|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MAI SƠN TỈNH SƠN LA |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 51/2025/HS-ST
Ngày 11 – 02 - 2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MAI SƠN- TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên toà: Bà Đinh Thị Phương Thúy
Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Hà Văn Sơ
2. Ông Vũ Hữu Hưởng
Thư ký phiên toà: Bà Bùi Thị Duyến – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Sơn tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tâm - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 46/2024/TLST-HS ngày 23 tháng 12 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 46/2024/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 01 năm 2025 và quyết định hoãn phiên tòa số 05/2025/HSST-QĐ ngày 15/01/2025 đối với các bị cáo:
1. TRẦN THANH H. Tên gọi khác: không. Sinh ngày 19/5/1970 tại huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La.
Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và nơi ở: Tiểu khu A, thị trấn B, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 07/12; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Đăng H1 (đã chết) và bà Lê Thị H2 (đã chết); Bị cáo có vợ là Lê Thị H3, sinh năm 1973; Bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 1994 và con nhỏ sinh năm 2008.
Tiền án, tiền sự: không.
Nhân thân: Tại Bản án số 21/2012/HSST ngày 15/02/2012 của Tòa án nhân dân huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La đã tuyên xử Trần Thanh H 24 tháng tù giam về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999. Trân Thanh H đã được xóa án tích.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/9/2024 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Cơ quan quản lý tạm giữ, tạm giam Công an huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La. Có mặt tại phiên tòa.
2
2. TRẦN ĐẠI T. Tên gọi khác: không. Sinh ngày 30/12/1990 tại huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La.
Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và nơi ở: Tiểu khu A1, thị trấn B, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 10/12; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Văn T1, sinh năm 1962 và bà Trần Thị T2, sinh năm 1963; Bị cáo chưa có vợ, con.
Tiền án, tiền sự: không.
Nhân thân: Tại Quyết định số 3663/QĐ-UB ngày 30/12/2009 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Sơn La đã quyết định đưa Trần Đại T vào trường giáo dưỡng với thời hạn 24 tháng. Trần Đại T chấp hành xong ngày 04/12/2011, đã được xóa việc xử phạt hành chính.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/9/2024 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Cơ quan quản lý tạm giữ, tạm giam Công an huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La. Có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- - Bà Trần Thị T2, sinh năm 1963. Địa chỉ: Tiểu khu A1, thị trấn B, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La. Có mặt tại phiên tòa.
- - Chị Đinh Thị Thanh S, sinh năm 1992. Địa chỉ: Tiểu khu A, thị trấn B, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La. Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng tháng 5 năm 2024, Trần Thanh H đi bộ từ nhà đến khu vực đường thuộc tiểu khu A2, thị trấn B, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La gặp và mua được từ một người đàn ông không quen biết 01 gói Heroine với giá 200.000VNĐ. Khi về nhà H đã lấy một phần ma túy mua được ra sử dụng bằng hình thức hít, phần còn lại H gói như ban đầu và cất vào lỗ gạch tại bờ tường rào trường tiểu học Chu Văn Thịnh (đối diện cổng nhà H) để sử dụng dần. Sau đó, H bị Công an thị trấn B, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La lập hồ sơ quản lý người nghiện chất ma túy, do lo sợ phải đi cai nghiện bắt buộc nên H không sử dụng nữa.
Đến khoảng 11 giờ ngày 15/9/2024, H đang ở nhà thì nhận được điện thoại của Trần Đại T đặt vấn đề mua 200.000VNĐ Heroine, H nảy sinh ý định bán số Heroine đang cất giấu và bảo T đến nhà H. Sau đó H đi ra vị trí cất giấu Heroine lấy và cất vào túi quần bên phải đang mặc. Khoảng 20 phút sau T điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 26AA-04638 đến và ngồi tại bàn uống nước nhà H. Do T không có tiền mặt và muốn chuyển khoản nên H đi sang nhà Đinh Thị Thanh S (con dâu của H) để nhờ số tài khoản 4110821330 của S mở tại Ngân hàng Đầu tư và phát
3
triển Việt Nam để T chuyển tiền vào. Sau khi T chuyển tiền xong, H đặt gói Heroine lên bàn uống nước, T cầm gói Heroine cất vào túi quần bên trái đang mặc rồi điều khiển xe đi về. Khi T đi đến khu vực thuộc tiểu khu 11, thị trấn B thì bị tổ công tác Công an huyện Mai Sơn phát hiện bắt quả tang, thu giữ toàn bộ vật chứng. Cùng ngày, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mai Sơn đã thi hành Lệnh khám xét khẩn cấp đối với người, chỗ ở, đồ vật của Trần Thanh H và thu giữ toàn bộ vật chứng có liên quan.
Ngày 15/9/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Mai Sơn phối hợp với Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La thành lập Hội đồng bóc mở niêm phong, cân tịnh, trích rút mẫu giám định đối với vật chứng thu giữ khi bắt quả tang Trần Đại T. Kết quả: Khối lượng chất bột nén màu trắng trong gói nilon màu trắng là 0,104gam, lấy toàn bộ làm mẫu giám định, ký hiệu M.
Tại bản kết luận giám định số 1845/KL-KTHS ngày 17/9/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La, kết luận:
“Mẫu ký hiệu M gửi giám định là ma tuý; Loại Heroine... Khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,104gam.
Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,104gam; Loại Heroine... ”
Tại bản cáo trạng số 04/CT-VKSMS ngày 20/12/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Sơn đã truy tố bị cáo Trần Thanh H về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự; truy tố bị cáo Trần Đại T về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo theo cáo trạng và đề nghị hội đồng xét xử:
- - Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự:
- Tuyên bố bị cáo Trần Thanh H phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy, xử phạt bị cáo Trần Thanh H từ 26 đến 30 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 15/9/2024.
- - Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s, t khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự:
- Tuyên bố bị cáo Trần Đại T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, xử phạt bị cáo Trần Đại T từ 14 đến 18 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 15/9/2024.
- Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
- Về vật chứng: Đề nghị căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:
4
Tịch thu tiêu hủy: 02 mảnh nilon màu trắng gói ma túy ban đầu, vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu được niêm phong theo quy định.
Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A04 vỏ màu đen kèm 01 sim điện thoại của Trần Đại T; 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy J4 vỏ màu đen kèm 01 sim điện thoại của Trần Thanh H.
Truy thu sung vào ngân sách Nhà nước số tiền 200.000VNĐ đối với Đinh Thị Thanh S.
Trả cho bị cáo Trần Thanh H 01 thẻ nhớ nhãn hiệu Lexar-32GB đã qua sử dụng.
Trả cho Trần Thị T2 01 xe máy nhãn hiệu Detech, màu sơn ghi trắng, biển kiểm soát 26AA-04638, xe đã qua sử dụng.
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015; Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội: Bị cáo Trần Thanh H, Trần Đại T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo Trần Thanh H tự bào chữa: Nhất trí với nội dung bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo cơ cơ hội cải tạo bản thân.
Bị cáo Trần Đại T tự bào chữa: Nhất trí với nội dung bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo cơ cơ hội cải tạo bản thân.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Trần Thị T2 trình bày: Nhất trí với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, không có ý kiến tranh luận.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Đinh Thị Thanh S trình bày: Nhất trí với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, không có ý kiến tranh luận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Mai Sơn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân huyện Mai Sơn, Kiểm sát viên, thành viên Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tình tiết định tội: Trước cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo Trần Thanh H và bị cáo Trần Đại T khai nhận: Bị cáo H do bản thân nghiện chất ma túy,
5
khoảng tháng 5/2024 bị cáo đã mua 01 gói Heroine với giá 200.000VNĐ nhằm mục đích để sử dụng cho bản thân, bị cáo đã sử dụng một phần Heroine mua được và số còn lại đã bán cho bị cáo T vào ngày 15/9/2024 với giá 200.000VNĐ để kiếm lời; bị cáo T là người nghiện chất ma túy nên đã mua trái phép 200.000VNĐ Heroine với bị cáo H để sử dụng, bị cáo bị tổ công tác Công an huyện Mai Sơn phát hiện bắt quả tang và đã khai nhận hành vi mua ma túy với bị cáo H. Lời khai nhận tội của các bị cáo là phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang lập hồi 12 giờ 40 phút ngày 15/9/2024 và Biên bản khám xét lập hồi 15 giờ 00 ngày 15/9/2024 của Công an huyện Mai Sơn; kết luận giám định số 1845/KL-KTHS ngày 17/9/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Sơn La, kết luận tổng khối lượng ma túy thu giữ trong vụ án là 0,104gam loại Heroine. Từ các chứng cứ nêu trên có đủ căn cứ để kết luận bị cáo Trần Thanh H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự và bị cáo Trần Đại T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định:
“1.Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
...
c) Heroine, cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;
"
Tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự quy định:
“1.Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.
"
[3] Xét tính chất vụ án: Bị cáo Trần Thanh H và Trần Đại T đều là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm về hình sự, các bị cáo nhận thức rõ được việc mua bán, tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nH vẫn cố tình thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy, hành vi của các bị cáo là hành vi nguy hiểm cho xã hội, làm gia tăng tình trạng mua bán, sử dụng trái phép các chất ma túy, cần có mức án nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo là cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để giáo dục riêng và phòng ngừa tội phạm chung.
[4] Xét về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo đều không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
6
Về nhân thân: Tại Bản án số 21/2012/HSST ngày 15/02/2012 của Tòa án nhân dân huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La đã tuyên xử Trần Thanh H 24 tháng tù giam về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999. Trần Thanh H đã được xóa án tích nhưng chứng tỏ bị cáo chưa chấp hành tốt quy định của pháp luật. Đối với bị cáo Trần Đại T: Bị cáo cũng đã từng phải chấp hành biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng theo Quyết định số 3663/QĐ-UBND ngày 26/5/2011 của Ủy ban nhân dân tỉnh Sơn La, chứng tỏ bị cáo cũng chưa có sự tự cải tạo bản thân thành công dân tốt; Hội đồng xét xử sẽ xem xét nhân thân của các bị cáo khi quyết định mức án đối với từng bị cáo.
Xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đều đã khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải về việc đã làm nên cần áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự phần nào đối với các bị cáo. Ngoài ra, bị cáo Trần Đại T khi bị bắt đã khai nhận và tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện hành vi phạm tội của bị cáo Trần Thanh H; đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm t khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự sẽ được xem xét để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo T.
Tại phiên tòa bị cáo Trần Thanh H trình bày có bố, mẹ đẻ được tặng thưởng Huân chương, Huy chương kháng chiến: Tuy nhiên, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và gia đình bị cáo không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh nên Hội đồng xét xử không có căn cứ để xem xét.
[5] Về hình phạt bổ sung:
Qua điều tra xác minh và tại phiên tòa xác định bị cáo H và bị cáo T làm nghề tự do, thu nhập không ổn định; các bị cáo không có tài sản riêng gì có giá trị nên cần miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo.
[6] Về vật chứng, xử lý vật chứng:
Đối với 0,104gam Heroine đã trích rút toàn bộ làm mẫu giám định, không hoàn lại.
Đối với 02 mảnh nilon màu trắng gói ma túy ban đầu, vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu được niêm phong theo quy định: Xét thấy đây là vật dùng vào việc phạm tội và vật không có giá trị sử dụng nên cần căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự để tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A04 vỏ màu đen kèm 01 sim điện thoại của Trần Đại T; 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy J4 vỏ màu đen kèm 01 sim điện thoại của Trần Thanh H: Xét thấy đây là tài sản hợp pháp của các bị cáo, các bị cáo đã dùng vào việc liên lạc, trao đổi mua bán ma túy nên cần căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự để tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.
Đối với số tiền 200.000VNĐ: Xét thấy đây là số tiền bị cáo H bán ma túy cho bị cáo T, là số tiền do phạm tội mà có và hiện vẫn đang do người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – chị Đinh Thị Thanh S giữ khi bị cáo T chuyển vào tài khoản của S nên
7
cần căn cứ điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự để truy thu từ Đinh Thị Thanh S để sung vào ngân sách Nhà nước.
Đối với 01 thẻ nhớ nhãn hiệu Lexar-32GB đã qua sử dụng: Xét thấy là tài sản hợp pháp của bị cáo H, qua kiểm tra dữ liệu không có gì liên quan đến hành vi phạm tội của các bị cáo nên cần cần căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự trả lại cho bị cáo Trần Thanh H.
Đối với 01 xe máy nhãn hiệu Detech, màu sơn ghi trắng, biển kiểm soát 26AA-04638, xe đã qua sử dụng: Xét thấy đây là tài sản hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - bàTrần Thị T2, bà T2 không biết việc bị cáo Trần Đại T sử dụng chiếc xe trên để đi mua ma túy, bàT2 có yêu cầu nhận lại nên cần căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự trả lại cho bà Trần Thị T2.
[7] Về vấn đề khác:
Đối với Đinh Thị Thanh S: Qua điều tra xác định S chỉ cho bị cáo H mượn số tài khoản, S không biết việc Trần Thanh H và Trần Đại T mua bán ma túy nên không có căn cứ xử lý đối với S.
Về nguồn gốc ma túy, bị cáo Trần Thanh H khai mua của một người đàn ông không biết tên, năm sinh, địa chỉ tại khu vực tiểu khu 15, thị trấn Hát Lót, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La; việc mua bán ma túy không có ai biết, chứng kiến. Do vậy, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mai Sơn không có căn cứ để điều tra, xác minh mở rộng vụ án, cần chấp nhận.
[8] Về án phí:
Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015; Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội: Bị cáo Trần Thanh H, Trần Đại T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017):
Tuyên bố bị cáo Trần Thanh H phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy. Xử phạt bị cáo Trần Thanh H 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt (ngày 15/9/2024).
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s, t khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017):
8
Tuyên bố bị cáo Trần Đại T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Xử phạt bị cáo Trần Đại T 01 (một) năm 02 (hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt (ngày 15/9/2024).
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Về vật chứng vụ án: Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:
Tịch thu tiêu hủy: 02 mảnh nilon màu trắng gói ma túy ban đầu, vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu được niêm phong theo quy định.
Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A04 vỏ màu đen kèm 01 sim điện thoại của Trần Đại T; 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy J4 vỏ màu đen kèm 01 sim điện thoại của Trần Thanh H.
Truy thu sung vào ngân sách Nhà nước số tiền 200.000VNĐ đối với Đinh Thị Thanh S.
Trả cho bị cáo Trần Thanh H 01 thẻ nhớ nhãn hiệu Lexar-32GB đã qua sử dụng.
Trả cho Trần Thị T2 01 xe máy nhãn hiệu Detech, màu sơn ghi trắng, biển kiểm soát 26AA-04638, xe đã qua sử dụng.
(Chi tiết vật chứng theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 30/12/2024 giữa Công an huyện Mai Sơn và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mai Sơn).
- Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015; Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội: Bị cáo Trần Thanh H, Trần Đại T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm mỗi bị cáo là 200.000VNĐ.
Bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 11/02/2025).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đinh Thị Phương Thúy |
Bản án số 51/2025/HS-ST ngày 11/02/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MAI SƠN, TỈNH SƠN LA về mua bán trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 51/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MAI SƠN, TỈNH SƠN LA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Thanh H phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy, Trần Đại T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
