trending_up Gợi ý tra cứu
  • history Mức đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc 2026
  • search Nghị định 100 phạt nồng độ cồn đường bộ
  • search Nghị định xử phạt hành chính đất đai
  • search Quy định tách thửa đất nông nghiệp
Chế độ Trả lời thông minh A.I

Hệ thống AI sẽ trả lời nhanh dựa trên hàng triệu văn bản luật, giải đáp trực tiếp khúc mắc của bạn.

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN ĐỒ SƠN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Bản án số: 51/2024/HS-ST

Ngày 16-12-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỒ SƠN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Hoàng

Các Hội thẩm nhân dân.

Ông Trần Thế Sự

Bà Lê Thị Mai Hương

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Việt - Thư ký Tòa án nhân dân quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Vũ Duy Ninh - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 12 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng; địa chỉ: Ngõ B đường N, tổ dân phố I, phường N, quận Đ, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai trực tiếp vụ án hình sự thụ lý số 42/2024/TLST-HS ngày 07/10/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 43/2024/QĐXXST-HS ngày 18/10/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 13a/2024/HSST-QĐ ngày 30/10/2024 đối với bị cáo:

LƯU ĐÌNH MẠNH, sinh ngày 09 tháng 7 năm 1992 tại Hải Phòng; nơi cư trú: Tổ dân phố F, phường V, quận Đ, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lưu Đình H, sinh năm 1964 và bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1966; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự, nhân thân: Không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 20/6/2024; có mặt.

Bị hại: Ông Lương Hữu T, sinh năm 1964; nơi cư trú: Tổ dân phố A, phường V, quận Đ, thành phố Hải Phòng (Tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể là 99% - Sống kiểu thực vật tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 95/2024/KLTTCT-TTPYHP ngày 31/01/2024, chết ngày 27/10/2024 theo Giấy chứng tử số 25/TLKT ngày 27/10/2024);

Người đại diện hợp pháp của bị hại - Vợ bị hại: Bà Đinh Thị Kim C, sinh năm 1970; nơi cư trú: Số nhà F đường P, tổ dân phố A, phường V, quận Đ, thành phố Hải Phòng; có mặt.

Người làm chứng:

  • - Ông Hoàng Đình Q, ông Nguyễn Đình T1; đều có mặt.
  • - Bà Đinh Thị H2, ông Nguyễn Văn D, ông Đoàn Thế M, ông Bùi Trọng Đ; đều vắng mặt, không có lý do, đã được triệu tập hợp lệ.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 19 giờ ngày 02/11/2023, Lưu Đình M1 điều khiển xe Mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Air Blade, màu sơn: Trắng Đỏ Đen, Biển kiểm soát 15F1 - 336.68 (xe cũ, đã qua sử dụng, M1 mua lại của người khác, bằng tiền do lao động mà có) đi đến nhà hàng V ở tổ dân phố T, phường N, quận Đ, thành phố Hải Phòng để liên hoan cùng với nhóm bạn, trong quá trình ăn uống M1 có uống 1/2 chén rượu. Khoảng 19 giờ 50 phút cùng ngày, M1 điều khiển xe Mô tô nêu trên di chuyển theo hướng từ ngã ba Quán N đến ngã ba đường P - S để đi về nhà. Khi đến đoạn đường phía trước cửa số nhà D thuộc tổ dân phố A, phường V, quận Đ, thành phố Hải Phòng, M1 vừa nhìn thấy có 01 xe Mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Dream, màu sơn: Nâu, Biển kiểm soát 16F1-3820 do ông Lương Hữu T điều khiển đi theo hướng ngược lại ở phần làn đường bên trái so với chiều xe M1 đang đi. Do M1 điều khiển xe Mô tô đi về phía bên trái so với phần làn đường xe của M1 đang di chuyển, lấn sang phần làn đường của xe mô tô do ông T điều khiển gây ra va chạm giữa hai xe. Hậu quả làm cả hai người đều bị thương tích nặng, cùng được đưa đến Bệnh viện để điều trị, 02 xe Mô tô đều bị hư hỏng.

Kết quả kiểm tra nước tiểu của Lưu Đình M1, ông Lương Hữu T đều âm tính đối với các chất ma tuý; kết quả kiểm tra nồng độ cồn trong máu của Lưu Đình M1: <8,11 mg/dl, nồng độ cồn trong máu của ông Lương Hữu T: 97,3 mg/dl; kết quả xác minh: Mạnh, ông T đều có giấy phép lái xe Mô tô theo quy định.

Tại Kết luận giám định số 493/KL-KTHS ngày 07/02/2024 của Phòng K Công an thành phố H: “Dấu vết trượt xước, mất cao su (màu đen) theo chiều ngược chiều chuyển động tịnh tiến của bánh xe ở mặt lăn bánh trước trên xe mô tô mang Biển kiểm soát 16F1- 3820 (Ảnh 5, 6: Bản ảnh giảm định) phù hợp với dấu vết gãy, vỡ nhựa, bề mặt trượt xước, bám dính tạp chất màu đen (dạng cao su) theo chiều từ trước về sau ở mặt trong bên trái sau ốp chắn bùn bánh trước trên xe mô tô mang Biển kiểm soát 15F1- 336.68 (Ảnh 11, 12: Bản ảnh giám định).”

Tại Kết luận giám định số 495/KL-KTHS ngày 26/01/2024 của Phòng K Công an thành phố H:

“1. Xe mô tô hai bánh, nhãn hiệu: HONDA, mang biển kiểm soát: 15F1- 336.68, có số khung: RLHJF6330LZ073140 và số máy: JF94E - 0181535 là số nguyên thuỷ, không phát hiện thấy có sự tẩy xoá, sửa chữa các ký tự.

2. Xe mô tô hai bánh, nhãn hiệu: HONDA, mang biển kiểm soát: 16F1- 3820, có số khung: C100MS - 0042813 và số máy: C100MSE - 0042813 là số nguyên thuỷ, không phát hiện thấy có sự tẩy xoá, sửa chữa các ký tự.”

Tại Kết luận định giá tài sản số 22/KL-HĐĐGTS ngày 25/7/2024 của Hội đồng định giá thường xuyên tài sản trong tố tụng hình sự quận Đ kết luận: “giá trị thiệt hại của xe mô tô Biển kiểm soát 16F1- 3820 là 1.280.000 đồng”.

Tại Kết luận giám định tổn thương trên cơ thể người sống số 95/2024/KLTTCT-TTPYHP ngày 31/01/2024 của Trung tâm P đối với ông Lưu Hữu T2:“ Nạn nhân bị chấn thương tương đối mạnh vào vùng đầu mặt gây rách da, gãy vỡ phức tạp xương sọ mặt và tổn thương não - màng não nặng. Đã được phẫu thuật điều trị tích cực nhưng đến nay tình trạng vẫn nặng (sống kiểu thực vật). Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Lương Hữu T tại thời điểm giám định là: 99% (Chín mươi chín phần trăm)”

Tại Kết luận giám định tổn thương trên cơ thể người sống số 134/2024/KLTTCT-TTPYHP ngày 16/02/2024 của Trung tâm P đối với Lưu Đình M1: “Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể tại thời điểm giám định là 77% (Bảy mươi bảy phần trăm)”

Tại Kết luận giám định tử thi số 306/2024/KLGĐTT-TTPYHP ngày 29/10/2024 của Trung tâm P, kết luận:

“1. Các kết quả chính: Khám nghiệm bên ngoài tử thi và hồ sơ bệnh án thấy nạn nhân bị chấn thương sọ não hàm mặt gây gãy vỡ phức tạp xương hộp sọ, xương hàm mặt, tổn thương nhu mô não nặng đã được phẫu thuật sọ não lấy máu tụ.

2. Kết luận: Nạn nhân Lương Hữu T, sinh năm 1964 đã bị chết vì suy hô hấp, suy tuần hoàn không hồi phục do di chứng đa chấn thương, chấn thương sọ não hàm mặt nặng”

Vật chứng của vụ án: 01 xe Mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Dream, Biển kiểm soát: 16F1-3820; 01 xe Mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Air Blade, Biển kiểm soát: 15F1-336.68 chuyển Chi cục thi hành án dân sự quận Đồ Sơn quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 10/10/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Đồ Sơn.

Về trách nhiệm dân sự: Tại giai đoạn điều tra, truy tố bị cáo đã xin gia đình cho bị cáo tiền để bồi thường ông Lương Hữu T, đưa bà C - vợ ông T nhận tiền nhiều lần, với tổng số tiền 195.000.000đ (Một trăm chín mươi lăm triệu đồng); đã bồi thường 1.280.000đ (Một triệu hai trăm tám mươi nghìn đồng) tiền sửa xe Mô tô do ông T điều khiển bị hư hỏng; bà C không yêu cầu bị cáo bồi thường thêm gì khác đối với xe Mô tô nêu trên. Tại giai đoạn chuẩn bị xét xử, bà C có đơn đề nghị yêu cầu bị

cáo phải bồi thường các khoản chi phí điều trị thương tích của ông T với tổng số tiền 467.846.207 đồng, bị cáo đã xin gia đình cho bị cáo tiền để bồi thường tiếp, đưa bà C nhận tiền; bà C có đơn xin bãi nại đối với bị cáo.

Tại Cơ quan điều tra, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi như nội dung vụ án đã nêu. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của những người làm chứng, phù hợp với dấu vết để lại trên hiện trường và trên các phương tiện, các kết luận giám định tổn thương trên cơ thể người sống, kết luận giám định dấu vết va chạm, vật chứng thu giữ và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.

Tại bản Cáo trạng số 40/CT-VKSĐS ngày 07/10/2024, Viện kiểm sát nhân dân quận Đồ Sơn truy tố Lưu Đình M1 về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, quy định tại điểm b khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi gây ra tai nạn giao thông, hậu quả làm bị hại bị thương tích 99%, bị cáo bị thương tích 77% (theo các Kết luận giám định), phù hợp với các tình tiết khác có liên quan như nội dung vụ án đã nêu và khai: Trước khi hai xe va chạm vào nhau, xe do M1 điều khiển đang di chuyển với tốc độ khoảng 35 km/giờ. Sau va chạm, M1 bị ngất luôn. Đến khi tỉnh lại, M1 mới biết đang nằm trong bệnh viện, ông T cũng bị thương tích nặng phải điều trị tại bệnh viện. Bị cáo đã xin gia đình cho tiền bị cáo để bồi thường, đưa tiền nhiều lần để bà C vợ bị hại nhận gồm tiền điều trị thương tích của ông T 295.000.000 đồng, tiền sửa xe do ông T điều khiển bị hư hỏng 1.280.000 đồng. Bà C vợ ông T có đơn xin bãi nại, xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp của bị hại - bà C trình bày: Về vấn đề bồi thường, hai bên gia đình đã thỏa thuận, thống nhất, thực hiện xong (bà đã nhận nhiều lần thành tổng số tiền 295.000.000 đồng, gia đình bị cáo bồi thường chi phí điều trị thương tích của ông T, tiền sửa xe bị hư hỏng 1.280.000 đồng). Đến nay, bà không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm, có đơn xin bãi nại, xin cho bị cáo được hưởng mức hình phạt thấp nhất.

Tại phiên tòa, những người làm chứng gồm ông Hoàng Đình Q, ông Nguyễn Đình T1, cùng trình bày: Các ông làm việc cùng tổ với Lưu Đình M1 có hẹn nhau đi ăn liên hoan tại nhà hàng V ở tổ dân phố T, phường N, quận Đ, thành phố Hải Phòng với nhóm bạn, mọi người gặp nhau vào khoảng 19 giờ ngày 02/11/2023. Tại nhà hàng, mỗi người đều có uống một chút rượu, M1 cũng uống khoảng 1/2 chén rượu. Ăn uống xong, mọi người cùng ra về, M1 đi xe Mô tô về một mình. Sau đó, mọi người nhận được tin M1 bị tai nạn giao thông, những người cùng đi ăn liên hoan với M1, không ai chứng kiến trực tiếp khi xảy ra tai nạn.

Sau quá trình thẩm vấn, đánh giá tính chất của vụ án cùng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đặc điểm nhân thân của bị cáo; đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Đồ Sơn trình bày luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố bị

cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản cáo trạng; đề xuất với Hội đồng xét xử về mức hình phạt, xử lý vật chứng và các vấn đề khác có liên quan, như sau:

  • - Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các điều 38, 65 Bộ luật Hình sự; xử phạt: Lưu Đình M1 từ 30 (Ba mươi) tháng đến 33 (Ba mươi ba) tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Thời gian thử thách 60 (Sáu mươi) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
  • - Về hình phạt bổ sung: Không
  • - Về xử lý vật chứng:
  • Áp dụng khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Trả lại bị cáo 01 (Một) xe Mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Air Blade, Biển kiểm soát: 15F1-336.68; Trả lại bà C 01 (Một) xe Mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Dream, Biển kiểm soát: 16F1- 3820 (theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 10/10/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Đồ Sơn).
  • - Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã tác động với gia đình cho bị cáo tiền bồi thường bà C - Vợ của bị hại nhận các khoản chi phí điều trị thương tích của ông T, tiền sửa xe mô tô bị hư hỏng, bà C có đơn xin bãi nại đối với bị cáo. Tại phiên tòa, bà C không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm gì khác, xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận sự tự nguyện thỏa thuận về bồi thường giữa hai bên.
  • - Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo phải nộp 200.000₫ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  • - Về vấn đề khác:
  • Kết quả kiểm tra nồng độ cồn trong máu do Bệnh viện H3 kiểm tra đối với Lưu Đình M1 là <8,11 mg/dl. Tuy nhiên, căn cứ vào Công văn số 3890 ngày 10/9/2024 của Bệnh viện H3 xác định: “nồng độ cồn trong máu <8,11 mg/dl là dưới ngưỡng phát hiện”; Công văn số 150 ngày 23/9/2024 của Trung tâm P xác định: “nồng độ cồn trong máu dưới ngưỡng phát hiện là biểu hiện kết quả trong máu có nồng độ Ethanol (cồn) nằm trong khoảng từ 0 đến dưới 8,11mg/dl. Đây là chỉ số bình thường trong y học, không ảnh hưởng đến sức khoẻ, vì ngay cả khi không sử dụng rượu, bia hoặc các nước uống có cồn khác thì cơ thể vẫn sinh ra một lượng cồn nhỏ gọi là cồn sinh học (từ việc ăn uống hàng ngày”. Tại khoản 8 Điều 8 Luật giao thông đường bộ quy định về các hành vi bị nghiêm cấm: “Điều khiển xe ô tô, máy kéo, xe máy chuyên dùng trên đường mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn”. Quá trình điều tra, truy tố không chứng minh được nồng độ cồn trong máu của Lưu Đình M1 là bao nhiêu (con số cụ thể) nên không có căn cứ để xử lý M1 về

tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự.

Sau khi đại diện Viện Kiểm sát giữ quyền công tố luận tội, bị cáo không tự bào chữa, không tranh luận, thể hiện thái độ ăn năn hối cải, xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:

- Về tố tụng:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận Đ, Điều tra viên; Viện Kiểm sát nhân dân quận Đồ Sơn, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án đều không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[1.1] Đối với những người làm chứng gồm bà Đinh Thị H2, ông Nguyễn Văn D, ông Đoàn Thế M, ông Bùi Trọng Đ đều đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa, không có lý do. Tuy nhiên, họ đều đã có lời khai đầy đủ, phù hợp với lời khai của bị cáo; các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Xác định, sự vắng mặt đó không làm ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt họ như đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa theo quy định tại Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Về tội danh, điều luật áp dụng:

[2] Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra; phù hợp với lời khai của những người làm chứng, phù hợp với dấu vết để lại trên hiện trường và trên các phương tiện; các biên bản xác định hiện trường, sơ đồ, bản ảnh hiện trường, kết luận giám định tổn thương trên cơ thể người sống, kết luận giám định dấu vết va chạm, vật chứng thu giữ và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Hồi 19 giờ 50 phút ngày 02/11/2023, Lưu Đình M1 điều khiển xe Mô tô Biển kiểm soát 15F1-336.68 trên đường P theo hướng từ ngã ba Quán N đến ngã ba đường P - S. Khi đến khu vực phía trước cửa số nhà D thuộc tổ dân phố A, phường V, quận Đ, thành phố Hải Phòng, M1 nhìn thấy ông Lương Hữu T điều khiển xe Mô tô Biển kiểm soát 16F1-3820 đi theo hướng ngược lại trên phần làn đường phía bên trái so với phần làn đường xe Mạnh đang di chuyển. Do quáng ánh đèn, M1 đã điều khiển xe Mô tô đi về phía bên trái so với phần làn đường xe của M1 đang di chuyển, lấn sang phần làn đường của xe Mô tô do ông T điều khiển, gây ra tai nạn giao thông. Hậu quả làm ông T bị tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể: 99%; M1 bị

tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể: 77%, xe Mô tô Biển kiểm soát 16F1-3820 bị hư hỏng có trị giá thiệt hại: 1.280.000 đồng. Vì vậy, hành vi của bị cáo đã có đủ các yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại Điều 260 Bộ luật Hình sự.

- Về tình tiết định khung:

[3] Với hành vi nêu trên của bị cáo đã gây ra hậu quả làm ông T bị tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể: 99%. Nên bị cáo phải chịu tình tiết định khung “... b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên; ...” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự như Viện Kiểm sát đã truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

[4] Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

[5] Bị cáo đã tự nguyện xin gia đình cho tiền để bồi thường chi phí điều trị thương tích của ông T, tiền sửa xe Mô tô bị hư hỏng, giao bà C - Vợ bị hại nhận xong; bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bà C có đơn xin bãi nại cho bị cáo, tại phiên tòa bà C xin cho bị cáo được hưởng mức hình phạt nhẹ nhất. Do đó, bị cáo được hưởng những tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[6] Xét đề xuất của Kiểm sát viên tại phiên tòa về đề nghị áp dụng loại hình phạt, mức hình phạt, xử lý vật chứng, các vấn đề khác trong vụ án và đề nghị của người đại diện hợp pháp của bị hại như đã nêu tại phần nội dung vụ án đều phù hợp, có căn cứ theo các quy định của pháp luật, nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

- Về hình phạt:

[7] Về hình phạt chính: Từ những phân tích về tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội, về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo. Đánh giá hành vi phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, do chủ quan nên bị cáo đã điều khiển xe mô tô đi về bên trái lấn sang phần đường của xe Mô tô do ông T điều khiển gây tai nạn giao thông, hậu quả làm ông T bị tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể 99%, gây tổn hại, mất mát lớn cho gia đình bị hại nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự do hành vi phạm tội của mình gây ra. Tuy nhiên, do bị cáo cũng bị tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể: 77%, có nhiều tình tiết giảm nhẹ tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; bị cáo phạm tội lần này là phạm tội lần đầu, có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng; bị cáo đủ điều kiện được hưởng án treo theo quy định tại Điều 2 Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/05/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao Hướng dẫn áp dụng điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo; Điều 1 Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 về sửa đổi, bổ sung một số điều của

Nghị quyết số 02/2018. Nên không cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi xã hội. Từ những phân tích trên, xác định loại hình phạt: Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức hình phạt cải tạo ngoài xã hội, tại gia đình như đề nghị của Kiểm sát viên, bà C tại phiên tòa cũng đủ để răn đe, cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

[8] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo làm lao động tự do, bị cáo cũng bị tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể: 77% nên không áp dụng hình phạt bổ sung, không phạt tiền đối với bị cáo.

- Về các biện pháp tư pháp:

[9] Về xử lý vật chứng:

Áp dụng khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Trả lại bị cáo 01 (Một) xe Mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Air Blade, Biển kiểm soát: 15F1-336.68; Trả lại người đại diện hợp pháp của bị hại - Bà C 01 (Một) xe Mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Dream, Biển kiểm soát: 16F1-3820 theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 10/10/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Đồ Sơn.

[10] Về trách nhiệm dân sự, bồi thường thiệt hại: Hai bên đã thống nhất, thỏa thuận được với nhau về việc bồi thường thiệt hại, giao các khoản tiền nhiều lần để bà C - Vợ bị hại nhận xong. Bà C không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm khoản tiền gì khác. Nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét về bồi thường.

- Các vấn đề khác:

[11] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

[12] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại - Bà C đều có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Về hình phạt chính:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các điều 38, 65 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Lưu Đình M1 phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xử phạt: Lưu Đình M1 30 (Ba mươi) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 60 (Sáu mươi) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường V, quận Đ, thành phố Hải Phòng giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo Lưu Đình M1 có trách nhiệm phối hợp cùng với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo Lưu Đình M1.

Căn cứ điểm d khoản 1 Điều 125 Bộ luật Tố tụng hình sự: Hủy bỏ biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” số 62/2024/HSST-QĐCĐKNCT ngày 06-12- 2024 của Toà án nhân dân quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng đối với bị cáo Lưu Đình M1.

Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì phải thực hiện theo Điều 92 Luật Thi hành án hình sự như sau:

“Người được hưởng án treo có thể vắng mặt tại nơi cư trú nếu có lý do chínhđáng và phải xin phép theo quy định tại khoản 2 Điều này, phải thực hiện khai báotạm vắng theo quy định của pháp luật về cư trú. Thời gian vắng mặt tại nơi cư trúmỗi lần không quá 60 ngày và tổng số thời gian vắng mặt tại nơi cư trú khôngđược vượt quá một phần ba thời gian thử thách, trừ trường hợp bị bệnh phải điều trị tại cơ sở y tế theo chỉ định của bác sỹ và phải có xác nhận điều trị của cơ sở y tế đó.

Người được hưởng án treo khi vắng mặt tại nơi cư trú phải có đơn xin phépvà được sự đồng ý của Ủy ban nhân dân (sau đây viết tắt: UBND) cấp xã; trường hợp không đồng ý thì UBND cấp xã phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do. Người được hưởng án treo khi đến nơi cư trú mới phải trình báo với Công an cấp xã nơi mình đến tạm trú, lưu trú; hết thời hạn tạm trú, lưu trú phải có xác nhận của UBND cấp xã hoặc Công an cấp xã nơi tạm trú, lưu trú. Trường hợp người được hưởng án treo vi phạm pháp luật, UBND cấp xã nơi người đó đến tạm trú, lưu trú phải thông báo cho UBND cấp xã được giao giám sát, giáo dục kèm theo tài liệu có liên quan.

Việc giải quyết trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú hoặc nơi làm việc thực hiện theo quy định tại Điều 68 của Luật này.

Người được hưởng án treo không được xuất cảnh trong thời gian thử thách.”

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phảichấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

- Về hình phạt bổ sung: Không.

- Các biện pháp Tư pháp:

Về xử lý vật chứng:

Căn cứ khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Trả lại bị cáo 01 (Một) xe Mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Air Blade, Biển kiểm soát: 15F1-336.68; Trả lại người đại diện hợp pháp của bị hại - bà C 01 (Một) xe Mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Dream, Biển kiểm soát: 16F1-3820 theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 10/10/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Đồ Sơn.

Về án phí:

Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử

dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo phải chịu 200.000₫ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo:

Căn cứ các điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại đều có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7ª và 9 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng;
  • - Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng;
  • - VKSND quận Đồ Sơn, TPHP;
  • - Công an quận Đồ Sơn, TPHP + Phòng PV 06 CAHP;
  • - Cơ quan THAHS cấp huyện + Phòng PC 10 CAHP;
  • - Chi cục THADS quận Đồ Sơn + Sở Tư pháp TPHP;
  • - Bị cáo; người đại diện hợp pháp của bị hại;
  • - UBND phường Vạn Hương, quận Đồ Sơn, Hải Phòng;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Đức Hoàng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 51/2024/HS-ST ngày 16/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỒ SƠN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

  • Số bản án: 51/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỒ SƠN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lưu Đình M - Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger