TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN P TỈNH PHÚ YÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 51/2024/HNGĐ-ST Ngày: 05-12-2024 V/v “Tranh chấp ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN P - TỈNH PHÚ YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trương Thị Thu Hiền;
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Xuân Nghi;
Ông Đào Quyết Hận.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Hiền - Thư ký Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Phú Yên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện P, tỉnh Phú Yên tham gia phiên tòa: Bà Huỳnh Tuyết Nhi - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện P mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 177/2024/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 10 năm 2024 về “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 25/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 19 tháng 11 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Võ Thị Tuyết S, sinh năm: 1980;
Cư trú tại: Thôn N, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên. Có mặt tại phiên tòa.
- Bị đơn: Ông Hà Duy L, sinh năm: 1984;
Cư trú tại: Thôn N, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên; Vắng mặt tại phiên tòa, có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và quá trình tham gia tố tụng nguyên đơn Võ Thị Tuyết S trình bày:
Nguyên đơn và bị đơn Hà Duy L tự nguyện tìm hiểu đăng ký kết hôn ngày 05/4/2012, số 47 tại Ủy ban nhân dân (UBND) xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên. Quá trình sống chung với nhau đồng quan điểm sống, nguyên nhân do anh L thường xuyên ăn nhậu về nhà đánh đập vợ con, chị S không chấp nhận được nên đã bỏ về nhà cha, mẹ ruột để sinh sống, vợ chồng sống ly thân từ năm 2016 đến nay. Hiện nay, không còn tình cảm, mục đích hôn nhân không đạt được, mâu thuẫn đã nghiêm trọng, nên nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn.
Về con chung: Có 01 con chung tên Hà Duy K, sinh ngày 09/01/2013, hiện nay đang sống với mẹ. Nguyên đơn yêu cầu được trực tiếp nuôi con và không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại Tòa. Tại biên bản lấy lời khai ngày 05/11/2024 tại nhà ông Hà Duy L thôn N, xã H, huyện P, ông L trình bày đồng ý ly hôn, giao 01 con chung là Hà Duy K cho vợ nuôi, không yêu cầu giải quyết về tài sản chung và nợ chung. Đồng thời bị đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.
Tòa án đã tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải để các đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án nhưng do bị đơn vắng mặt nên không hòa giải được.
Tại phiên tòa: Nguyên đơn trình bày vẫn giữ nguyên các yêu cầu khởi kiện. Bị đơn vắng mặt không trình bày ý kiến.
Viện kiểm sát nhân dân huyện P phát biểu quan điểm: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Từ khi thụ lý đến khi xét xử, Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử (HĐXX) đều tuân thủ đúng quy định pháp luật. Đương sự chấp hành đúng quy định pháp luật, riêng bị đơn chấp hành không đúng giấy triệu tập của Tòa án; Về đề xuất giải quyết vụ án: Đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn xin được ly hôn với bị đơn; Về con chung: Giao cháu Hà Duy K, sinh ngày 09/01/2013 cho chị Võ Thị Tuyết S trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, nguyên đơn không yêu cầu cấp dưỡng nên không đề nghị Tòa án xem xét, giải quyết. Bị đơn được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung mà không ai được cản trở; Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết, đề nghị HĐXX không xem xét giải quyết; Về án phí nguyên đơn phải chịu theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn Võ Thị Tuyết S yêu cầu xin ly hôn với bị đơn Hà Duy L có địa chỉ tại huyện P, tỉnh Phú Yên. Đây là quan hệ tranh chấp ly hôn, thuộc thẩm quyền giải quyết sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện P theo quy định tại Khoản 1 Điều 28, điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS).
Bị đơn được Tòa án triệu tập hợp lệ, nhưng vắng mặt và có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, căn cứ theo Điều 227, Điều 228 BLTTDS Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
[2] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn xin ly hôn với bị đơn:
Về quan hệ hôn nhân: Nguyên đơn Võ Thị Tuyết S và bị đơn Hà Duy L kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 05/4/2012, số 47 tại UBND xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên, đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp.
Xét tình trạng vợ chồng sau khi kết hôn chung sống với nhau từ tháng 04/2012 đến tháng 9/2016 thì phát sinh nhiều mâu thuẫn nghiêm trọng do bất đồng quan điểm sống. Nguyên nhân, ông L có hành vi gây rối trật tự trong gia đình nghiêm trọng dẫn đến ban N phải tổ chức hòa giải vào ngày 01/9/2016 (bút lục 03). Từ thời gian năm 2016 đến nay, giữa ông L và bà S sống ly thân với nhau, có sự xác nhận của trưởng thôn Nho L1 (bút lục 14).
Đối chiếu theo Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình “Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được”.
Quá trình Tòa án làm việc, ông L có lời khai đồng ý ly hôn (bút lục 19) tuy nhiên không đến Tòa để giải quyết, do đó Tòa án không tiến hành hòa giải được. Xét hôn nhân bà S và ông L đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nguyên đơn yêu cầu xin ly hôn là có căn cứ nên HĐXX chấp nhận cho nguyên đơn xin được ly hôn với bị đơn.
[3] Về con chung: Có 01 con chung là cháu Hà Duy K, sinh ngày 09/01/2013, hiện nay đang sống với mẹ. Xét yêu cầu của nguyên đơn được trực tiếp nuôi con và không yêu cầu cấp dưỡng là phù hợp với nguyện vọng xin được ở với mẹ của con, bị đơn cũng thống nhất không có tranh chấp và phù hợp với các quy định của pháp luật nên được chấp nhận giao con chung cho nguyên đơn trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Nguyên đơn không yêu cầu cấp dưỡng nên HĐXX không xem xét, giải quyết.
Người không trực tiếp nuôi con được quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung mà không ai được cản trở.
[4] Về tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết, HĐXX không xem xét, giải quyết.
[5] Về án phí: Nguyên đơn tự nguyện chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[6] Xét các đề xuất của Kiểm sát viên tại phiên tòa phù hợp với các nhận định của HĐXX nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 51, 56, 57, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình.
Căn cứ Khoản 1 Điều 28, điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.
Căn cứ Điều 26, 27 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Võ Thị Tuyết S.
- Về quan hệ hôn nhân: Nguyên đơn Võ Thị Tuyết S được ly hôn với bị đơn Hà Duy L.
- Về con chung: Giao 01 con chung Hà Duy K, sinh ngày 09/01/2013 cho nguyên đơn Võ Thị Tuyết S trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Nguyên đơn không yêu cầu cấp dưỡng, nên hội đồng xét xử không giải quyết.
Người không trực tiếp nuôi con được quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung mà không ai được cản trở.
- Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu, hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
- Về án phí: Nguyên đơn Võ Thị Tuyết S tự nguyện chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được trừ vào 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp tạm ứng án phí tại biên lai thu tiền số 0004827, ngày 08/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện P, tỉnh Phú Yên.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Trương Thị Thu Hiền |
Bản án số 51/2024/HNGĐ-ST ngày 05/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN P - TỈNH PHÚ YÊN về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 51/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/12/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN P - TỈNH PHÚ YÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: nguyên đơn tranh chấp ly hôn, bị đơn vắng mặt, Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
