|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 51/2025/DS-ST
Ngày: 21/02/2025
V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Vân
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Bùi Hoàng Nguyên
- Ông Lê Hoàng Thiên Phúc
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hoàng Trúc Ly là Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10 tham gia phiên toà:
Ông Hoàng Thế Đức - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 02 năm 2025 tại Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 435/2024/TLST-DS ngày 17 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 10/2025/QĐXXST-DS ngày 03 tháng 01 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 18/2025/QĐST-DS ngày 24 tháng 01 năm 2025 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Đ
Trụ sở: đường A, Phường B, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Thanh T – Chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị
Người được uỷ quyền lại: Ông Dương Ngọc L – sinh năm 1987; địa chỉ: đường C, Phường D, Quận Q, Thành phố Hồ Chí Minh (theo Quyết định uỷ quyền số 43/QĐ-DABQ10 ngày 10/8/2022) (có mặt)
2. Bị đơn: Ông Hồ Trung T – sinh năm 1996 (vắng mặt)
Thường trú: Ấp T, xã G, huyện P, thành phố Cần Thơ.
Địa chỉ: đường M, Phường N, Quận X, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 24/06/2024 và quá trình giải quyết vụ án ông Dương Ngọc Lâm là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Ngày 29/02/2024, Ngân hàng TMCP Đ – Chi nhánh Quận 10 (gọi tắt là Ngân hàng) có ký kết hợp đồng tín dụng dài hạn số K.0029/1324 cho ông Hồ Trung T vay số tiền 1.000.000.000 đồng; lãi suất 12 tháng đầu 9,5%/năm, lãi suất từ tháng 13 bằng Lãi suất huy động tiết kiệm cá nhân bằng đồng Việt Nam kỳ hạn 13 (mười ba) tháng cao nhất, trả lãi cuối kỳ của Ngân hàng thương mại cổ phần Đ được công bố tại Website: www.dongabank.com.vn (+) biên độ 3,5%/năm; thời hạn vay là 240 tháng; mục đích: Vay hoàn vốn mua/ nhận chuyển nhượng bất động sản tại thửa đất số 49, tờ bản đồ số 101, địa chỉ xã X, huyện C, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
Để đảm bảo cho khoản vay trên, ông T đã thế chấp cho Ngân hàng theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số K.0029/TC24 ngày 29/02/2024 tại Văn phòng Công chứng Bùi Xuân Minh địa chỉ 140 Trần Hưng Đạo, khu phố Ngãi Giao, thị trấn Ngãi Giao, huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, số công chứng 1139, quyển số 02/2024 TP/CC-SCC/HĐGD, tài sản đảm bảo là thửa đất số 49, tờ bản đồ số 101 toạ lạc tại xã X, huyện C, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số vào sổ cấp GCN: VP06678, do Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu cấp ngày 27/11/2023.
Trong quá trình vay từ ngày 01/03/2024 đến ngày 21/02/2025, ông T chưa thanh toán được số tiền nào cho Ngân hàng. Do vậy, tính đến ngày 21/02/2025, ông T còn nợ Ngân hàng tổng số tiền là 1.093.897.331 đồng (Một tỷ, không trăm chín mươi ba triệu, tám trăm chín mươi bảy ngàn, ba trăm ba mươi mốt đồng), trong đó: Nợ gốc: 1.000.000.000 đồng, lãi trong hạn: 90.958.766 đồng, lãi quá hạn: 2.938.565 đồng.
Nay, Ngân hàng yêu cầu:
- Buộc ông Hồ Trung T trả ngay cho Ngân hàng tổng số nợ còn thiếu (gồm lãi trong hạn, lãi quá hạn, vốn) tính đến ngày 21/02/2025 là 1.093.897.331 đồng (Một tỷ, không trăm chín mươi ba triệu, tám trăm chín mươi bảy ngàn, ba trăm ba mươi mốt đồng) và tiền lãi phát sinh từ ngày 22/02/2025 đến ngày ông Hồ Trung T thực trả hết nợ cho Ngân hàng theo lãi suất thỏa thuận được quy định tại các hợp đồng vay số K.0029/1324 ngày ký 29/02/2024.
- Ông Hồ Trung T phải trả nợ theo thứ tự sau: phí, lãi quá hạn, lãi trong hạn, vốn và phải chịu mọi chi phí phát sinh.
- Trường hợp ông Hồ Trung T không trả hoặc trả không đầy đủ các khoản nợ cho Ngân hàng thì Ngân hàng có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mại tài sản của ông Hồ Trung T đang thế chấp tại Ngân hàng TMCP Đ-Chi nhánh Quận 10 là tài sản: thửa đất số 49, tờ bản đồ số 101 toạ lạc tại xã X, huyện C, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số K.00329/TC24 ngày 29/02/2024 (Hợp đồng thế chấp đã được công chứng, đăng ký giao dịch đảm bảo theo đúng quy định).
- Trong trường hợp toàn bộ số tiền thu được từ việc xử lý tài sản đảm bảo được dùng để thanh toán nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng không đủ để thanh toán hết khoản nợ thì ông Hồ Trung T vẫn phải có nghĩa vụ trả hết khoản nợ còn lại và lãi phát sinh đến thời điểm thanh toán.
Bị đơn: Ông Hồ Trung T đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhưng ông T vẫn không đến Toà làm việc nên không có ý kiến trình bày
Tại phiên tòa hôm nay,
Đại diện uỷ quyền của nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Bị đơn vắng mặt nên không có ý kiến trình bày.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10 phát biểu:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, xác định đúng thẩm quyền, quan hệ pháp luật tranh chấp. Những người tham gia tố tụng được thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật.
Về việc giải quyết vụ án: Xét lời trình bày của nguyên đơn phù hợp với đơn khởi kiện và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Về quan hệ tranh chấp, thẩm quyền giải quyết vụ án:
Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn cùng các tài liệu có trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở xác định đây là vụ án dân sự về: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Xét hợp đồng tín dụng số K.0029/1324 ngày 29/02/2024 và đơn xin chọn thẩm quyền ngày 24/6/2024 thì nguyên đơn lựa chọn Tòa án nhân dân Quận 10 để giải quyết tranh chấp là phù hợp với quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm b khoản 1 Điều 40 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[1.2] Về sự vắng mặt của đương sự:
Xét bị đơn đã được Toà án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vẫn vắng mặt. Do đó, Toà án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về số tiền vay:
Căn cứ lời khai của các đương sự phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định:
Ngày 29/02/2024, Ngân hàng TMCP Đ có ký kết hợp đồng tín dụng dài hạn số K.0029/1324 cho ông Hồ Trung T vay số tiền 1.000.000.000 đồng; lãi suất 12 tháng đầu 9,5%/năm, lãi suất từ tháng 13 bằng Lãi suất huy động tiết kiệm cá nhân bằng đồng Việt Nam kỳ hạn 13 (mười ba) tháng cao nhất, trả lãi cuối kỳ của Ngân hàng thương mại cổ phần Đ được công bố tại Website: www.dongabank.com.vn (+) biên độ 3,5%/năm; thời hạn vay là 240 tháng; mục đích: Vay hoàn vốn mua/ nhận chuyển nhượng bất động sản tại thửa đất số 49, tờ bản đồ số 101, địa chỉ xã X, huyện C, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Ngân hàng đã giải ngân và ông T đã nhận số tiền vay theo Bảng kê rút vốn kiêm nhận nợ vay ngày 01/03/2024 với hình thức là chuyển khoản. Trong quá trình thực hiện hợp đồng thì ông T chưa thanh toán được số tiền nào cho Ngân hàng. Vì vậy, tạm tính đến ngày 21/02/2025, ông T còn nợ Ngân hàng tổng số tiền là 1.093.897.331 đồng, trong đó: nợ gốc: 1.000.000.000 đồng, lãi trong hạn: 90.958.766 đồng, lãi quá hạn: 2.938.565 đồng.
Xét, quá trình thụ lý giải quyết vụ án để làm rõ số tiền hiện bị đơn còn nợ và số tiền đã thanh toán, Toà án đã nhiều lần triệu tập bị đơn đến Toà để trình bày ý kiến của mình nhưng bị đơn vẫn vắng mặt xem như đã tự tước bỏ quyền cung cấp chứng cứ, quyền tự bảo vệ lợi ích của mình trước Toà nên phải chịu hậu quả của việc không đưa ra được chứng cứ. Do đó, việc nguyên đơn tự nguyện khai báo về số tiền mà bị đơn đã thanh toán cũng như số tiền hiện còn nợ là có cơ sở, phù hợp với các chứng cứ có trong hồ sơ và quy định tại Điều 95 của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
[2.2] Về tài sản bảo đảm và xử lý tài sản bảo đảm:
Để đảm bảo cho khoản vay, ngày 29/02/2024 ông T ký với Ngân hàng Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số K.0029/TC24, tài sản đảm bảo là thửa đất số 49, tờ bản đồ số 101 toạ lạc tại xã X, huyện C, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số vào sổ cấp GCN: VP06678, do Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu cấp ngày 27/11/2023, cập nhật biến động ngày 27/02/2024. Căn cứ Điều 317, Điều 318 và 319 của Bộ luật dân sự năm 2015 thì hợp đồng thế chấp là phù hợp với quy định của pháp luật nên phát sinh trách nhiệm pháp lý ràng buộc các bên thực hiện.
Căn cứ Điều 323 Bộ luật dân sự năm 2015 và Điều 8 Hợp đồng thế chấp các bên có thỏa thuận xử lý tài sản thế chấp khi bên thế chấp không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ, do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn phát mãi tài sản trong trường hợp ông T không trả được nợ.
[2.3] Về lãi suất:
Xét thấy, tại Điều 9 của Hợp đồng tín dụng số K.0029/1324 ngày 29/02/2024 thì giữa Ngân hàng với ông T có thỏa thuận lãi suất cho vay là phù hợp với quy định tại Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 nên được Hội đồng xét xử chấp nhận. Ngoài ra, ông T còn phải chịu thêm khoản tiền lãi phát sinh theo thỏa thuận tại các hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán hết nợ.
[2.4] Về thời hạn thanh toán:
Do bị đơn vi phạm thời hạn thanh toán theo như thoả thuận trong các hợp đồng tín dụng làm ảnh hưởng đến quyền lợi của nguyên đơn. Do đó, việc nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải thanh toán số tiền còn nợ ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật là có cơ sở chấp nhận.
[3] Về án phí dân sự:
Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội, bị đơn phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm b khoản 1 Điều 40; Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 266; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 317, Điều 318, Điều 319, Điều 323, Điều 463 và Điều 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;
Căn cứ Luật thi hành án dân sự năm 2008;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc Hội.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
- Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong hợp đồng.
- Trong trường hợp ông Hồ Trung T không thanh toán hoặc không trả hết nợ thì phải chịu các biện pháp xử lý tài sản theo quy định pháp luật kể cả việc phát mãi tài sản thế chấp là toàn bộ quyền sở hữu: Bất động sản toạ lạc tại thửa đất số 49, tờ bản đồ số 101 toạ lạc tại xã X, huyện C, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, số vào sổ cấp GCN: VP06678, do Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu cấp ngày 27/11/2023, cập nhật biến động ngày 27/02/2024 theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số K.0029/TC24 ngày 29/02/2024 được đăng ký biện pháp bảo đảm bằng quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất ngày 29/02/2024 tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đại huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
- Chi phí tố tụng: Ông Hồ Trung T phải hoàn trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần Đ chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ thửa đất số 49, tờ bản đồ số 101 toạ lạc tại xã X, huyện C, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu số tiền là 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng).
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Quyền kháng cáo:
- Về thi hành án:
Buộc ông Hồ Trung T phải thanh toán cho Ngân hàng thương mại cổ phần Đ tổng số tiền tạm tính đến ngày 21/02/2025 là 1.093.897.331 đồng (Một tỷ, không trăm chín mươi ba triệu, tám trăm chín mươi bảy ngàn, ba trăm ba mươi mốt đồng), trong đó: nợ gốc gốc là: 1.000.000.000 đồng, tiền lãi trong hạn là 90.958.766 đồng, tiền lãi quá hạn là 2.938.565 đồng theo Hợp đồng tín dụng số K.0029/1324 ngày 29/02/2024.
Thanh toán ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật. Việc giao nhận tiền được thực hiện tại Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Nếu giá trị tài sản phát mãi không đủ thanh toán nợ thì ông Hồ Trung T có nghĩa vụ tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng thương mại cổ phần Đ cho đến khi thanh toán xong nợ.
Ông Hồ Trung T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 44.816.920 đồng (bốn mươi bốn triệu tám trăm mười sáu ngàn chín trăm hai mươi đồng) và nộp tại Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Hoàn lại cho Ngân hàng thương mại cổ phần Đ số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 21.450.064 đồng (Hai mươi mốt triệu bốn trăm năm mươi ngàn không trăm sáu mươi bốn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0020669 ngày 10/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh.
Ngân hàng thương mại cổ phần Đ có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án lên Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh kể từ ngày tuyên án. Ông Hồ Trung T vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,7a,7b và 9 Luật thi hành án dân sự thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Thanh Vân |
Bản án số 51/2025/DS-ST ngày 21/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 51/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/02/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng yêu cầu ông Hồ Trung T trả tổng số nợ còn thiếu
