|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN ĐỀ TỈNH SÓC TRĂNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số:51/2024/HSST
Ngày: 13 – 12 – 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN ĐỀ, TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng.
Các Hội thẩm nhân dân:
1/Ông Lâm Minh Đoàn – Phó Bí thư huyện Đoàn huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng.
2/Ông Trần Huy Tùng – Trưởng Phòng tư pháp huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Quốc Dũng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Đề tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Kiến Thức – Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 12 năm 2024. Tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trần Đề xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 48/2024/TLST-HS ngày 15 tháng 11 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 50/2024/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 11 năm 2024, đối với các bị cáo:
-
Lê Phan Trí T, sinh ngày 03 tháng 10 năm 2007; tại huyện T, tỉnh S; Nơi cư trú: C, thị trấn T, huyện T, tỉnh S; Nghề nghiệp: Ngư phủ; Trình độ học vấn: 8/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan Văn C (sống) và bà Lê Thị L (sống); Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo đang thi hành biện pháp ngăn chặn tạm giam từ ngày 09/9/2024.
- Người bào chữa cho bị cáo T: Ông Nguyễn Văn N là Luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý (Vắng mặt) và ông Trần Quang T1 là Luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh S (Có mặt).
Địa chỉ: Số A, đường H, phường F, thành phố S, tỉnh S.
-
Lương Hoàng L1 (T2), sinh ngày 01 tháng 9 năm 2004; tại huyện T, tỉnh S; Nơi cư trú: C, thị trấn T, huyện T, tỉnh S; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 6/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Lương Văn T3 (sống) và bà Hồng Thị N1 (sống); Có vợ và 01 con; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo đang thi hành biện pháp ngăn chặn tạm giam từ ngày 16/10/2024.
(Các bị cáo có mặt tại phiên tòa).
- Người bị hại:
- Ông Nguyễn Văn P, sinh năm 1973 (vắng mặt).
- Ông Phan Văn N2, sinh năm 1978 (vắng mặt).
- Bà Nguyễn Thị Mỹ D, sinh năm 1973 (vắng mặt).
- Ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1963 (vắng mặt).
- Ông Nguyễn Văn N3, sinh năm 1979 (vắng mặt).
- Ông Nguyễn Văn P1, sinh năm 1972 (vắng mặt).
- Ông Nguyễn Hoàng A, sinh năm 1990 (vắng mặt).
Cùng địa chỉ: Ấp C, thị trấn T, huyện T, tỉnh S.
Địa chỉ: Ấp H, thị trấn L, huyện T, tỉnh S.
Địa chỉ: Ấp N, thị trấn T, huyện T, tỉnh S.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Võ Thái B, sinh năm 1986 (có mặt).
- Bà Trương Ngọc G, sinh năm 1985 (có mặt).
- Tôn Thái Hiệp, sinh ngày 06/02/2010.
Cùng địa chỉ: Ấp C, thị trấn T, huyện T, tỉnh S.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông B và bà G: Ông Trần Bửu Thịnh Đ là Luật sư của Công ty L2 thuộc Đoàn Luật sư thành phố C.
Địa chỉ liên lạc: Số 57, đường Nguyễn Văn Thêm, phường 3, thành phố S, tỉnh S.
Địa chỉ: Ấp Đ, xã L, huyện T, tỉnh T.
Người giám hộ: Bà Nguyễn Thị Thúy O, sinh năm 1988.
Địa chỉ: Ấp G, thị trấn T, huyện T, tỉnh S.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lê Phan Trí T, Lương Hoàng L1 (T2) không có nghề nghiệp ổn định, thường xuyên tụ tập chơi game, để có tiền tiêu sài đã cùng nhau lợi dụng đêm tối và sự sơ hở của các chủ ghe, tàu trong quản lý tài sản để lấy trộm dầu. Dầu đề dưới ghe, tàu neo đậu tại khu vực đường A thuộc ấp C, thị trấn T, huyện T, tỉnh S. Tài sản sau khi trộm được, T và L1 đem đi bán cho vợ chồng bà Trương Ngọc G, ông Võ Thái B gây thiệt hại cho nhiều bị hại và ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, gây hoang mang trong dư luận xã hội. Cụ thể như sau:
Lần thứ 1: Vào khoảng 23 giờ ngày 28/11/2023, T và L1 lấy trộm 04 cal bằng nhựa, loại 30 lít của bà Nguyễn Thị Mỹ D sang ghe ông Phan Văn N2 hút trộm dầu từ phi đựng dầu. Sau đó mỗi người ôm 02 cal dầu lội đến ghe của vợ chồng bà Trương Ngọc G, ông Võ Thái Bình B1 với giá 450.000 đồng/cal. T là người nhận tiền sau đó chia cho L1 500.000₫.
Lần thứ 2: Khoảng gần 00 giờ, ngày 29/11/2023, T và L1 đến ghe ông Nguyễn Văn N3 lấy trộm được 03 cal dầu loại 30 lít. Sau đó L1 ôm 01 cal, T ôm 02 cal lội đến ghe của vợ chồng bà Trương Ngọc G, ông Võ Thái Bình B1 với giá 500.000 đồng/cal. T là người nhận tiền sau đó chia cho L1 500.000₫.
Lần thứ 3: Khoảng 00 giờ 00 phút, ngày 30/11/2023, T và L1 cùng với Tôn Thái H đến ghe ông Phan Văn N2 lấy trộm 03 cal dầu, mỗi người ôm 01 cal lội đến ghe của vợ chồng bà Trương Ngọc G, ông Võ Thái Bình B1 với giá 450.000 đồng/cal. Trong lần này T chỉ lo cho H ăn uống chứ không chia tiền.
Lần thứ 4: Đến ngày 02/12/2023, T và L1 đến ghe ông Nguyễn Hoàng A lấy trộm được 03 cal dầu loại 30 lít. Sau đó L1 ôm 01 cal, T ôm 02 cal lội đến ghe của vợ chồng bà Trương Ngọc G, ông Võ Thái Bình B1 với giá 450.000 đồng/cal. T là người nhận tiền sau đó chia cho L1 500.000đ. L1 đưa lại cho T 200.000đ tiền nhậu.
Lần thứ 5: Vào khoảng 22 giờ ngày 03/12/2023, T, L1 và H đến ghe ông Nguyễn Văn P1 lấy trộm được 03 cal dầu loại 30 lít. Sau đó L1 ôm 01 cal, H ôm 02 cal lội đến ghe của vợ chồng bà Trương Ngọc G, ông Võ Thái Bình B1 với giá 450.000 đồng/cal. T là người nhận tiền sau đó chia cho L1 500.000đ, không có chia tiền cho H.
Lần thứ 6: Vào khoảng 00 giờ 00 phút ngày 04/12/2023, T và L1 đến ghe bà Nguyễn Thị Mỹ D lấy trộm được 03 cal dầu loại 30 lít. Sau đó L1 ôm 01 cal, T ôm 02 cal lội đến ghe của vợ chồng bà Trương Ngọc G, ông Võ Thái Bình B1 với giá 450.000 đồng/cal. T là người nhận tiền sau đó chia cho L1 300.000đ.
Lần thứ 7: Vào khoảng 00 giờ 00 phút ngày 05/12/2023, T và L1 đến ghe ông Nguyễn Văn S lấy trộm được 02 cal dầu loại 30 lít. Sau đó L1 ôm 01 cal, T ôm 01 cal lội đến ghe của vợ chồng bà Trương Ngọc G, ông Võ Thái Bình B1 nhưng không gặp nên giấu 02 cal dầu trong cái thúng để dưới bờ kè đường A.
Lần thứ 8: Vào khoảng 23 giờ 00 phút ngày 06/12/2023, T một mình đến ghe của ông Nguyễn Văn P lấy trộm 03 cal dầu đem qua ghe của ông ngoại T giấu. Đến khoảng 22 giờ 30 phút ngày 07/12/2023, T kêu L1 lội qua ghe của ngoại Thức để lấy 03 cal dầu mà T trộm trước đó của ông Nguyễn Văn P để đi bán thì bị ông P phát hiện và trình báo Công an thị trấn T nên L1 và T bị bắt quả tang.
Tại kết luận định giá tài sản số 02 ngày 25/01/2024 của Hội đồng định giá tài sản Ủy ban nhân dân huyện T, kết luận giá trị thành tiền của: 02 (Hai) cal dầu chạy máy Loại DO 0.25 tổng thể tích 51.1 lít; 03 (Ba) cal dầu chạy máy Loại DO 0.25 tổng thể tích 92.8 lít và 19 (Mười chín) cal dầu chạy máy Loại DO 0.25, 30 lít/cal với tổng thể tích 570 lít. Tại thời điểm yêu cầu định giá ngày 07/12/2023 là 14.583.421 đồng.
- 15 (Mười lăm) cal dầu chạy máy Loại DO 0.25, 30 lít/cal với tổng thể tích 450 lít. Tại thời điểm yêu cầu định giá ngày 07/12/2023 là 9.175.500 đồng.
Quá trình điều tra đủ căn cứ chứng minh hành vi phạm tội trộm cắp tài sản của Lê Phan Trí T4 và Lương Hoàng L1. T4 và L1 đã trộm tổng cộng 24 cal dầu. Tài sản sau khi trộm cắp hai bị cáo đem bán cho vợ chồng bà Trương Ngọc G, ông Võ Thái B để lấy tiền chia nhau tiêu xài.
Tại Bản cáo trạng số: 49/CT-VKSĐT ngày 13/11/2024, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng đã truy tố Lê Phan Trí T và Lương Hoàng L1 về tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Lê Phan Trí T và Lương Hoàng L1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51. Riêng bị cáo T do chưa đủ 18 tuổi được áp dụng thêm Điều 91 và Điều 101 của Bộ luật hình sự, xử phạt Lê Phan Trí T từ 09 tháng đến 01 năm tù và Lương Hoàng L1 từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.
Tại phiên tòa các bị cáo Lê Phan Trí T và Lương Hoàng L1 đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Nhất trí với lời luận tội của vị đại diện Viện kiểm sát; bị cáo không tranh luận, không bào chữa cho mình; Lời nói sau cùng các bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa hôm nay vắng mặt người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhưng xét thấy không làm ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự tiến hành xét xử vụ án.
Lời trình bày của người bào chữa cho bị cáo T:
- Về tội danh và khung hình phạt thống nhất với quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát.
- Bị cáo T từ nhỏ đã không được quan tâm của cha mẹ phải sống với ông, bà ngoại, gia đình bị cáo thuộc cận nghèo; trình độ học vấn thấp; nhân thân tốt; khi phạm tội chưa đủ 18 tuổi.
- Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên phạt bị cáo mức án bằng với thời gian tạm giam.
Lời trình bày của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, ông B, bà G:
- Về trách nhiệm dân sự vợ chồng bà Trương Ngọc G, ông Võ Thái B đã bồi thường xong, các bị hại không có yêu cầu.
- Trong vụ án này vợ chồng bà G, ông B không có liên quan.
Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại trong vụ án đã nhận lại tài sản bị mất trộm, không yêu cầu bồi thường gì thêm.
Về vật chứng vụ án:
- 02 (Hai) cal dầu chạy máy Loại DO 0.25 tổng thể tích là 51.1 lít do ông Nguyễn Văn S là chủ sở hữu.
- 03 (Ba) cal dầu chạy máy Loại DO 0.25 tổng thể tích là 92.8 lít do ông Nguyễn Văn P là chủ sở hữu.
- 11 (Mười một) cal dầu chạy máy Loại DO 0.25 tổng thể tích là 330 lít do Lê Phan Trí T và Lương Hoàng L1 trộm cắp trên các ghe của ông Phan Văn N2, bà Nguyễn Mỹ D, ông Nguyễn Văn N3, ông Nguyễn Hoàng A và ông Nguyễn Văn P1.
- 08 cal dầu chạy máy Loại DO 0.25 còn lại Lê Phan Trí T và Lương Hoàng L1 khai nhận đã bán cho Trương Ngọc G và Võ Thái B nhưng giàu và B chỉ nhớ mua 04 cal và đã sử dụng hết. Do đó Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T không thu giữ được.
Về án phí sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Các bị cáo phải chịu án phí theo luật định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, tỉnh Sóc Trăng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Đề, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và bị hại không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tổ tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
-
Xét về tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội do các bị cáo thực hiện, Hội đồng xét xử nhận thấy: Hành vi phạm tội do các bị cáo thực hiện là hành vi nguy hiểm cho xã hội, vì nó xâm phạm đến tài sản của các bị hại. Ngoài ra nó còn làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, làm cho người dân hoang mang lo sợ, không yên tâm lao động, sản xuất.
Các bị cáo là người khỏe mạnh bình thường, có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với ý thức là cố ý và thực hiện một cách liều lĩnh không hề lo sợ sẽ bị phát hiện. Các bị cáo biết rõ tài sản mình trộm là tài sản của người khác nhưng vì lòng tham cộng với sự xem thường pháp luật nên các bị cáo đã lao vào con đường phạm tội.
- Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy: Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có. Trong quá trình thực hiện hành vi phạm tội, các bị cáo không có sự bàn bạc, phân công vai trò, thể hiện sự câu kết chặt chẽ nên các bị cáo phạm tội thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn. Bị cáo T vừa là người khởi xướng và cũng là người trực tiếp đem đi tiêu thụ tài sản trộm được do đó vai trò của bị cáo T trong việc thực hiện hành vi phạm tội cao hơn bị cáo L1. Do đó bị cáo L1 không phải chịu tình tiết tăng nặng tại điểm o khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự là xúi giục người dưới 18 tuổi phạm tội. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo tự nguyện bồi thường thiệt hại; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình điều tra, xét xử; trước khi phạm tội các bị cáo có nhân thân tốt do đó các bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Riêng bị cáo T khi phạm tội bị cáo chưa đủ 18 tuổi nên được áp dụng Điều 91 và Điều 101 của Bộ luật hình sự.
- Tại tòa hôm nay các bị cáo hoàn toàn thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng đã nêu và lời luận tội của vị đại diện Viện kiểm sát. Đối chiếu hành vi phạm tội của các bị cáo thực hiện vừa nêu trên với các quy định của Bộ luật hình sự thì các bị cáo đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng truy tố các bị cáo theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội.
- Đối với Tôn Thái H, sinh ngày 06/02/2010, tính đến thời điểm thực hiện hành vi phạm tội Tôn Thái H chưa đủ 14 tuổi, không đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 12 Bộ luật hình sự, do đó Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T không xem xét xử lý là có căn cứ.
- Đối với hành vi mua dầu do các bị cáo trộm cắp được. Bà Trương Ngọc G và ông Võ Thái B đã bị Tòa án nhân dân huyện Trần Đề xét xử tại Bản án số 40/2024/HSST ngày 30/9/2024 về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo quy định tại khoản 1 Điều 323 của Bộ luật hình sự.
- Về xử lý vật chứng: Xét thấy không ảnh hưởng đến việc xử lý vụ án và thi hành án nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã ra các Quyết định xử lý vật chứng: Trả lại tài sản cho chủ sở hữu là ông Nguyễn Văn S 02 (Hai) cal dầu; trả lại tài sản cho chủ sở hữu là ông Nguyễn Văn P 03 (Ba) cal dầu; trả lại tài sản cho ông Phan Văn N2 03 (Ba) cal dầu; trả lại tài sản cho bà Nguyễn Thị D 02 (Hai) cal dầu; trả lại tài sản cho ông Nguyễn Văn N3 03 (Ba) cal dầu; trả lại tài sản cho ông Nguyễn Hoàng A 03 (Ba) cal dầu.
- Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại trong vụ án đã nhận lại tài sản bị mất trộm, không yêu cầu bồi thường gì thêm.
- Đối với lời trình bày của người bào chữa cho bị cáo T được chấp nhận một phần.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ: Điều 38, Điều 91, Điều 101; Khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm đ khoản 1 Điều 12, điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
- Tuyên bố: Các bị cáo Lê Phan Trí T và Lương Hoàng L1 (T2) phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
-
Tuyên xử:
- Xử phạt bị cáo Lê Phan Trí T 09 (chín) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 09/9/2024.
- Xử phạt bị cáo Lương Hoàng L1 (T2) 01 (một) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 16/10/2024.
- Về bồi thường thiệt hại: Các bị hại không yêu cầu nên không đặt ra xem xét, giải quyết.
- Về xử lý vật chứng: Tài sản đã trao trả cho bị hại xong nên không đặt ra xem xét, giải quyết.
-
Về án phí:
- Bị cáo Lương Hoàng L1 (T2) phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Bị cáo Lê Phan Trí T thuộc trường hợp miễn nộp án phí được quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Báo cho các bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan biết, được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 kể từ ngày tuyên án. Riêng những người vắng mặt được tính từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử phúc thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6,7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Hoàng |
Bản án số 51/2024/HSST ngày 13/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN ĐỀ, TỈNH SÓC TRĂNG về trộm cắp tài sản (hình sự)
- Số bản án: 51/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN ĐỀ, TỈNH SÓC TRĂNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo T cùng đồng bọn trộm cắp
