|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 51/2025/HNGĐ-ST Ngày 25/02/2025 “V/v Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung" |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hải Hường
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Ngô Văn Bê
Ông Đặng Thiên Hùng
- Thư ký phiên tòa: Ông Tôn Trọng Hưng - Thư ký Tòa án
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa:
Ông Nguyễn Văn Dũng - Kiểm sát viên.
Ngày 25/02/2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 308/2024/TLST-HNGĐ ngày 15/11/2024 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 318/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 24/12/2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 19/2025/QĐST-HNGĐ ngày 24/01/2025 giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Chị Tạ Thị Á, sinh năm 1987 (xin vắng mặt)
Địa chỉ: thôn N, xã N, huyện H, tỉnh Bắc Giang
* Bị đơn: Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1984 (vắng mặt)
Địa chỉ cư trú cuối cùng của anh H tại Việt Nam: thôn N, xã N, huyện H, tỉnh Bắc Giang.
Anh H hiện đang ở nước ngoài không rõ địa chỉ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện, bản tự khai chị Tạ Thị Á trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Văn H kết hôn với nhau ngày 10/11/2004 tại UBND xã N, huyện H. Sau khi kết hôn chị về nhà anh H làm dâu, cuộc sống vợ chồng ban đầu hạnh phúc. Đến khoảng tháng đầu năm 2017 thì vợ chồng mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, anh H không chịu làm ăn, nợ nần. Đến năm 2019 thì gia đình cho anh H đi xuất khẩu lao động tại Nhật Bản để phát triển kinh tế gia đình, trả nợ các khoản vay. Thời gian đầu thì vợ chồng có thường xuyên liên lạc với nhau nhưng đôi khi có cãi nhau trên điện thoại về chuyện kinh tế. Do mâu thuẫn vợ chồng nên chị đã bỏ về nhà mẹ đẻ ở từ năm 2022. Từ đầu năm 2023 cho đến nay thì giữa chị và anh H không có liên lạc gì với nhau. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Văn H.
- Về con chung: Vợ chồng có hai con chung là cháu Nguyễn Thị Hải Y, sinh ngày 25/8/2005 và cháu Nguyễn Hải L, sinh ngày 05/5/2010. Cháu Y đã trưởng thành nên không đề nghị Tòa án giải quyết. Cháu L đang học lớp 9 Trường THCS N nên đề nghị Tòa án giao cháu L cho chị nuôi dưỡng. Chị không đề nghị anh H cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung, công nợ chung: không có, không đề nghị Tòa án giải quyết.
* Bị đơn là anh Nguyễn Văn H hiện đang lao động ở nước ngoài, không có địa chỉ cụ thể. Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng đối với anh H đến nay không nhận được thông tin của anh H.
Tòa án đã xác minh thu thập chứng cứ thông qua con gái ruột của anh H là cháu Nguyễn Thị Hải Y, sinh năm 2005; địa chỉ: thôn N, xã N, huyện H, tỉnh Bắc Giang, cháu có ý kiến trình bày như sau: Cháu là con gái ruột của bố Nguyễn Văn H, bố cháu hiện đang lao động tại nước ngoài. Cháu vẫn thường xuyên liên hệ với bố qua điện thoại nhưng không biết địa chỉ của bố H ở nước ngoài. Bố mẹ cháu đã rất lâu không nói chuyện với nhau và cháu cảm thấy bố mẹ đã không còn tình cảm. Cháu chỉ có mong muốn là bố mẹ có thể hàn gắn để trở về chung sống cùng nhau. Cháu đã thông báo cho bố cháu về việc mẹ Á đề nghị ly hôn thì bố H có ý kiến đồng ý ly hôn nhưng không về Việt Nam làm việc được.
* Tại phiên tòa sơ thẩm, chị Á xin vắng mặt. Anh H vắng mặt không có lý do và không có quan điểm gì trình bày. Hội đồng xét xử tóm tắt nội dung vụ án, công bố các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
* Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký, nguyên đơn kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã được đảm bảo đúng quy định của pháp luật. Bị đơn không chấp hành quy định của pháp luật.
- Về nội dung: Đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Tạ Thị Ánh . Xử: Về quan hệ hôn nhân: Chị Tạ Thị Á được ly hôn anh Nguyễn Văn H. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Hải L cho chị Á trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục. Về việc cấp dưỡng không đặt ra xem xét giải quyết. Về tài sản chung và công nợ chung không đặt ra xem xét giải quyết.
Về án phí: chị Tạ Thị Á phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được công bố tại phiên toà, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát. Sau khi thảo luận và nghị án. Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về quan hệ pháp luật, thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị Tạ Thị Á có đơn đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn, trách nhiệm nuôi con chung với anh Nguyễn Văn H. Bị đơn anh Nguyễn Văn H có hộ khẩu tại tỉnh Bắc Giang và hiện đang nước ngoài không có địa chỉ cụ thể. Căn cứ công văn số: 28279/QLXNC ngày 28/11/2024 của Cục Q - Bộ C thì anh Nguyễn Văn H đã xuất cảnh ra nước ngoài ngày 12/12/2020, hiện chưa có thông tin nhập cảnh về nước. Đây là vụ án “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền quy định tại khoản 2 Điều 123 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 3 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 37 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2]. Về sự vắng mặt của đương sự: Tại phiên tòa chị Á có đơn xin xét xử vắng mặt. Anh H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do. Tòa án đã làm việc với cháu Nguyễn Thị Hải Y là con gái ruột của anh H xác định hiện anh H đang ở nước ngoài nhưng cháu không biết địa chỉ cụ thể của anh H ở nước ngoài để cung cấp cho Tòa án. Tòa án đã niêm yết tống đạt, thông báo các văn bản tố tụng cho anh H theo quy định tại khoản 5 Điều 177; Điều 179 Bộ luật Tố tụng dân sự. HĐXX thấy việc vắng mặt của các đương sự không ảnh hưởng quá trình giải quyết vụ án. Do vậy căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
[3]. Về quan hệ hôn nhân: Chị Tạ Thị Á và anh Nguyễn Văn H kết hôn với nhau ngày 10/11/2004 tại UBND xã N, huyện H, việc kết hôn trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu nên đây là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống phát sinh mâu thuẫn chị Á xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị được ly hôn với anh H. Xem xét đơn khởi kiện của chị Á, HĐXX thấy: Đến nay chị Á và anh H đã không còn quan tâm gì nhau và không còn liên lạc với nhau nữa. Anh H hiện đang ở nước ngoài vợ chồng xa cách, chị Á xác định không còn tình cảm và vợ chồng đã ly thân. Như vậy, tình trạng mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Á và anh H đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do vậy, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 53 và khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Á, xử cho chị Á được ly hôn với anh H.
[4]. Về con chung: Chị Á và anh H có 02 con chung là cháu Nguyễn Thị Hải Y, sinh ngày 25/8/2005 và cháu Nguyễn Hải L, sinh ngày 05/5/2010. Cháu Y đã trưởng thành nên không đặt ra giải quyết. Cháu L đang ở cùng chị Á và cháu có nguyện vọng được ở cùng mẹ. Anh H hiện nay đang ở nước ngoài không trực tiếp nuôi con. Vì vậy để đảm bảo quyền lợi của con chung cần áp dụng Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình, giao cho chị Á được trực tiếp nuôi dưỡng cháu L. Về cấp dưỡng nuôi con chị Á không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.
Sau khi ly hôn, anh H không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở theo quy định tại Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
[5]. Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản (công nợ): Chị Á không đề nghị nên Tòa án không đặt ra xem xét giải quyết.
[6]. Về án phí: Căn cứ quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, buộc chị Tạ Thị Á phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm.
[7]. Quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271; Điều 273 và khoản 1, 2 Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, khoản 2 Điều 123 và Điều 127 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 7 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 37; khoản 4 Điều 147; Điều 227, Điều 228, Điều 238; Điều 271; Điều 273, khoản 1, 2 Điều 479 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTBVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Tạ Thị Ánh .
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Tạ Thị Á được ly hôn anh Nguyễn Văn H.
2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Hải L, sinh ngày 05/5/2010 cho chị Tạ Thị Á trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục đến khi đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Về việc cấp dưỡng nuôi con chung không đặt ra giải quyết.
Sau khi ly hôn, anh H không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở theo quy định tại Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
3. Về án phí: Chị Tạ Thị Á phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí sơ thẩm theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0000187 ngày 15/11/2024 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang.
4. Về quyền kháng cáo:
|
- Anh Nguyễn Văn H có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng (30 ngày) kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật. - Chị Tạ Thị Á có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định pháp luật. Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Hoàng Thị Hải Hường |
Bản án số 51/2025/HNGĐ-ST ngày 25/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
- Số bản án: 51/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/02/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ánh ly hôn Hải
