Hệ thống pháp luật

TAND HUYỆN SÌN HỒ

TỈNH LAI CHÂU

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 51/2025/HS-ST

Ngày 18 - 3 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÌN HỒ, TỈNH LAI CHÂU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: ông Lê Minh Tuấn

  • Các hội thẩm nhân dân: ông Lường Văn Quý, bà Nguyễn Thị Thu

  • Thư ký phiên toà: ông Chảo Hò Sơn – Thẩm tra viên

  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sìn Hồ tham gia phiên toà: ông Phùng Văn Chử – Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 3 năm 2025 tại nhà văn hóa bản N, xã N, huyện S, tỉnh Lai Châu xét xử sơ thẩm lưu động, công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 54/2025/HSST ngày 13 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 53/2025/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 3 năm 2025 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Lò Văn L, sinh năm 1971 tại huyện S, tỉnh Lai Châu; giới tính: nam; tên gọi khác: không; nơi cư trú: bản N, xã N, huyện S, tỉnh Lai Châu; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 03/10; dân tộc: Thái; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: không; con ông: Lò Văn C - đã chết; con bà: Lò Thị X, tên gọi khác là S – đã chết. Gia đình bị cáo có 05 anh, chị em, bị cáo là con thứ 05 trong gia đình; vợ: Lò Thị Ơ, sinh năm 1974; con: bị cáo có 04 con, con lớn nhất sinh năm 1994, con nhỏ nhất sinh năm 2016; tiền sự: không.

Tiền án: bị cáo có 02 tiền án: Tại bản án số 80/2016/HSST ngày 29/11/2016, của TAND huyện Sìn Hồ, xử phạt Lò Văn L 02 năm 03 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và 02 năm tù về tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”, tổng hợp hình phạt của cả hai tội là 04 năm 03 tháng tù. Tại bản án hình sự số 02/2021/HS-ST ngày 25/10/2021, của TAND huyện Sìn Hồ, tuyên Lò Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Về hình phạt: áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS, xử phạt 01 năm 06 tháng tù. Ngày 08/6/2023, Lò Văn L đã chấp hành xong hình phạt tù và các quyết định khác của các bản án này. Tính đến thời điểm phạm tội ngày 24/6/2024, bị cáo Lò Văn L đã tái phạm, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý. Do đó lần phạm tội của bản án này thuộc trường hợp “Tái phạm nguy hiểm”;

Bị cáo bị bắt và tạm giữ từ ngày 24/6/2024, bị tạm giam từ ngày 03/7/2024 đến nay tại Phân trại tạm giam khu vực S, tỉnh Lai Châu. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

2. Họ và tên: Lý Thị Đ, sinh năm 2000 tại huyện S, tỉnh Lai Châu; giới tính: Nữ; tên gọi khác: không; nơi đăng ký HKTT: bản L, xã B, huyện P, tỉnh Lai Châu; nơi ở trước khi bị bắt: bản Noong Om, xã N, huyện S, tỉnh Lai Châu; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Thái; Quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: không; bố đẻ không xác định được, cha dượng: Lừu Văn D, đã chết; con bà: Lý Thị T, sinh năm 1960. Anh, chị em: bị cáo là con duy nhất; chồng, con: bị cáo chưa có chồng con; tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo bị bắt và bị tạm giữ từ ngày 24/6/2024, bị tạm giam từ ngày 03/7/2024 đến nay tại Phân trại tạm giam khu vực S, tỉnh Lai Châu. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

  • * Người bị hại: bà Lò Thị P, sinh năm 1980. Có mặt

  • Địa chỉ: bản N, xã N, huyện S, tỉnh Lai Châu.

  • * Người làm chứng: bà Trịnh Thị V, sinh năm 1973. Vắng mặt

  • Địa chỉ: bản N, xã N, huyện S, tỉnh Lai Châu.

  • * Người bào chữa cho các bị cáo: Bà Nông Thị Minh H - Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý của Nhà nước tỉnh Lai Châu. Có mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vụ án thứ nhất:

Khoảng 19 giờ ngày 23/6/2024, Lò Văn L đang ở nhà một mình tại bản Noong Hẻo 1, xã N, huyện S thì mua được 01 gói Heroine với giá 1.000.000 đồng của một người đàn ông dân tộc Dao, khoảng 30 tuổi, không rõ nhân thân, lai lịch. Mua được H1, L mở ra dùng tay cấu lấy một phần để sử dụng, phần còn lại chia ra thành 05 gói nhỏ, mỗi gói đều gói lại bằng nilon màu hồng, cho vào một lọ kim loại màu vàng có nắp đậy, cất giấu ở chân cột nhà ngay cạnh giường ngủ của mình, không cho ai biết, mục đích để sử dụng và bán kiếm lời. Đến khoảng 07 giờ ngày 24/6/2024, khi L đang ở nhà thì Lý Thị Đ đến nhà hỏi mua 100.000 đồng Heroine, L đồng ý rồi lấy 01 gói Heroine được gói bằng mảnh nilon màu hồng ở trong lọ kim loại cất giấu cạnh giường ngủ ra bán cho Lý Thị Đ lấy 100.000 đồng. Khi Đ vừa nhận gói Heroine từ L, thì bị Tổ công tác Công an xã N đang làm nhiệm vụ phát hiện, khống chế cả hai người, thu giữ của Lý Thị Đ 01 gói chất bột màu trắng được gói bằng mảnh nilon màu hồng. Lý Thị Đ khai nhận, gói chất bột màu trắng trên là Heroine của Đ, vừa mua được của Lò Văn L với giá 100.000 đồng với mục đích để sử dụng cho bản thân. Lò Văn L tự giác giao nộp số tiền 100.000 đồng và khai nhận đó là tiền vừa bán 01 gói Heroine cho Lý Thị Đ mà có; đồng thời, Lò Văn L đã tự giác giao nộp 04 gói Heroine được đựng trong 01 lọ kim loại màu vàng có nắp đậy, đang cất giấu ở chân cột nhà ngay cạnh giường ngủ của mình và khai nhận đó là H1, L cất giấu vừa để sử dụng và bán kiếm lời.

Vụ án thứ hai:

Do biết chồng chị Lò Thị P, sinh năm 1980, trú tại bản Noong Hẻo 1, xã N, huyện S là Lò Văn C1, sinh năm 1976 bị cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện S, khởi tố về tội mua bán trái phép chất ma túy. Lý Thị Đ đã nảy sinh ý định lừa đảo chiếm đoạt tài sản của Lò Thị P để tiêu xài cá nhân. Khoảng 10 giờ ngày 20/6/2024, khi Lý Thị Đ đang ngồi chơi tại ngã tư thuộc xã N thì gặp một người đàn ông. Qua nói chuyện, người này giới thiệu tên là T1, nhà ở huyện M nhưng không nói địa chỉ cụ thể. Lý Thị Đ nhờ người đàn ông tên T1 này giả làm cán bộ Công an để nói qua điện thoại với chị Lò Thị P “tôi là Công an đây, chị có muốn chạy cho chồng chị không” để lừa đảo chiếm đoạt tiền của P. Lý Thị Đ dùng điện thoại của mình, số thuê bao 0961.662.803 gọi vào thuê bao điện thoại số 0869.188.xxx của Lò Thị P rồi đưa máy cho T1 nói chuyện, khi cháu Lò Văn H2, sinh năm 2016 (con của chị P) nghe máy, T1 chỉ nói được câu “chú là Công an”, không nói được câu tiếp theo, sợ bị phát hiện nên Đ giật lấy điện thoại tắt máy và T1 cũng đi về. Một lúc sau, Đ tiếp tục điện thoại cho cháu H2 và dặn “khi nào mẹ về thì bảo gọi điện thoại cho chú”. Đến khoảng 14 giờ 30 phút cùng ngày, Đ tiếp tục dùng số điện thoại của mình gọi điện cho chị P. Khi P nghe máy, Đ tự xưng là cán bộ công an huyện, tên T2, nếu P muốn chạy án cho chồng là Lò Văn C1 thì phải chuyển cho T2 số tiền 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng. Sau đó, Đ gửi cho P số tài khoản 5620588888, ngân hàng T4, chủ tài khoản Quàng Thị T3 do Lý Thị Đ sử dụng và liên tục nhắn tin thúc giục P chuyển tiền. Đ nói với chị P đấy là số điện thoại và tài khoản của cán bộ Công an, lợi dụng chị P không biết chữ, Đ dùng điện thoại của P và điện thoại của mình nhắn nhiều tin qua lại với nhau để tạo hội thoại sẽ giúp đỡ giảm án cho chồng chị P, sau đó P và Đ về nhà của P. Về đến nhà, Đ đọc các tin nhắn mình đã nhắn qua lại trước đó cho P nghe để tạo niềm tin và thúc dục P chuyển tiền, Đ thống nhất với P chuyển 6.000.000 đồng thì sẽ giúp chạy án cho chồng. Sau khi nghe Đạnh dịch tin nhắn của người đàn ông tên T2 có thể giúp giảm án được cho chồng mình, đến khoảng 16 giờ cùng ngày 20/6/2024, P cầm tiền rồi cùng Lý Thị Đ đến nhà chị Trịnh Thị V, sinh năm 1973, trú cùng bản đưa tiền mặt cho chị V 6.000.000 đồng, nhờ chuyển khoản vào số tài khoản 5620588888 của Quàng Thị T3, sau khi chuyển khoản thành công, Đ ra ngoài nói với P rồi Đ lấy điện thoại của P chụp lại giao dịch chuyển tiền thành công từ điện thoại của chị V. Khi nhận được tiền, Đ đã chuyển toàn bộ số tiền 6.000.000 đồng từ tài khoản ngân hàng mang tên Quàng Thị T3 sang tài khoản 6999911062000 ngân hàng M, chủ tài khoản Lý Thị Đ để tránh bị phát hiện với mục đích tiêu xài cá nhân hết số tiền 6.000.000 đồng. Sau khi Lý Thị Đ bị Cơ quan Công an bắt về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, chị P không thấy có cán bộ công an nào liên lạc lại, gọi điện vào số điện thoại 0961.662.xxx nhưng đã bị chặn cuộc gọi. Nghi ngờ Lý Thị Đ chính là người đã lừa đảo chiếm đoạt tiền của mình nên ngày 29/7/2024, Lò Thị P đến Cơ quan Công an trình tố giác Lý Thị Đ đã có hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản, đề nghị xác minh điều tra làm rõ để xử lý theo quy định của pháp luật. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa đã làm rõ hành vi phạm tội của các bị cáo.

Tại các bản kết luận giám định tư pháp số 208, 209 ngày 24/6/2024 của người giám định theo vụ việc, kết luận: 04 gói chất bột màu trắng thu giữ của Lò Văn L có tổng khối lượng 0,28 gam: 01 gói chất bột màu trắng thu giữ của Lý Thị Đ1 có khối lượng 0,17 gam.

Tại bản kết luận giám định số 844 ngày 26/6/2024 và số 847 ngày 27/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh L kết luận: Các mẫu chất bột màu trắng gửi giám định đều là ma túy, loại: Heroine.

Quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã thu giữ những vật chứng sau:

Đối với 0,17 gam Heroine thu giữ của Lý Thị Đ, 0,28 gam Heroine thu giữ của Lò Văn L1 Cơ quan điều tra đã gửi toàn bộ đi giám định, mẫu vật không hoàn lại. Vật chứng còn lại của vụ án: 01 lọ kim loại hình trụ tròn, màu vàng đồng có nắp đậy, 05 mảnh nilon màu hồng, 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG loại Galaxy A05s, (đã qua sử dụng) và số tiền 100.000 đồng.

Bản cáo trạng số 13/CT - VKSSH ngày 13/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sìn Hồ đã Truy tố các bị cáo Lò Văn L về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm q khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự; truy tố đối với Lý Thị Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại định tại điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự và tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại Khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa vị đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm q khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Điều 38 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Lò Văn L, xử phạt bị cáo Lò Văn L từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù. Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt: Lý Thị Đ: từ 01 năm 04 tháng đến 01 năm 08 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Xử phạt từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Áp dụng Điều 55 Bộ luật hình sự tổng hợp hình phạt của hai tội. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249, khoản 5 Điều 174 Bộ luật hình sự.

Xử lý vật chứng: đề nghị áp dụng Điều 46, điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự. Điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: tịch thu, tiêu hủy 01 lọ kim loại hình trụ tròn, màu vàng đồng có nắp đậy, 05 mảnh nilon màu hồng. Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG loại Galaxy A05s, (đã qua sử dụng) và số tiền 100.000 đồng.

Về trách nhiệm dân sự: tại phiên tòa người bị hại bà Lò Thị P đề nghị bị cáo Lý Thị Đ bồi thường trả lại cho bà số tiền 6.000.000 đồng ngoài ra không yêu cầu gì khác, bị cáo Lý Thị Đ nhất trí bồi thường trả lại cho bà P toàn bộ số tiền trên nên đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận sự thỏa thuận này. Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 48 của Bộ luật hình sự, các Điều 584, 585, 586, 589 của Bộ luật dân sự. Điều 246 Bộ luật tố tụng dân sự: sau khi bản án này có hiệu lực bị cáo Lý Thị Đ có trách nhiệm trả toàn bộ số tiền 6.000.000 đồng cho bị hại bà Lò Thị P. Về hình phạt người bị hại bà P đề nghị xét xử bị cáo theo quy định của pháp luật. Đề nghị miễn án phí sơ thẩm cho cả hai bị cáo.

Người bào chữa cho các bị cáo: về hình phạt đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Lò Văn L và Lý Thị Đ. Đề nghị miễn án phí cho các bị cáo.

Các bị cáo nhất trí và không có tranh luận gì với Đại diện Viện kiểm sát. Tại lời nói sau cùng bị cáo L rất hối hận về hành vi phạm tội của mình và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bị cáo Đ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện S, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sìn Hồ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, các bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội:

Lời khai nhận tội của các bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng và các tài liệu chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án, có đủ căn cứ để khẳng định:

Đối với bị cáo Lò Văn L: Khoảng 07 giờ ngày 24/6/2024, tại nhà ở của mình thuộc bản N, xã N, huyện S, tỉnh Lai Châu, bị cáo Lò Văn L đã có hành vi bán trái phép 01 gói Heroine có khối lượng 0,17 gam cho bị cáo Lý Thị Đ với giá 100.000 đồng, mục đích để Đ sử dụng. Khi Đ vừa nhận gói Heroine từ Lướng thì bị cơ quan Công an phát hiện, bắt quả tang, thu giữ vật chứng. Ngoài ra bị cáo Lò Văn L còn tàng trữ trái phép 0,28 gam Heroine với mục đích để bán kiếm lời.

Bị cáo Lò Văn L phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” với tổng khối lượng ma túy là 0,45 gam Heroine, trong đó: 0,28 gam Heroine tàng trữ để bán kiếm lời và 0,17 gam H1 đã bán cho Lý Thị Đ. Bị cáo Lò Văn L là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Hành vi nêu trên của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách quản lý đặc biệt về các chất ma tuý của Nhà nước. Ý thức được điều đó nhưng bị cáo vì mục đích bán ma túy để tư lợi cho bản thân, ngoài ra bị cáo phạm tội thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm nên bị cáo phải chịu trách nhiệm về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm q khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Bị cáo Lý Thị Đ ngày 24/6/2024 đã có hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” với khối lượng 0,17 gam Heroine với mục đích để sử dụng cho bản thân. Về tội danh lừa đảo chiếm đoạt tài sản: khoảng 16 giờ ngày 20/6/2024, tại bản Noong Hẻo 1, xã N, huyện S, lợi dụng sự thiếu hiểu biết của bị hại Lò Thị P, sinh năm 1980, trú tại bản Noong Hẻo 1, xã N, bị cáo Lý Thị Đ đã có hành vi dùng thủ đoạn gian dối, giả danh cán bộ Công an huyện S, lừa đảo chiếm đoạt số tiền 6.000.000 đồng của bà Lò Thị P với mục đích tiêu xài cá nhân.

Hành vi nêu trên của Lý Thị Đ là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về quản lý đối với các chất ma tuý, gây mất trật tự, trị an, an toàn xã hội tại địa phương. Ngoài hành vi nêu trên, bị cáo Lý Thị Đ còn có hành vi xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác, hành vi đó là nguy hiểm cho xã hội. Ý thức được điều đó nhưng bị cáo vẫn cố ý phạm tội nên bị cáo phải chịu trách nhiệm về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại định tại điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự và tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại Khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự.

[3] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử:

Bị cáo Lò Văn L đã có hai tiền án chưa được xóa án tích nên bị cáo bị định khung hình phạt tăng nặng. Bị cáo Lò Văn L đã thành khẩn khai báo, bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, bị cáo L có bố là ông Lò Văn C được Nhà nước tặng thưởng huân chương kháng chiến chống Mỹ cứu nước nên Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.

Bị cáo Lý Thị Đ đã thành khẩn khai báo, bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với cả hai tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại Khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự và tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.

Trên cơ sở tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, xét nhân thân và các tình tiết Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để giáo dục, răn đe các bị cáo, giúp các bị cáo cải tạo, phấn đấu trở thành công dân tốt, sống tôn trọng quy định của pháp luật và có ích cho gia đình, xã hội. Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, người bào chữa và người bị hại là có căn cứ nên cần được chấp nhận.

[4] Về hình phạt bổ sung: xét thấy các bị cáo làm nghề tự do công việc và thu nhập không ổn định, gia đình có hoàn cảnh khó khăn. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

[5] Về vật chứng của vụ án: là công cụ phương tiện phạm tội, không còn giá trị sử dụng nên tịch thu, tiêu hủy 01 lọ kim loại hình trụ tròn, màu vàng đồng có nắp đậy, 05 mảnh nilon màu hồng. Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG loại Galaxy A05s, (đã qua sử dụng) và số tiền 100.000 đồng.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự thỏa thuận của bị cáo Lý Thị Đ và người bị hại Lò Thị P: sau khi bản án này có hiệu lực bị cáo Lý Thị Đ có trách nhiệm trả toàn bộ số tiền 6.000.000 đồng cho bị hại bà Lò Thị P.

[7] Về các vấn đề liên quan:

  • - Về nguồn gốc ma túy của bị cáo Lò Văn L khai là của một người đàn ông dân tộc Dao khoảng 30 tuổi, không rõ nhân thân, lai lịch. Ngoài lời khai duy nhất của bị cáo Lò Văn L, không có tài liệu, chứng cứ khác chứng minh nên Hội đồng xét xử không có căn cứ xem xét.

  • - Đối với bà Lò Thị P, sinh năm 1980 trú tại bản Noong Hẻo 1, xã N, huyện S, đã chuyển cho Lý Thị Đ số tiền 6.000.000 đồng với mục đích để để xin giảm án phạt tù cho chồng là Lò Văn C1, sinh năm 1976. Tuy nhiên, Lò Thị P đã chủ động tố giác và khai báo hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của bị cáo Lý Thị Đ trước cơ quan Công an trước khi hành vi của mình bị phát giác. Cơ quan điều tra Công an huyện S không xử lý Lò Thị P về hành vi đưa hối lộ là có căn cứ đúng theo quy định tại khoản 7 Điều 364 Bộ luật hình sự.

  • - Đối với người đàn ông tên T1 được bị cáo Lý Thị Đ nhờ giả danh Công an nói qua điện thọai với Lò Thị P. Quá trình điều tra không xác định được nhân thân, lai lịch của người đàn ông này. Ngoài lời khai duy nhất của Lý Thị Đ, không có tài liệu, chứng cứ khác chứng minh nên Hội đồng xét xử không có căn cứ xem xét.

  • - Đối với người phụ nữ tên Quàng Thị T3, sinh năm 2005, trú tại bản Ban, xã M, huyện M, tỉnh Điện Biên. Lý Thị Đ khai nhận tài khoản ngân hàng E, mở tại ngân hàng T4, chủ tài khoản QUANG THỊ THUONG là do Đạnh nhờ sử dụng CCCD của T3 để mở tài khoản để Đ sử dụng, tại phiên tòa bị cáo Đ khai sử dụng tài khoản này để phạm tội thì T3 không biết, không liên quan đến T3. Quá trình điều tra, Quàng Thị T3 không có mặt tại địa phương, không rõ đang làm gì, ở đâu. Do đó, cơ quan CSĐT đã ra quyết định tách hành vi, tài liệu liên Quàng Thị T3 để tiếp tục xác minh, điều tra, làm rõ, nếu đủ căn cứ sẽ xử lý trong một vụ án khác.

  • - Đối với Trịnh Thị V, sinh năm 1973, trú tại bản Noong Hẻo 1, xã N, huyện S, tỉnh Lai Châu là người chuyển tiền vào số tài khoản mang tên Quàng Thị T3 giúp Lò Thị P số tiền 6.000.000 đồng. Trịnh Thị V không biết mục đích chuyển tiền của Lò Thị P nên V không phạm tội.

  • [7] Về án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho cả hai bị cáo và miễn án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch cho các bị cáo Lý Thị Đ theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm q khoản 2, khoản 5 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 46, điểm a, b khoản 1 Điều 47, Điều 38 Bộ luật hình sự. Điểm a, b khoản 2, Điều 106, Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án đối với bị cáo Lò Văn L.

Căn cứ vào điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51. Khoản 1 Điều 174, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 46, điểm a, b khoản 1 Điều 47, Điều 38 Bộ luật hình sự. Điểm a, b khoản 2 Điều 106, Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án đối với bị cáo Lý Thị Đ:

  1. Tuyên bố

    bị cáo Lò Văn L phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”. Bị cáo Lý Thị Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” và tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

  2. Về hình phạt:

    • - Xử phạt bị cáo Lò Văn L: 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”. Thời hạn tù tính từ ngày 24/6/2024. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

    • - Xử phạt bị cáo Lý Thị Đ: 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Xử phạt Lý Thị Đ 01 (một) năm 04 (bốn) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 55 Bộ luật hình sự: Tổng hợp hình phạt chung cho cả hai tội là: 02 (hai) năm 10 (mười) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 24/6/2024. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

  3. Về trách nhiệm dân sự:

    áp dụng khoản 1 Điều 48 của Bộ luật hình sự, các Điều 584, 585, 586, 589 của Bộ luật dân sự. Điều 246 Bộ luật tố tụng dân sự: Ghi nhận sự thỏa thuận của bị cáo Lý Thị Đ và người bị hại Lò Thị P: sau khi bản án này có hiệu lực bị cáo Lý Thị Đ có trách nhiệm trả toàn bộ số tiền 6.000.000 đồng cho bị hại bà Lò Thị P.

  4. Về vật chứng của vụ án:

    tịch thu, tiêu hủy 01 lọ kim loại hình trụ tròn, màu vàng đồng có nắp đậy, 05 mảnh nilon màu hồng, tịch thu, nộp ngân sách nhà nước 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG loại Galaxy A05s, (đã qua sử dụng) và số tiền 100.000 đồng.

    (Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng vào hồi 10 giờ 30 phút ngày 18/02/2025 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện S với Chi Cục thi hành án dân sự huyện Sìn Hồ).

  5. Về án phí:

    Miễn án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự có giá ngạch cho bị cáo Lý Thị Đ. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lò Văn L.

    Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

    Trường hợp bản án, quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

    Bị hại có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân cấp trên trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

    Các bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân cấp trên trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Lai Châu;
  • - VKSND tỉnh Lai Châu;
  • - Phòng hồ sơ Công an tỉnh Lai Châu;
  • - VKSND huyện Sìn Hồ;
  • - Chi Cục THADS huyện Sìn Hồ;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Lai Châu;
  • - Phân trại tạm giam khu vực Sìn Hồ;
  • - Các bị cáo; Người bào chữa;
  • - Người bị hại;
  • - Lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - chủ toạ phiên toà

Lê Minh Tuấn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 51/2025/HS-ST ngày 18/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÌN HỒ, TỈNH LAI CHÂU về vụ án hình sự: mua bán trái phép chất ma tuý, tàng trữ trái phép chất ma tuý và lừa đảo chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 51/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự: Mua bán trái phép chất ma tuý, Tàng trữ trái phép chất ma tuý và Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÌN HỒ, TỈNH LAI CHÂU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lò Văn L phạm tội MBTPCMT, Lý Thị Đạnh phạm 02 tội, TTTPCMT và Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger