Promax màu xanh, bộ nhớ 128GB của bà Phạm Nguyễn Hoàng M là quản lý của quán để gọi bạn mượn tiền. T1 gọi điện nhiều lần nhưng không được, đồng thời điện thoại có mật khẩu nên T1 hỏi mật khẩu thì bà M cung cấp cho T1, sau khi gọi xong T1 trả lại điện thoại. Lúc này, T1 nảy sinh ý định giả mượn điện thoại rồi chiếm đoạt. Thực hiện ý định này, T1 nói dối bà M cho mượn điện thoại để gọi tiếp cho bạn đến trả tiền nước thì bà M đưa điện thoại trên cho T1 mượn. Tiếp đó, quán đóng cửa nên T1 nhờ bà M chở đến đầu đường Nguyễn Công T6 để tìm bạn lấy tiền trả tiền nước thì bà M đồng ý, lúc này T1 vẫn cầm điện thoại của bà M. T1 điều khiển xe chở bà M đến đường N thì dừng xe lại trước hẻm đi tắt qua đường A là hẻm tối để bà M không đi theo, T1 nói dối bà M để T1 đi bộ vào phòng trọ của bạn và gọi bạn lấy tiền. Tiếp đó, T1 đi vào hẻm rồi đi thẳng về tiệm game bắn cá ở địa chỉ: F A, Phường B, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng chơi, T1 không trả lại điện thoại cho bà M. Đến chiều ngày hôm sau, T1 một mình mang điện thoại chiếm đoạt được của bà M đến tiệm Đ, địa chỉ: A N, Phường B, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng bán cho ông Trương Công D được 8.600.000 đồng (sau đó, ông D đã bán điện thoại này cho một người không rõ nhân thân, lai lịch). T1 mang tiền về quán game bắn cá ở địa chỉ: A N, Phường H, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng thì gặp T, T1 mua thẻ nạp tiền và cùng T chơi game bắn cá hết khoảng 8.000.000 đồng, số tiền còn lại T1 và T ăn uống, trả tiền nhà nghỉ hết. Do không xác định ông D bán điện thoại trên cho ai nên không thu giữ được tang vật (BL: 97-117, 151-190).

4

Tại bản kết luận định giá tài sản số 168/KL-HĐĐGTS ngày 20/9/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Đ, kết luận: 01 điện thoại di động hiệu IPHONE 12 Promax màu xanh, bộ nhớ 128GB, đã qua sử dụng trị giá là 9.500.000 đồng (BL: 66-71).

Giá trị tài sản Trần Thị Hoài T1 chiếm đoạt được là 9.500.000 đồng.

Bị hại bà Phạm Nguyễn Hoàng M yêu cầu Trần Thị Hoài T1 bồi thường số tiền 20.000.000 đồng (BL: 201-205).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Trương Công D, sinh năm: 1982, nơi thường trú: 109A Nguyễn Văn Trỗi, Phường 2, thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng

Lần 2: Vào khoảng 23 giờ ngày 13/9/2024, Trần Thị Hoài T1 và Nguyễn Hữu T chơi game bắn cá ở địa chỉ: A N, Phường H, thành phố Đ thì hết tiền. T1 đi ra ngoài, T hỏi T1 đi đâu thì T1 nói: “Đi vòng vòng mượn điện thoại rồi lấy” thì T đồng ý và đi theo T1. T1 và T đi bộ đến khu vực ngã năm đại học thì thấy chị Nguyễn Thị Thảo N và chị Phạm Thị Bích T3 đang đi bộ trên đường, trên tay có cầm điện thoại. T3 đi đến nói dối với chị N cho mượn điện thoại để gọi điện cho bạn tìm phòng trọ, thì chị N đưa cho T3 điện thoại di động hiệu Xiaomi Redmi 12 và cung cấp mật khẩu cho T3. Sau đó, T3 tiếp tục nói dối là về nhà gần đó lấy sim lắp vào điện thoại mới gọi được rồi cầm điện thoại bỏ đi. T đứng nói chuyện với chị N và chị Bích T3. Một lúc sau, chị Bích T3 gọi nhiều lần vào số điện thoại của chị N để gặp T3, đồng thời đưa điện thoại di động hiệu S1 và cung cấp mật khẩu cho T để nói chuyện với T3, yêu cầu T3 về trả lại điện thoại nhưng T3 không về, sau đó T3 không nghe máy. T nói dối với chị Bích T3 là: “Đứng đây chờ anh đi quét mã nạp tiền điện thoại cho” rồi T cầm điện thoại này về quán bắn cá, địa chỉ: A N, Phường H, thành phố Đ rồi đưa điện thoại cho T3. Sau đó, T đi xem chơi bắn cá còn T3 ngồi bấm điện thoại và nhập mật khẩu mở máy thì mở được ứng dụng ngân hàng V trong điện thoại, T3 thấy trong tài khoản ngân hàng V số 1048373016 của chị Phạm Thị Bích T3 có 200.000 đồng nên T3 đi đến hỏi anh Nguyễn Xuân S là nhân viên quán game số tài khoản ngân hàng và chuyển 100.000 đồng vào tài khoản của anh S để nạp điểm chơi bắn cá, 100.000 đồng còn lại T3 chi trả tiền mua đồ ăn. Tiếp đó, T3 nhờ bạn chuyển vào số tài khoản này 200.000 đồng và chuyển tiếp cho anh S để chơi bắn cá. Sau khi chơi bắn cá thua hết tiền thì T3 cầm điện thoại di động hiệu Samsung A03 và điện thoại di động hiệu Redmi 12 do T3 và T chiếm đoạt được cho anh S để vay số tiền 3.000.000 đồng, T3 sử dụng số tiền này để T3 và T chơi bắn cá, ăn uống hết (BL: 97-117, 151-190).

Vật chứng của vụ án:

  • - 01 điện thoại di động hiệu Xiaomi Redmi 12 màu trắng, đã qua sử dụng.
  • - 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A03 màu đen, đã qua sử dụng.

5

Đối với 01 ốp lưng điện thoại di động Xiaomi Redmi 12 màu đen, bằng nhựa dẻo, đã qua sử dụng. Và 01 ốp lưng điện thoại di động Samsung Galaxy A03 màu hồng, bằng nhựa dẻo, đã qua sử dụng, Cơ quan Công an không thu giữ được.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 168/KL-HĐĐGTS ngày 20/9/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Đ, kết luận: 01 điện thoại di động hiệu Xiaomi Redmi 12 màu trắng, ram 4GB, bộ nhớ 128GB, đã qua sử dụng trị giá là 1.500.000 đồng. Và 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A03 màu đen, ram 3GB, bộ nhớ 32GB, đã qua sử dụng trị giá là 1.200.000 đồng (BL: 66-71).

Tại bản kết luận định giá tài sản số 192/KL-HĐĐGTS ngày 22/11/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Đ, kết luận: 01 ốp lưng điện thoại di động Xiaomi Redmi 12 màu đen, bằng nhựa dẻo, đã qua sử dụng trị giá là 45.000 đồng. Và 01 ốp lưng điện thoại di động Samsung Galaxy A03 màu hồng, bằng nhựa dẻo, đã qua sử dụng trị giá là 40.000 đồng (BL: 74-80).

Tổng giá trị tài sản Trần Thị Hoài T1 và Nguyễn Hữu T chiếm đoạt là 2.785.000 đồng.

Người bị hại:

  • - Chị Nguyễn Thị Thảo N đã nhận lại tài sản và yêu cầu được bồi thường số tiền 950.000 đồng là tiền làm sim, mua ốp lưng, thay mặt kính điện thoại bị hư hỏng (BL: 59, 64, 216, 220).
  • - Chị Phạm Thị Bích T3 đã nhận lại tài sản và yêu cầu được bồi thường số tiền 950.000 đồng là tiền làm sim, mua ốp lưng, thay mặt kính cường lực, sửa mật khẩu điện thoại và số tiền 200.000 đồng bị mất trong tài khoản ngân hàng V (BL: 59, 62, 230, 234).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Anh Nguyễn Xuân S, sinh năm: 1995, nơi thường trú: Thôn E, xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai; nơi ở hiện tại: A N, Phường H, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng. Qua sự việc trên, anh S không yêu cầu bồi thường gì (BL: 243, 246).

Lần 3: Vào khoảng 11 giờ 30 phút ngày 14/9/2024, Trần Thị Hoài T1 và Nguyễn Hữu T đi bộ trên đường N, Phường H, thành phố Đ từ quán game bắn cá về nhà nghỉ ở đường hẻm Nguyễn Công T6 thì T1 thấy cháu Nguyễn Ngọc Yến N1, sinh ngày: 25/01/2009 đang đi bộ trên đường, cầm điện thoại trên tay nên T1 nảy sinh ý định giả mượn điện thoại rồi chiếm đoạt, T1 đi đến nói: “Em cho chị mượn điện thoại để chị liên hệ với người nhà ở bệnh viện” thì cháu N1 đưa cho T1 điện thoại di động hiệu IPHONE 11 Promax, T1 hỏi mật khẩu thì cháu N1 cung cấp cho T1. Sau đó, T1 vừa giả vờ gọi điện thoại, vừa bỏ đi vào hẻm bên đường; còn

6

T đứng gần vị trí cháu N1. Khoảng 30 phút sau, không thấy T1 quay lại nên T bỏ đi. Cháu N1 đi đến vị trí hẻm mà T1 đi vào thì không thấy ai, lúc này cháu N1 biết mình bị lừa nên đi về nhà. Đến chiều tối cùng ngày, T1 đem điện thoại trên đến tiệm Đ1, địa chỉ: B B, Phường H, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng bán cho anh Nguyễn Thanh H2 được 7.000.000 đồng (sau đó, anh H2 đã bán điện thoại này cho một người không rõ nhân thân, lai lịch). Số tiền này, T1 trả tiền T1 và T chơi bắn cá, ăn uống (BL: 97-117, 151-190).

Vật chứng thu giữ:

01 USB hiệu Kingston DTSE9 màu đen, dung lượng 01GB, đã qua sử dụng.

Đối với 01 điện thoại di động hiệu IPHONE 11 Promax màu vàng đồng, bộ nhớ 256GB, đã qua sử dụng. Có gắn ốp lưng điện thoại màu hồng, có hình con mèo đeo nơ trắng, bằng cao su mềm, đã qua sử dụng. Cơ quan Công an không thu giữ được.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 168/KL-HĐĐGTS ngày 20/9/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Đ, kết luận: 01 điện thoại di động hiệu IPHONE 11 Promax màu vàng đồng, bộ nhớ 256GB, đã qua sử dụng trị giá là 7.000.000 đồng (BL: 66-71).

Tại bản kết luận định giá tài sản số 192/KL-HĐĐGTS ngày 22/11/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Đ, kết luận: 01 ốp lưng điện thoại di động IPHONE 11 Promax màu hồng, có hình con mèo đeo nơ trắng, bằng cao su mềm, đã qua sử dụng trị giá là 45.000 đồng (BL: 74-80).

Giá trị tài sản Trần Thị Hoài T1 chiếm đoạt được là 7.045.000 đồng.

Người bị hại:

Cháu Nguyễn Ngọc Yến N1 yêu cầu bồi thường số tiền 9.000.000 đồng (BL: 250, 251).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Anh Nguyễn Thanh H2, sinh năm: 1993, nơi thường trú: Tổ 13, khu phố 1, Kim Đồng, Phường 6, thành phố Đà Lạt, Lâm Đồng

Lần 4: Vào khoảng 10 giờ ngày 16/9/2024, Trần Thị Hoài T1 và Nguyễn Hữu T đi trên hẻm C T, Phường H, thành phố Đ để đi ăn uống thì gặp chị Đặng Thị Phương M1 đang đi bộ và cầm điện thoại trên tay, nên T1 nảy sinh ý định mượn rồi chiếm đoạt. T1 đi đến nói dối với chị M1 là: “Cần gọi gấp cho bạn để tìm phòng trọ” và mượn điện thoại, thì chị M1 đưa cho T1 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A13. Sau đó, T1 vừa giả vờ gọi điện thoại, vừa bỏ đi; còn T đứng ở gần vị trí chị M1. T1 cầm điện thoại đi đến cuối hẻm, qua vườn của nhà dân đến khi khuất hẳn, lúc này chị M1 đi theo nhưng không đuổi kịp T1 và không thấy T1 nữa. Chị M1 giữ T lại và yêu cầu T đưa đi tìm T1 nhưng không thấy. Sau đó, T1 đem điện thoại trên đến tiệm Đ2, địa chỉ: A N, Phường F, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng bẻ khóa nhưng không được, nên bán cho anh Vũ Văn T5 được 700.000 đồng

7

(sau đó, anh T5 đã bán điện thoại này cho một người không rõ nhân thân, lai lịch). T1 dùng số tiền này để chơi bắn cá và tiêu xài cá nhân hết. (BL: 97-117, 151-190).

Vật chứng thu giữ:

01 USB hiệu Kingston DTSE9 màu đen, dung lượng 01GB, đã qua sử dụng.

Đối với 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A13 màu xám đen, ram 4GB, bộ nhớ 128GB, đã qua sử dụng. Có gắn ốp lưng điện thoại màu đen, bằng nhựa dẻo, đã qua sử dụng. Cơ quan Công an không thu giữ được.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 168/KL-HĐĐGTS ngày 20/9/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Đ, kết luận: 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A13 màu xám đen, ram 4GB, bộ nhớ 128GB, đã qua sử dụng trị giá là 1.500.000 đồng (BL: 66-71).

Tại bản kết luận định giá tài sản số 192/KL-HĐĐGTS ngày 22/11/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Đ, kết luận: 01 ốp lưng điện thoại di động Samsung Galaxy A13 màu đen, bằng nhựa dẻo, đã qua sử dụng trị giá là 40.000 đồng (BL: 74-80).

Giá trị tài sản Trần Thị Hoài T1 chiếm đoạt được là 1.540.000 đồng.

Người bị hại:

Chị Đặng Thị Phương M1 yêu cầu bồi thường tiền điện thoại, tiền ốp lưng, tiền làm lại sim với số tiền 3.000.000 đồng (BL: 279, 280).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Anh Vũ Văn T5, sinh năm: 1999, nơi thường trú: Thôn L, xã L, huyện L, tỉnh Lâm Đồng; nơi ở hiện tại: Tổ A, Thôn F, xã T, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng

Cáo trạng số 24/CT-VKSÐL-LĐ ngày 06/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng truy tố bị cáo Nguyễn Hữu T về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 174 Bộ luật Hình sự; bị cáo Trần Thị Hoài T1 về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa sơ thẩm,

Bị cáo T: Không kêu oan, thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố nhưng khai báo quanh co, không thành khẩn.

Bị cáo T1: Thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng truy tố, không kêu oan.

Đại diện Viện kiểm sát thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng nêu ý kiến giải quyết vụ án: Giữ nguyên bản Cáo trạng và đề nghị xét xử:

  1. 1. Bị cáo Nguyễn Hữu T về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định điểm d khoản 2 Điều 174; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu T từ 04 năm đến 05 năm tù.

8

  1. 2. Bị cáo Trần Thị Hoài T1 về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định khoản 1 Điều 174; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Trần Thị Hoài T1 từ 24 tháng đến 30 tháng tù.
  2. 3. Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Trần Thị Hoài T1 và bị cáo Nguyễn Hữu T chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho các bị hại theo quy định của pháp luật.
  3. 4. Về biện pháp tư pháp: Buộc bị cáo Nguyễn Hữu T và bị cáo Trần Thị Hoài T1 nộp lại số tiền do thu lợi bất chính để sung ngân sách nhà nước.
  4. 5. Về xử lý vật chứng: Đề nghị giải quyết theo quy định pháp luật.

Lời sau cùng của các bị cáo:

  • - Bị cáo T: Bị cáo nhận thấy hành vi của bị cáo là sai trái, vi phạm pháp luật, bị cáo rất hối hận. Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, để bị cáo sớm trở về gia đình, bố mẹ.
  • - Bị cáo T1: Bị cáo nhận thấy hành vi của bị cáo là sai trái, vi phạm pháp luật, bị cáo rất hối hận. Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, để bị cáo sớm trở về với gia đình và con nhỏ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Quá trình điều tra, truy tố và xét xử cũng như tại phiên tòa, các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng phù hợp với quy định của pháp luật tố tụng hình sự. Các bị cáo, các bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều phù hợp.

Tại phiên tòa hôm nay, các bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt. Căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án.

[2] Về hành vi và tội danh của các bị cáo: Nguyễn Hữu T có tiền án về tội “Cướp tài sản” và “Trốn khỏi nơi giam”, chưa được xóa án tích. Khoảng 23 giờ ngày 13/9/2024, tại khu vực Ngã năm Đại học, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng, T cùng với Trần Thị Hoài T1 đã đưa ra thông tin gian dối hỏi mượn điện thoại di động của chị Nguyễn Thị Thảo N và chị Phạm Thị Bích T3 nhằm chiếm đoạt, tài sản có giá trị là 2.785.000 đồng. Ngoài ra, ngày 09/9/2024, ngày 14/9/2024 và ngày 16/9/2024 cũng với hành vi như trên Trần Thị Hoài T1 đã 03 lần tự mình thực

9

hiện chiếm đoạt điện thoại của chị Phạm Nguyễn Hoàng M; cháu Nguyễn Ngọc Yến N1 và của chị Đặng Thị Phương M1 có tổng giá trị là 18.085.000 đồng.

Lời khai nhận của các bị cáo phù hợp với lời khai của các bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, phù hợp với không gian, thời gian, địa điểm xảy ra hành vi phạm tội. Do đó đã có đủ cơ sở để Hội đồng xét xử xác định hành vi của bị cáo Nguyễn Hữu T đã cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại điểm d khoản 2 Điều 174 Bộ luật Hình sự và hành vi của bị cáo Trần Thị Hoài T1 đã cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự.

Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng truy tố các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo:

Bị cáo T và bị cáo T1 đều là người thực hành, trực tiếp thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của chị Nguyễn Thị Thảo N và chị Phạm Thị Bích T3 vào ngày 13/9/2024 với giá trị tài sản là 2.785.000 đồng. Các bị cáo cùng sử dụng số tiền chiếm đoạt này để chơi bắn cá, ăn uống. Hành vi của các bị cáo mang tính chất đồng phạm giản đơn nên phải cùng chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi này.

Đối với hành vi lừa đảo chiếm đoạt điện thoại của chị Phạm Nguyễn Hoàng M; cháu Nguyễn Ngọc Yến N1 và của chị Đặng Thị Phương M1 có tổng giá trị là 18.085.000 đồng: Bị cáo T3 tự mình thực hiện hành vi mượn điện thoại của bị hại rồi bỏ đi để chiếm đoạt. T và T3 không bàn bạc trước, T không có lời nói hay hành động giúp sức cho T3 nên T3 phải tự chịu trách nhiệm hình sự đối với các hành vi này.

[4] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Đối với bị cáo T3: Bị cáo phạm tội nhiều lần nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo T3 thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Bị cáo T3 có ông nội là Trần Văn T7 được Nhà nước tặng Huân chương kháng chiến hạng Nhì. Do đó áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 cho bị cáo.

Đối với bị cáo T: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo trả lời quanh co, khai báo không thành khẩn nên Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về việc không áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 cho bị cáo.

10

Xét thấy, các bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đủ khả năng nhận thức và làm chủ hành vi của mình, thực hiện tội phạm với lỗi cố ý. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, làm mất trật tự, trị an tại địa phương. Bị cáo T đã có tiền án và chưa được xóa án tích nhưng lại tiếp tục phạm tội, chứng tỏ bị cáo rất coi thường pháp luật. Bị cáo T3 phạm tội nhiều lần. Do đó cần phải xử lý nghiêm và cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ để cải tạo, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

[5] Về trách nhiệm dân sự:

Quá trình điều tra, bị hại bà Phạm Nguyễn Hoàng M yêu cầu bị cáo T3 bồi thường số tiền 20.000.000 đồng; cháu Nguyễn Ngọc Yến N1 yêu cầu bị cáo T3 bồi thường số tiền 9.000.000 đồng và chị Đặng Thị Phương M1 yêu cầu bị cáo T3 bồi thường số tiền 3.000.000 đồng nhưng không cung cấp được tài liệu chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của mình. Tại phiên tòa, bị cáo chỉ đồng ý bồi thường cho các bị hại theo Kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự nên ghi nhận và buộc bị cáo T3 bồi thường cho chị Phạm Nguyễn Hoàng M số tiền 9.500.000 đồng; cháu Nguyễn Ngọc Yến N1 7.045.000 đồng; chị Đặng Thị Phương M1 số tiền 1.540.000 đồng là có cơ sở.

Bị hại chị Nguyễn Thị Thảo N và chị Phạm Thị Bích T3 đã nhận lại tài sản nhưng có yêu cầu các bị cáo bồi thường tiền làm sim, mua ốp lưng, thay mặt kính điện thoại bị hư hỏng. Tại phiên tòa, các bị cáo chỉ đồng ý bồi thường tiền ốp điện thoại theo Kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự và số tiền 200.000 đồng mà T3 đã trộm của chị Bích T3. Do đó, buộc bị cáo T và bị cáo T3 liên đới bồi thường số tiền 45.000 đồng cho chị Nguyễn Thị Thảo N và bồi thường số tiền 245.000 đồng cho chị Phạm Thị Bích T3 là phù hợp.

[6] Về biện pháp tư pháp: Buộc bị cáo T3 nộp lại số tiền 17.800.000 đồng và bị cáo T nộp lại số tiền 1.500.000 đồng là tiền thu lợi bất chính để sung ngân sách nhà nước.

[7] Về xử lý vật chứng: Lưu hồ sơ vụ án 02 USB hiệu Kingston DTSE9 màu đen, dung lượng 01GB, đã qua sử dụng (BL274, 305)

[8] Các vấn đề khác:

Ngày 16/12/2024, Công an thành phố Đ đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 599/QĐ-XPHC đối với T3 về hành vi: Dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản của chị Đặng Thị Phương M1 vào ngày 16/9/2024, với hình thức xử phạt số tiền 2.500.000 đồng. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Lạt đã truy tố bị cáo T3 đối với hành vi này nên kiến nghị cơ quan Công an có thẩm quyền hủy một phần Quyết định trên theo quy định tại Điều 62 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2020.

11

Ngày 13/9/2024, sau khi Nguyễn Hữu T đưa cho Trần Thị Hoài T1 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A03 màu đen, T1 đã lấy 200.000 đồng trong tài khoản ngân hàng V số 1048373016 của chị Phạm Thị Bích T3 trên ứng dụng điện thoại trên để chơi bắn cá và mua đồ ăn. Tính đến ngày 13/9/2024, T3 chưa có tiền án tiền sự, do đó hành vi của T3 không cấu thành tội: Trộm cắp tài sản, quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Ngày 16/12/2024, Công an thành phố Đ đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 599/QĐ-XPHC đối với T3 về hành vi: Trộm cắp tài sản, với hình thức xử phạt số tiền 2.500.000 đồng là phù hợp.

Đối với Nguyễn Hữu T, vào ngày 09/9/2024, Trần Thị Hoài T1 chiếm đoạt điện thoại di động hiệu IPHONE 12 Promax của bà Phạm Nguyễn Hoàng M, sau đó T1 đem bán được 8.600.000 đồng, T1 đem tiền về nói với T: “Tiền bán điện thoại 12 promax lấy của bạn nữ quản lý ở quán cà phê hôm qua được 8.600.000 đồng”. Sau đó, T1 sử dụng số tiền này trả tiền chơi bắn cá, tiền ăn uống cho T1 và T. Toàn bộ số tiền trên Trâm quản lý và sử dụng, T không được chia số tiền này và không cùng T1 đi bán điện thoại nên không có cơ sở xử lý Nguyễn Hữu T về tội: Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có, quy định tại Điều 323 Bộ luật Hình sự. Đồng thời, hành vi của Trần Thị Hoài T1 phạm tội: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự. Do đó, việc T không tố giác hành vi phạm tội của T1 đến cơ quan chức năng không đủ yếu tố cấu thành tội: Không tố giác tội phạm, quy định tại Điều 390 Bộ luật Hình sự.

Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trương Công D, anh Nguyễn Xuân S, anh Nguyễn Thanh H2 và anh Vũ Văn T5 là những người mua, cầm cố điện thoại là tài sản do Trần Thị Hoài T1 phạm tội mà có. Quá trình điều tra anh S tự nguyện giao nộp tài sản cho Cơ quan CSĐT Công an thành phố Đ và không có yêu cầu bồi thường gì. Khi ông D, anh S, anh H2, anh T5 mua, cầm cố điện thoại thì không biết đây là tài sản do T1 chiếm đoạt của người khác mà có, nên không có cơ sở để xử lý D, S, H2 và T5 về tội: Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có, quy định tại Điều 323 Bộ luật Hình sự.

[8] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Hữu T và Trần Thị Hoài T1 phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản

Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 174; Điều 17; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu T 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 07/10/2024.

12

Áp dụng khoản 1 Điều 174; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Thị Hoài T1 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 18/9/2024.

2. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015; các Điều 275; 584; 585; 586; 589 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Buộc bị cáo Trần Thị Hoài T1 bồi thường cho chị Phạm Nguyễn Hoàng M số tiền 9.500.000 đồng; cháu Nguyễn Ngọc Yến N1 số tiền 7.045.000 đồng; chị Đặng Thị Phương M1 số tiền 1.540.000 đồng.

Buộc bị cáo Nguyễn Hữu T và bị cáo Trần Thị Hoài T1 có trách nhiệm liên đới bồi thường cho chị Nguyễn Thị Thảo N số tiền 45.000 đồng; chị Phạm Thị Bích T3 số tiền 240.000 đồng.

3. Về biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Buộc bị cáo T3 nộp lại số tiền 17.800.000 đồng và bị cáo T nộp lại số tiền 1.500.000 đồng thu lợi bất chính để sung ngân sách nhà nước.

4. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Lưu hồ sơ vụ án 02 USB hiệu Kingston DTSE9 màu đen, dung lượng 01GB, đã qua sử dụng (BL274, 305)

5. Về án phí: Căn cứ Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội:

Buộc bị cáo Nguyễn Trung T8 phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Buộc bị cáo Trần Thị Hoài T1 phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 918.500 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

6. Căn cứ Điều 62 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2020. Kiến nghị Cơ quan Công an có thẩm quyền hủy một phần Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 599/QĐ-XPHC ngày 16/12/2024 của Công an thành phố Đ đối với Trần Thị Hoài T1 về hành vi: Dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản của người khác, với hình thức xử phạt số tiền 2.500.000 đồng.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các bị cáo có quyền kháng cáo yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm. Người vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định./.

13

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Lâm Đồng (2);
  • - VKSND tỉnh Lâm Đồng;
  • - PV06 Công an tỉnh Lâm Đồng;
  • - VKSND thành phố Đà Lạt;
  • - Phân trại tạm giam Đà Lạt;
  • - Chi cục THADS thành phố Đà Lạt;
  • - Bị cáo;
  • - Đương sự;
  • - Bộ phận Thi hành án hình sự;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Hương Trang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 51/2025/HS-ST ngày 21/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT, TỈNH LÂM ĐỒNG về lừa đảo chiếm đoạt tài sản (vụ án hình sự)

  • Số bản án: 51/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Vụ án hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT, TỈNH LÂM ĐỒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyen Huu Th "Lua dao chiem doat tai san"
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger