Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐOAN HÙNG

TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 51/2024/HS-ST

Ngày: 13-12-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐOAN HÙNG, TỈNH PHÚ THỌ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Duyên

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Đức Cường
  2. Ông Nguyễn Thanh Hồng

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Thành - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Ông Lưu Công Hưng - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 52/2024/TLST-HS, ngày 15 tháng 11 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 53/2024/QĐXXST-HS, ngày 02 tháng 12 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Phương T, sinh ngày 19/06/1996 tại huyện Đ, tỉnh Phú Thọ; Nơi cư trú: Khu Á, xã H, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: Lớp 06/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1964 và bà Nguyễn Thị Thanh H, sinh năm 1969; Vợ: Lê Thị T1, sinh năm 1988; Con: chưa có; Tiền án: Không.

Tiền sự: 01. Quyết định xử lý vi phạm hành chính số 85/QĐ-XPHC, ngày 04/7/2024, Công an huyện Đ xử phạt Nguyễn Phương T số tiền là 2.500.000đ, hình thức xử phạt bổ sung theo quy định tại khoản 1 Điều 126 Luật xử lý vi phạm hành chính đối với Nguyễn Phương T số tiền là 12.000.000₫ về hành vi Trộm cắp tài sản. T chưa chấp hành.

Nhân thân:

Bản án số 01/2015/HS-ST, ngày 05/01/2015, Tòa án nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang xử phạt Nguyễn Phương T 03 năm tù về tội “Hủy hoại tài sản” buộc bồi thường cho Trung tâm V số tiền 39.048.000đ, nộp án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự trong vụ án hình sự là 2.152.000đ. T đã chấp hành xong án phí tháng 9/2015, chấp hành xong án phạt tù ngày 08/11/2017. Về trách nhiệm dân sự: Trung tâm V không yêu cầu T phải bồi thường về dân sự, hết thời hiệu yêu cầu thi hành án.

Bản án số 05/2015/HS-ST, ngày 30/01/2015, Tòa án nhân dân huyện Đoan Hùng xử phạt 01 năm tù về tội Trộm cắp tài sản, buộc bồi thường cho Trung tâm viễn thông huyện Đ số tiền 7.158.000đ, nộp án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự trong vụ án hình sự là 557.900đ. T đã chấp hành xong án phí tháng 5/2015, chấp hành xong án phạt tù ngày 08/11/2017. Về trách nhiệm dân sự: Về trách nhiệm dân sự: Trung tâm V không yêu cầu T phải bồi thường về dân sự, hết thời hiệu yêu cầu thi hành án.

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 07/9/2024 đến ngày 10/9/2024 chuyển tạm giam. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam - Công an tỉnh P.

Bị hại:

  1. Anh Lưu Mạnh D, sinh năm 1991 (Vắng mặt)
  2. Địa chỉ: Khu Vân Tiến 3, xã Vân Du, huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ

  3. Anh Phạm Quốc T2, sinh năm 1979 (Vắng mặt)
  4. Địa chỉ: Khu Nam Đẩu, xã Vân Du, huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ

  5. Anh Vũ Xuân Q, sinh năm 1981 (Vắng mặt)
  6. Địa chỉ: Khu Vân Tiến 3, xã Vân Du, huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ

  7. Ông Nguyễn Ngọc H1, sinh năm 1965 (Vắng mặt)
  8. Địa chỉ: Khu Đ, xã V, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Nguyễn Thị Thanh H, sinh năm 1969 (Có mặt)
  2. Địa chỉ: Khu Ánh Hồng, xã Hùng Xuyên, huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ

  3. Anh Ngô Văn T3, sinh năm 1972 (Vắng mặt)
  4. Địa chỉ: Khu T, xã H, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do cần có tiền để chi tiêu cá nhân nên Nguyễn Phương Tân S năm 1996 ở khu Á, xã H, huyện Đ đã nảy sinh ý định đi lang thang, tìm sơ hở của người khác để trộm cắp tài sản bán lấy tiền.

Vào sáng ngày 06/9/2024, trên đường đi uống Methadone, T quan sát trong xưởng mộc của gia đình ông Nguyễn Ngọc Hiếu S1 năm 1965 ở khu Đ, xã V có để nhiều máy móc nhỏ, dễ mang vác, tường rào bao quanh thấp, bên trên là lưới thép B40 không kiên cố nên đã nảy sinh ý định đột nhập vào xưởng này để trộm cắp tài sản. Đến khoảng 01 giờ sáng ngày 07/9/2024, T mang theo 01 bao tải xác rắn màu đỏ cam, 01 kìm cắt sắt có chuôi bọc cao su màu đỏ đen rồi một mình điều khiển xe mô tô biển số 19E1-390.59 đến dựng ở ven đường gần xưởng nhà ông H1. Tại đây, T bịt khẩu trang, cầm theo kìm đi đến tường rào nhà ông H1, dùng kìm cắt lưới B40 tạo thành 01 lỗ rộng rồi chui người qua, đi vào trong xưởng. T lần lượt lấy 01 máy nén khí nhãn hiệu ETOP MODEL XH - 12005, 01 máy cắt góc đa năng nhãn hiệu Maktec MT 230, 01 máy cưa điện và 01 máy bào gỗ nhãn hiệu Makita 82mm M1901 rồi đem ra vị trí lỗ hổng, đặt các tài sản trên xuống ven đường bên ngoài tường rào. Sau đó, T đi ra vị trí để xe, lấy chiếc bao tải đã chuẩn bị sẵn rồi quay lại vị trí để tài sản, dùng tay đúc máy bào gỗ và máy cưa điện vào trong bao tải. Tân bê máy cắt góc để lên yên sau xe, máy nén khí để lên giá đèo hàng giữa xe rồi quay lại lấy bao tải đặt lên trên chiếc máy cắt góc này rồi điều khiển xe đi về nhà. Đến sáng cùng ngày, ông H1 phát hiện tài sản bị trộm cắp nên đã trình báo đến Cơ quan CSĐT - Công an huyện Đ. Cùng ngày, Cơ quan điều tra đã xác minh, rà soát và triệu tập T đến làm việc.

Tại Cơ quan điều tra, T thừa nhận hành vi trộm cắp tài sản của gia đình ông H1 như đã nêu trên, tự nguyện giao nộp số tài sản trộm cắp tại nhà ông H1 mà T chưa kịp đi tiêu thụ. Ngoài ra, T đã tự khai báo 03 vụ trộm cắp tài sản mình đã thực hiện, cụ thể như sau:

Vụ 1: Khoảng 0 giờ sáng ngày 30/4/2024, T một mình điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX biển số 19E1-390.59, phía sau có lắp giá đèo hàng, từ nhà đi theo đường tỉnh lộ 322 hướng ra Quốc lộ B để tìm tài sản trộm cắp. Khi đi đến trước cửa nhà anh Lưu Mạnh D sinh năm 1991 ở khu V, xã V, T thấy nhà anh D đóng kín cổng, trong sân có đặt 01 máy xịt rửa áp lực cao nhãn hiệu M02300 nên đã nảy sinh ý định trộm cắp chiếc máy này. Thực hiện ý định, T dừng xe lại, dựng xe ở ven đường rồi đi đến ven tường xây bên trái nhà, trèo qua bờ tường vào trong sân. T đi đến vị trí đặt chiếc máy xịt rửa, dùng hai tay bê chiếc máy này đặt lên tường rào. Sau đó, Tân trèo qua tường ra bên ngoài, bê chiếc máy đến vị trí dựng xe, đặt lên giá đèo hàng phía sau rồi điều khiển xe mô tô đi về nhà. T không bán mà lắp đặt chiếc máy này tại nhà để sử dụng.

Vụ 2: Khoảng 0 giờ sáng ngày 16/7/2024, T một mình điều khiển chiếc xe trên đi từ nhà dọc theo đường tỉnh lộ 322 hướng ra Quốc lộ B để tìm tài sản trộm cắp. Khi đi đến trước cửa xưởng chế biến lâm sản của gia đình anh Phạm Quốc T2 sinh năm 1979 ở khu N, xã V, T thấy có 01 chiếc xe lôi có thùng khung sắt rộng 01m, dài 1,3m, thành thùng bằng kim loại cao 0,5m, đáy thùng lát gỗ, 02 càng xe làm bằng 02 đoạn ống kim loại dài 1,3m, đường kính 3,4cm, đáy thùng xe nan kim loại, lát bằng gỗ, hai chân chống xe bằng kim loại cao 30cm, gắn với thùng xe là hai bánh xe mô tô, nan bằng kim loại, tổng khối lượng xe lôi là 60kg của gia đình anh T2 để ở ven đường nên đã nảy sinh ý định trộm cắp chiếc xe lôi trên. T dừng xe lại quan sát, thấy chiếc xe lôi không có ai trông giữ nên đã xuống xe, cầm càng xe lôi đặt lên yên xe rồi điều khiển xe mô tô kéo theo chiếc xe lôi này đi về nhà. Do không biết bán chiếc xe ở đâu nên T đã dùng máy cắt điện cầm tay cắt rời chiếc xe thành nhiều phần, đem phần kim loại có tổng khối lượng 30kg thu được từ chiếc xe, bán cho một người nữ giới không quen biết thu mua sắt vụn với giá 320.000đ. T không nói cho người này biết nguồn gốc số sắt này. Số tiền có được từ việc bán sắt vụn, T đã chi tiêu cá nhân hết.

Vụ 3: Sáng ngày 30/8/2024, trên đường đi uống Methadone tại Trạm y tế thị trấn Đ, T thấy 01 chiếc xe lôi kích thước 3x0,96x0,86m, 02 càng làm bằng 02 đoạn ống kim loại phi 34, khung thùng làm bằng ống kim loại phi 34, nan dọc khung xe phi 21, hai chân chống xe phi 34, cao 34cm, gắn với thùng xe là hai bánh xe mô tô, tổng khối lượng là 69kg của anh Vũ Xuân H2 sinh năm 1981 ở khu D, xã P để ở ở ven đường T, đoạn trước cổng UBND xã V thuộc khu V, xã V nên đã nảy sinh ý định trộm cắp chiếc xe này. Khoảng 0 giờ 30 phút ngày 31/8/2024, T một mình điều khiển xe mô tô biển số 19E1-390.59 đi từ nhà đến khu vực trên, thấy chiếc xe lôi vẫn để ở vị trí cũ nên T dừng lại, xuống xe, cầm càng xe lôi đặt lên yên xe rồi điều khiển xe mô tô kéo theo chiếc xe lôi trên đi về nhà. Khoảng vài ngày sau, T nhờ mẹ đẻ là bà Nguyễn Thị Thanh H sinh năm 1969 ở cùng khu nếu biết ai có nhu cầu mua xe lôi thì giới thiệu cho T. T không nói cho bà H biết nguồn gốc chiếc xe trên. Bà H đồng ý, giới thiệu anh Ngô Văn T3 sinh năm 1972 ở khu T, xã H mua xe của T. Sau đó, T đã điều khiển xe mô tô kéo theo chiếc xe lôi trộm cắp được của anh H2 đến gặp anh T3 và bán cho anh T3 với giá 900.000đ. T không nói cho anh T3 biết nguồn gốc chiếc xe lôi này. Số tiền có được từ việc bán xe, T đã chi tiêu cá nhân hết.

Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Phương T đã giao nộp 01 chiếc máy xịt rửa áp lực cao mà T đã trộm cắp tại nhà anh D; 01 xe mô tô biển số 19E1-390.59 mà T điều khiển đi trộm cắp tài sản; 01 áo mưa màu đỏ, 01 quần dài màu đen, 01 áo khoác có mũ trùm đầu màu đen mà T đã mặc khi đi trộm cắp tài sản; 01 bao tải, 01 kìm, 01 máy cắt điện cầm tay mà T sử dụng làm công cụ đi trộm cắp và tiêu thụ tài sản; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung SM-J530F lắp sim số 0334.179.935.

Cơ quan điều tra đã tiến hành khám nghiệm hiện trường nơi T trộm cắp tài sản nhà ông H1, tại đây đã thu giữ 01 khẩu trang mà T sử dụng và làm rơi khi đi trộm cắp cùng 01 chiếc đầu lọc hơi là bộ phận của máy nén khí mà T trộm cắp và làm rơi tại hiện trường.

Căn cứ lời khai của T, Cơ quan điều tra triệu tập bà H và anh T3 đến làm việc, tại Cơ quan điều tra, bà H thừa nhận việc giúp T bán chiếc xe lôi, anh T3 thừa nhận việc mua chiếc xe lôi như trên và tự nguyện giao nộp lại chiếc xe để phục vụ điều tra.

Ngày 09/9/2024, Hội đồng định giá tài sản huyện Đ kết luận:

“01 máy nén khí nhãn hiệu ETOP MODEL XH-12005 dung tích 50 lít, công suất 2200W, kích thước 60x33x56cm, cấu tạo máy gồm: máy nén, bình chứa khí màu đỏ, tay cầm và 02 bánh xe gắn với bình chứa khí, dây và phích cắm điện dài 1,3m, đã qua sử dụng, tại thời điểm ngày 07/9/2024 có giá là 2.300.000₫.

01 cưa điện kích thước 70x20x22cm, vỏ ốp bằng nhựa màu xanh, tay cầm bằng kim loại ốp nhựa màu đen, phần lưỡi cưa gắn xích bằng kim loại, kích thước 41x8cm, dây và phích cắm điện dài 6,9m, đã qua sử dụng, tại thời điểm ngày 07/9/2024 có giá là 1.000.000đ.

01 máy bào gỗ nhãn hiệu Makita 82mm M1901, kích thước 29x16x16, vỏ màu xanh, tay cầm ốp màu đen, lưỡi bào bằng kim loại, dây và phích cắm dài 2,9m, đã qua sử dụng, tại thời điểm ngày 07/9/2024 có giá là 800.000đ.

01 máy cắt góc đa năng nhãn hiệu Maktec MT 230, kích thước 57x50x34cm, tay cầm ốp nhựa màu đỏ, lưỡi cắt răng cưa bằng kim loại, dây và phích cắm điện 2,66m, đã qua sử dụng, tại thời điểm ngày 07/9/2024 có giá là 2.500.000₫.

01 máy xịt rửa áp lực cao nhãn hiệu M02300, kích thước 44x24x35cm, đã qua sử dụng, tại thời điểm ngày 30/4/2024 có giá là 2.300.000đ.

01 xe lôi kích thước 3x0,96x0,86m, 02 càng làm bằng 02 đoạn ống kim loại phi 34, khung thùng làm bằng ống kim loại phi 34, nan dọc khung xe phi 21, hai chân chống xe phi 34, cao 34cm, gắn với thùng xe là hai bánh xe mô tô, tổng khối lượng là 69kg, tại thời điểm ngày 31/8/2024, đã qua sử dụng có giá là 1.300.000₫.

Ngày 13/9/2024, Hội đồng định giá tài sản huyện Đ kết luận:

01 tấm lưới B40, cao 1,2m, làm bờ rào từ năm 2014, bị cắt đứt mắt, xô lệch diện tích kích thước 45cm, cao 80cm, tại thời điểm ngày 07/9/2024 có giá là 200.000đ.

Ngày 24/9/2024, Hội đồng định giá tài sản huyện Đ kết luận:

“01 xe lôi, thùng khung sắt rộng 01m, dài 1,3m, thành thùng bằng kim loại cao 0,5m, đáy thùng lát gỗ, 02 càng xe làm bằng 02 đoạn ống kim loại dài 1,3m, đường kính 3,4cm, đáy thùng xe nan kim loại, lát bằng gỗ, hai chân chống xe bằng kim loại cao 30cm, gắn với thùng xe là hai bánh xe mô tô, nan bằng kim loại, tổng khối lượng xe lôi là 60kg, xe đã cũ, tại thời điểm ngày 16/7/2024 có giá là 1.000.000₫"

Về vật chứng: 01chiếc giá đèo hàng, T đã làm rơi mất, không biết ở đâu nên Cơ quan điều tra không thu giữ được; 01 chiếc xe lôi Tân trộm cắp của anh Phạm Quốc T2, T đã cắt ra bán sắt cho một người không quen biết nên không thu giữ được; các tài sản bị trộm cắp đã thu giữ gồm 01 máy nén khí, 01 máy cắt góc đa năng, 01 cưa máy điện, 01 máy vào gỗ, 01 máy xịt rửa áp lực cao và 01 xe lôi, Cơ quan điều tra đã lần lượt trả lại cho đại diện người bị hại là ông Nguyễn Ngọc H1, anh Lưu Mạnh D và anh Vũ Xuân H2; 01chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX biển số 19E1-390.59, T điều khiển đi trộm cắp, tiêu thụ tài sản là tài sản hợp pháp của bà Nguyễn Thị Thanh H. Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe trên cho bà H.

Vật chứng còn đang tạm giữ tại kho vật chứng của Chi cục thi hành án dâ sự huyện Đ gồm: 01 máy cắt điện cầm tay, 01 kìm, 01 bao tải, 01 áo mưa, 01 quần dài, 01 áo khoác, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung SM - J530F lắp sim số 0334179935 thu giữ của Nguyễn Phương T cùng 01 khẩu trang, 01 đầu lọc khí thu giữ tại hiện trường.

Về dân sự: Gia đình ông Nguyễn Ngọc H1, gia đình anh Lưu Mạnh D, gia đình anh Phạm Quốc T2 và anh Vũ Xuân H2 không yêu cầu T bồi thường. Nguyễn Phương T bồi thường xong cho anh Ngô Văn T3 số tiền 900.000đ.

Tại bản cáo trạng số: 53/CT-VKSĐH, ngày 14/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ đã truy tố bị cáo Nguyễn Phương T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 điều 173 của Bộ luật hình sự

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị:

1. Về trách nhiệm hình sự:

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b,s,r khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật hình sự.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Phương T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Phương T từ 12 tháng đến 15 tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ là ngày 07/9/2024.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

2. Về trách nhiệm dân sự: Xác nhận bị cáo Nguyễn Phương T đã tự nguyện bồi thường cho anh Ngô Văn T3 số tiền 900.000. đồng.

Các bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì khác nên không phải giải quyết.

3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm điểm a,c khoản 2; điểm a,b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

  • Xác nhận Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện Đ đã trả lại cho các bị hại gồm: 01 máy nén khí; 01 máy cắt góc đa năng, 01 cưa máy điện, 01 máy bào gỗ cho ông Nguyễn Ngọc H1; 01 xe lôi cho anh Vũ Xuân H2; 01 máy xịt rửa áp lực cao của anh Lưu Mạnh D; Trả lại 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX biển số 19E1-390.59 cho bà Nguyễn Thị Thanh H.
  • Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung SM - J530F lắp sim số 0334179935 là tài sản của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội.
  • Tịch thu để tiêu hủy: 01 máy cắt điện cầm tay, 01 kìm, 01 bao tải là công cụ phương tiện phạm tội đã cũ không còn giá trị; 01 áo mưa, 01 quần dài, 01 áo khoác, 01 khẩu trang là đồ dùng cá nhân của bị cáo không còn giá trị, bị cáo không đề nghị trả lại; 01 đầu lọc khí không còn giá trị, bị hại không yêu cầu trả lại.

4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo Nguyễn Phương T phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng).

Bị cáo Nguyễn Phương T không tranh luận, không bào chữa gì, thừa nhận và ăn năn hối hận với hành vi phạm tội của bản thân.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tố tụng hình sự: Quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra- Công an huyện Đ, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đoan Hùng và hành vi tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong giai đoạn điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay, không ai có ý kiến, khiếu nại. Do vậy, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về căn cứ buộc tội: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, các vật chứng và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, nên có đủ cơ sở để kết luận:

Rạng sáng ngày 30/4/2024, tại nhà anh Lưu Mạnh D ở khu V, xã V, T đã trộm cắp của gia đình anh D 01 máy xịt rửa áp lực cao nhãn hiệu M02300 trị giá 2.300.000₫.

Rạng sáng ngày 16/7/2024, tại ven đường trước cửa xưởng chế biến lâm sản của gia đình anh Phạm Quốc T2 ở khu N, xã V, T đã trộm cắp của gia đình anh T2 01 chiếc xe lôi trị giá 1.000.000đ.

Rạng sáng ngày 31/8/2024, tại ven đường tỉnh lộ 322 đoạn trước cổng UBND xã V thuộc khu V, xã V, T đã trộm cắp của anh Vũ Xuân H2 ở khu D, xã P 01 chiếc xe lôi trị giá 1.300.000₫.

Rạng sáng ngày 07/9/2024, tại xưởng mộc của gia đình ông Nguyễn Ngọc H1 ở khu Đ, xã V, T đã trộm cắp của gia đình ông H1 01 máy nén khí nhãn hiệu ETOP MODEL XH - 12005 trị giá 2.300.000₫, 01 máy cắt góc đa năng nhãn hiệu Maktec MT 230 trị giá 2.500.000₫, 01 máy cưa điện trị giá 1.000.000₫ và 01 máy bào gỗ nhãn hiệu Makita 82mm M1901 trị giá 800.000đ. Tổng giá trị tài sản T trộm cắp của gia đình ông H1 là 6.600.000đ. Hành vi trộm cắp tài sản với tổng giá trị tài sản trộm cắp là 11.200.000đ trong đó đã có hai lần trộm cắp có giá trị từ 2.000.000 đồng trở lên của Nguyễn Phương T đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự, thuộc trường hợp phạm hai lần trở lên.

Khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự quy định:

“Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.”

Do vậy, Quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đoan Hùng đối với bị cáo Nguyễn Phương T là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3]. Về tính chất, mực độ hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo tuy thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, nhưng đã xâm phạm tới quyền sở hữu tài sản của công dân, gây mất ổn định tình hình trị an và lo lắng cho người dân. Do vậy, cần phải có hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo để giáo dục riêng và phòng ngừa chung tội phạm.

[4]. Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo Nguyễn Phương T phải chịu 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự là phạm tội hai lần trở lên

Trong quá trình điều tra, bị cáo tự nguyện khai báo ra hành vi trộm cắp tài sản trước đó; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tự nguyện bồi thường bồi thường, khắc phục hậu quả nên bị cáo được áp dụng 03 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, r, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Căn cứ vào tính chất hành vi phạm tội, nhân thân và tình tiết giảm nhẹ của bị cáo, trên cơ sở phục vụ công tác đấu tranh phòng chống tội phạm trên địa bàn và tạo điều kiện cho bị cáo có cơ hội sửa chữa sai lầm, cần chấp nhận đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát là áp dụng hình phạt tù giam đối với bị cáo là phù hợp.

[5]. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015 quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”. Tuy nhiên, kết quả xác minh cho thấy bị cáo không có thu nhập ổn định, không có tài sản riêng gì có giá trị nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.

[6]. Về xử lý vật chứng:

Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện Đ đã trả lại 01 máy nén khí; 01 máy cắt góc đa năng,01 cưa máy điện,01 máy bào gỗ cho ông Nguyễn Ngọc H1; 01 xe lôi cho anh Vũ Xuân H2; 01 máy xịt rửa áp lực cao của anh Lưu Tiến D1 là hợp pháp cần xác nhận.

Đối với 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX biển số 19E1-390.59 là tài sản hợp pháp của bà Nguyễn Thị Thanh H, bà H không biết T sử dụng để đi trộm cắp tài sản. Do vậy, Cơ quan điều tra- Công an huyện Đ đã trả lại chiếc xe mô tô cho bà H là hợp pháp cần xác nhận.

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung SM - J530F lắp sim số 0334179935 là tài sản của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo là phù hợp.

Đối với các vật chứng là 01 máy cắt điện cầm tay, 01 kìm, 01 bao tải là công cụ phương tiện phạm tội đã cũ không còn giá trị; 01 áo mưa, 01 quần dài, 01 áo khoác, 01 khẩu trang là đồ dùng cá nhân của bị cáo không còn giá trị, bị cáo không đề nghị trả lại; 01 đầu lọc khí không còn giá trị, ông H1 không yêu cầu trả lại cần tịch thu để tiêu hủy:

[7]. Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho anh Ngô Văn T3 số tiền 900.000. đồng cần xác nhận.

Các bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì khác nên không phải giải quyết.

[8]. Các vấn đề khác:

Đối với hành vi dùng kìm cắt làm hư hỏng 01 tấm lưới B40 của nhà ông H1, do giá trị tài sản bị thiệt hại dưới 2.000.000đ, bản thân T không có tiền án, tiền sự về hành vi Hủy hoại hoặc Cố ý làm hư hỏng tài sản nên Cơ quan điều tra không xử lý hình sự đối với T về hành vi này mà chuyển Công an huyện Đ xử phạt vi phạm hành chính là phù hợp.

Đối với bà Nguyễn Thị Thanh H là người giúp T bán tài sản, anh Ngô Văn T3 là người mua tài sản của T nhưng bà H và anh T3 đều không biết đây là tài sản do T trộm cắp mà có. Vì vậy, Cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối với bà H, anh T3 về tội Chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khách phạm tội mà có là đúng quy định pháp luật.

Đối với người nữ giới mà T khai đã thu mua số sắt mà T cắt ra từ chiếc xe lôi trộm cắp của anh Phạm Quốc T2, T không biết người này là ai, ở đâu, bản thân T cũng xác định không nói cho người này biết nguồn gốc số sắt trên nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý trong vụ án này là phù hợp.

[9].Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm b, r, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a,c khoản 2; điểm a,b khoản 3 Điều 106; Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

  1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Phương T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

  2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Phương T 12 (Mười hai) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ là ngày 07/9/2024.

    Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

  3. Về trách nhiệm dân sự: Xác nhận bị cáo Nguyễn Phương T đã tự nguyện bồi thường cho anh Ngô Văn T3 số tiền 900.000. đồng.

    Các bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì khác nên không phải giải quyết.

  4. Về xử lý vật chứng:

    • Xác nhận Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện Đ đã trả lại: 01 máy nén khí, 01 máy cắt góc đa năng, 01 cưa máy điện, 01 máy bào gỗ cho ông Nguyễn Ngọc H1; 01 xe lôi cho anh Vũ Xuân H2; 01 máy xịt rửa áp lực cao của anh Lưu Tiến D1 (Theo mô tả tại các Biên bản trả lại tài sản ngày 16/9/2024); 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX biển số 19E1-390.59 cho bà Nguyễn Thị Thanh H (Theo miêu tả cụ thể tại các Biên bản trả lại tài sản ngày 16/9/2024).
    • Trả lại 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung SM - J530F lắp sim số 0334179935 cho bị cáo Nguyễn Phương T (Theo miêu tả cụ thể tại Quyết định chuyển vật chứng, biên bản giao nhận vật chứng tại cơ quan thi hành án dân sự huyện Đ).
    • Tịch thu để tiêu hủy: 01 máy cắt điện cầm tay, 01 kìm, 01 bao tải, 01 áo mưa màu đỏ, 01 quần dài màu đen, 01 áo khoác dài tay, 01 khẩu trang kẻ caro màu xanh, xám (đều đã qua sử dụng); 01 đầu lọc khí khô (Theo miêu tả cụ thể tại Quyết định chuyển vật chứng, biên bản giao nhận vật chứng tại cơ quan thi hành án dân sự huyện Đ).
  5. Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Nguyễn Phương T phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng).

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (có mặt) có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ để yêu cầu xét xử phúc thẩm; Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (vắng mặt) có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc niêm yết hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - NLQ;
  • - VKSND huyện Đoan Hùng;
  • - VKSND tỉnh Phú Thọ;
  • - UBND xã Hùng Xuyên;
  • - Công an huyện Đoan Hùng;
  • - Trại tạm giam;
  • - Chi cục THADS huyện Đoan Hùng;
  • - Sở tư pháp;
  • - Lưu: HSVA, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bùi Thị Duyên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 51/2024/HS-ST ngày 13/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐOAN HÙNG, TỈNH PHÚ THỌ về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 51/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐOAN HÙNG, TỈNH PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger