Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHỢ MỚI

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 51/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 04 - 3 - 2025

V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Phước Sang

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Đặng Văn Tâm
  2. Bà Phan Thị Nga

- Thư ký phiên tòa: Ông Hồ Nhựt Huy - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới tham gia phiên tòa: Bà Đoàn Thụy Thùy Trang - Kiểm sát viên

Ngày 04 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 754/2024/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 11 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 17/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 01 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 45/2025/QĐST-HNGĐ ngày 06 tháng 02 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang, giữa:

  1. Nguyên đơn: Chị Hồ Ngọc Tuyết T, sinh năm 2002
  2. Nơi cư trú: Số F, ấp L, xã L, huyện C, tỉnh An Giang (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

  3. Bị đơn: Anh Lê Ngọc Trường N, sinh năm 1998
  4. Nơi cư trú: Số B, ấp L, xã L, huyện C, tỉnh An Giang (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Hồ Ngọc Tuyết T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Do tự tìm hiểu nên chị Hồ Ngọc Tuyết T và anh Lê Ngọc Trường N tự nguyện tiến đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện C, tỉnh An Giang vào ngày 23/11/2022. Sau khi kết hôn, chị Hồ Ngọc Tuyết T và anh Lê Ngọc Trường N chung sống tại số B, ấp L, xã L, huyện C, tỉnh An Giang. Đến năm 2023, chị Hồ Ngọc Tuyết T và anh Lê Ngọc Trường N sinh sống và làm việc tại Ấp D, xã T, huyện L, tỉnh Đồng Nai. Vợ chồng chung sống đến cuối năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn về vấn đề kinh tế, anh Lê Ngọc Trường N làm việc (nghề lái taxi) nhưng không kiếm được thu nhập mà anh Lê Ngọc Trường N không đồng ý để chị Hồ Ngọc Tuyết T1 kiếm việc làm nên dẫn đến không có tiền để lo cho cuộc sống gia đình nên vợ chồng thường xảy ra cãi vả; trong quá trình cãi vả anh Lê Ngọc Trường N thường xuyên có hành vi dùng tính mạng của bản thân anh Lê Ngọc Trường N (dùng dao để đưa vào cổ của chính mình) để de dọa chị Hồ Ngọc Tuyết T gây tổn hại đến tinh thần và sức khỏe của chị Hồ Ngọc Tuyết T; ngoài ra, anh Lê Ngọc Trường N chỉ lo đi làm, không quan tâm đến gia đình (01 ngày chỉ về nhà khoảng 01 giờ đến 02 giờ là tiếp tục đi làm). Ngoài ra không còn nguyên nhân nào khác. Đến đầu năm 2024, mâu thuẫn vợ chồng trở nên trầm trọng nên vợ chồng sống ly thân cho đến nay. Trong thời gian vợ chồng sống ly thân, gia đình hai bên có động viên hàn gắn tình cảm vợ chồng cho chị Hồ Ngọc Tuyết T và anh Lê Ngọc Trường N; chị Hồ Ngọc Tuyết T và anh Lê Ngọc Trường N không cho nhau cơ hội để hàn gắn tình cảm vợ chồng nên không hàn gắn được. Do tình cảm vợ chồng không còn nên chị Hồ Ngọc Tuyết T yêu cầu được ly hôn với anh Lê Ngọc Trường N.

Về con chung: Chị Hồ Ngọc Tuyết T xác định chị Hồ Ngọc Tuyết T và anh Lê Ngọc Trường N Không có con chung nên không yêu câu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Chứng cứ chứng minh cho yêu cầu khởi kiện gồm: Giấy chứng nhận kết hôn.

Anh Lê Ngọc Trường N vắng mặt nên không ghi nhận được ý kiến.

Tại phiên tòa,

Chị Hồ Ngọc Tuyết T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt và vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, lời trình bày trong quá trình giải quyết vụ án.

Anh Lê Ngọc Trường N vắng mặt nên không ghi nhận được ý kiến.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:

Việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án dân sự ở giai đoạn sơ thẩm: Người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng đã làm đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung vụ án: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hồ Ngọc Tuyết T. Về quan hệ hôn nhân, chị Hồ Ngọc Tuyết T được ly hôn với anh Lê Ngọc

Trường N. Về con chung, tài sản chung và nợ chung không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đề cập đến.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Căn cứ Giấy chứng nhận kết hôn, anh Lê Ngọc Trường N có nơi cư trú tại ấp L, xã L, huyện C, tỉnh An Giang. Đồng thời, tại Biên bản xác minh ngày 13/01/2025 xác định, anh Lê Ngọc Trường N có cư trú và đăng ký thường trú tại ấp L, xã L, huyện C, tỉnh An Giang nhưng hiện nay thường vắng mặt tại địa phương do đi làm ăn xa; địa phương không xác định được thời gian trở về và nơi làm việc của anh Lê Ngọc Trường N do anh Lê Ngọc Trường N không có trình báo chính quyền địa phương. Căn cứ Điều 11 Luật Cư trú, Điều 5 và khoản 1 Điều 6 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Do đó, Hội đồng xét xử xác định nơi cư trú của anh Lê Ngọc Trường N tại ấp L, xã L, huyện C, tỉnh An Giang để giải quyết vụ án theo thủ tục chung.

[1.2] Chị Hồ Ngọc Tuyết T khởi kiện yêu cầu được ly hôn đối với anh Lê Ngọc Trường N là tranh chấp về hôn nhân và gia đình. Đồng thời, anh Lê Ngọc Trường N (bị đơn) có nơi cư trú tại ấp L, xã L, huyện C, tỉnh An Giang nên Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới thụ lý giải quyết là đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.3] Đối với anh Lê Ngọc Trường N đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật để tham gia tố tụng trong vụ án nhưng vắng mặt không có lý do trong quá trình tố tụng tại Tòa án. Tại phiên tòa, chị Hồ Ngọc Tuyết T đề nghị xét xử vắng mặt; anh Lê Ngọc Trường N đã được triệu tập hợp lệ lần thứ 02 để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị Hồ Ngọc Tuyết T và anh Lê Ngọc Trường N.

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1] Xét yêu cầu được ly hôn với anh Lê Ngọc Trường N của chị Hồ Ngọc Tuyết T, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Chị Hồ Ngọc Tuyết T cho rằng, chị Hồ Ngọc Tuyết T và anh Lê Ngọc Trường N tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện C, tỉnh An Giang. Vợ chồng chung sống đến cuối năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn do anh Lê Ngọc T2 không quan tâm đến gia đình; thu nhập của anh Lê Ngọc T2 không đủ chi tiêu trong đình nhưng anh Lê Ngọc Trường N không đồng ý để chị Hồ Ngọc Tuyết T1 kiếm việc làm, dẫn đến không đủ tiền để lo cho cuộc sống gia đình nên vợ chồng thường xảy ra cãi vả; khi xảy ra cãi vả, anh

Lê Ngọc Trường N thường xuyên có hành vi dùng tính mạng của bản thân anh Lê Ngọc Trường N để de dọa chị Hồ Ngọc Tuyết T, làm ảnh hưởng đến tinh thần và sức khỏe của chị Hồ Ngọc Tuyết T. Đến đầu năm 2024, mâu thuẫn vợ chồng trở nên trầm trọng nên vợ chồng sống ly thân cho đến nay. Trong thời gian vợ chồng sống ly thân, gia đình hai bên có động viên hàn gắn tình cảm vợ chồng cho chị Hồ Ngọc Tuyết T và anh Lê Ngọc Trường N nhưng không được; chị Hồ Ngọc Tuyết T và anh Lê Ngọc Trường N không cho nhau cơ hội để hàn gắn tình cảm vợ chồng. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên chị Hồ Ngọc Tuyết T yêu cầu ly hôn với anh Lê Ngọc Trường N.

Anh Lê Ngọc Trường N đã được tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật nhưng không có ý kiến phản đối đối với yêu cầu khởi kiện của chị Hồ Ngọc Tuyết T.

Xét thấy, chị Hồ Ngọc Tuyết T và anh Lê Ngọc Trường N kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn theo quy định tại Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình, là hôn nhân hợp pháp nên được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Anh Lê Ngọc Trường N đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật nhưng không có ý kiến phản đối đối với yêu cầu khởi kiện của chị Hồ Ngọc Tuyết T theo quy định tại Điều 91 và Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành hòa giải, hàn gắn tình cảm vợ chồng cho chị Hồ Ngọc Tuyết T và anh Lê Ngọc Trường N theo quy định của pháp luật nhưng anh Lê Ngọc Trường N vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng tại Tòa án nên không hòa giải được, thể hiện anh Lê Ngọc Trường N không còn thiện chí níu kéo quan hệ hôn nhân giữa chị Hồ Ngọc Tuyết T và anh Lê Ngọc Trường N nên lời trình bày của chị Hồ Ngọc Tuyết T về nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn và tình trạng hôn nhân giữa chị Hồ Ngọc Tuyết T và anh Lê Ngọc Trường N đã lâm vào tình trạng trầm trọng là có cơ sở chấp nhận. Do đó, có căn cứ để xác định hôn nhân giữa chị Hồ Ngọc Tuyết T và anh Lê Ngọc Trường N đã lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài, việc chị Hồ Ngọc Tuyết T yêu cầu ly hôn anh Lê Ngọc Trường N phù hợp với khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình nên được chấp nhận.

[2.2] Về con chung: Chị Hồ Ngọc Tuyết T xác định chị Hồ Ngọc Tuyết T và anh Lê Ngọc Trường N không có con chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó, Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét, trường hợp sau này có tranh chấp sẽ được giải quyết bằng một vụ án dân sự khác.

[2.3] Đối với tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét. Trường hợp sau này có tranh chấp sẽ được giải quyết bằng một vụ án dân sự khác.

[3] Về án phí và quyền kháng cáo:

Chị Hồ Ngọc Tuyết T phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị

quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Các đương sự được quyền kháng cáo Bản án theo quy định tại Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

  • Điều 28, 35, 39, 147, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
  • Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Hồ Ngọc Tuyết T.

[1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Hồ Ngọc Tuyết T được ly hôn anh Lê Ngọc Trường N.

[2] Về con chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[3] Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[4] Về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Hồ Ngọc Tuyết T phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí ly hôn nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 (ba trăm nghìn) đồng đã nộp theo Biên lai thu số 0023642 ngày 11/11/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.

[6] Về quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

[7] Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - VKSND tỉnh An Giang;
  • - VKSND huyện Chợ Mới;
  • - Chi cục THADS huyện Chợ Mới;
  • - Đương sự;
  • - UBND xã Long Giang, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang;
  • - Văn phòng;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Phước Sang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 51/2025/HNGĐ-ST ngày 04/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 51/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 04/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Do tự tìm hiểu nên chị Hồ Ngọc Tuyết T và anh Lê Ngọc Trường N tự nguyện tiến đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện C, tỉnh An Giang vào ngày 23/11/2022. Sau khi kết hôn, chị Hồ Ngọc Tuyết T và anh Lê Ngọc Trường N chung sống tại số B, ấp L, xã L, huyện C, tỉnh An Giang. Đến năm 2023, chị Hồ Ngọc Tuyết T và anh Lê Ngọc Trường N sinh sống và làm việc tại Ấp D, xã T, huyện L, tỉnh Đồng Nai. Vợ chồng chung sống đến cuối năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn về vấn đề kinh tế, anh Lê Ngọc Trường N làm việc (nghề lái taxi) nhưng không kiếm được thu nhập mà anh Lê Ngọc Trường N không đồng ý để chị Hồ Ngọc Tuyểt T1 kiếm việc làm nên dẫn đến không có tiền để lo cho cuộc sống gia đình nên vợ chồng thường xảy ra cãi vả; trong quá trình cãi vả anh Lê Ngọc Trường N thường xuyên có hành vi dùng tính mạng của bản thân anh Lê Ngọc Trường N (dùng dao để đưa vào cổ của chính mình) để de dọa chị Hồ Ngọc Tuyết T gây tổn hại đến tinh thần và sức khỏe của chị Hồ Ngọc Tuyết T; ngoài ra, anh Lê Ngọc Trường N chỉ lo đi làm, không quan tâm đến gia đình (01 ngày chỉ về nhà khoảng 01 giờ đến 02 giờ là tiếp tục đi làm). Ngoài ra không còn nguyên nhân nào khác. Đến đầu năm 2024, mâu thuẫn vợ chồng trở nên trầm trọng nên vợ chồng sống ly thân cho đến nay. Trong thời gian vợ chồng sống ly thân, gia đình hai bên có động viên hàn gắn tình cảm vợ chồng cho chị Hồ Ngọc Tuyết T và anh Lê Ngọc Trường N; chị Hồ Ngọc Tuyết T và anh Lê Ngọc Trường N không cho nhau cơ hội để hàn gắn tình cảm vợ chồng nên không hàn gắn được. Do tình cảm vợ chồng không còn nên chị Hồ Ngọc Tuyết T yêu cầu được ly hôn với anh Lê Ngọc Trường N
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger