TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 51/2024/HS-PT Ngày 26-11-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
***
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI
-Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Văn Bình
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Sinh
Bà Đinh Thị Như Phượng
-Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Trà My – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai.
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hòa - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 80/2024/TLPT-HS ngày 01 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo Phan Duy P do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 37/2024/HSST ngày 08 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai.
*Bị cáo có kháng cáo: Phan Duy P, sinh ngày 06/11/1996, tại: tỉnh Quảng Bình. Nơi thường trú và nơi ở hiện tại: Thôn Đ, xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Số CCCD: [...], cấp ngày 29/11/2023; con ông Phan Duy H và bà Hoàng Thị H1; Bị cáo có vợ là Nguyễn Thị Mỹ N; bị cáo có 01 người con sinh năm 2021; tiền án; tiền sự: Không; Bị cáo được áp dụng biện pháp ngăn chặn Bảo lĩnh, bị cáo tại ngoại. Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1.Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 22 giờ 56 phút ngày 30/01/2024 Phan Duy P điều khiển xe ô tô, nhãn hiệu TOYOTA, loại HILUX, BKS: 81C- 238.08 đi trên đường L hướng tổ dân phố F thị trấn C, huyện C để đi đến xã D, huyện C, tỉnh Gia Lai có công chuyện. Khi Phan Duy P điều khiển xe ô tô đi đến ngã tư giao nhau giữa đường L với đường P có biển báo hiệu đi chậm (biển W245a) thuộc tổ dân phố H, thị trấn C, huyện C, tỉnh Gia Lai, do không chú ý quan sát, không giảm tốc độ khi đi qua ngã tư nên đã tông vào xe mô tô, nhãn hiệu Hon Da, loại AIR BLADE, BKS: 81P1- 376.30 do anh Bùi Xuân L điều khiển đi lưu thông trên đường P hướng từ cây xăng số A, thị trấn C, huyện C đi xã D, huyện C làm cho xe ô tô BKS: 81P1- 376.30 và Bùi Xuân L ngã xuống đường. Hậu quả anh Bùi Xuân L chết, xe mô tô BKS: 81P1-376.30 và ô tô BKS: 81C- 238.08 bị hư hỏng.
Sau khi gây tai nạn Phan Duy P đã điều khiển xe ô tô BKS: 81C- 238.08 bỏ chạy khỏi hiện trường trốn tránh trách nhiệm, không cứu giúp người bị thương mà chạy về nhà ở thôn Đ, xã I, huyện C. Đến khoảng 23 giờ 20 phút cùng ngày, Phan Duy P sử dụng điện thoại cá nhân có số 0986.768.xxx gọi đến số điện thoại 02693851xxx của Trực ban của Công an huyện C báo gây tai nạn nhưng không đến Cơ quan Công an nơi gần nhất để trình diện. Đến khoảng 08 giờ 40 phút ngày 31/01/2024, được sự động viên, vận động của gia đình Phan Duy P đã đến Công an huyện C đầu thú khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và giao nộp xe ô tô BKS: 81C-238.08.
Kết quả đo nồng độ cồn trong hơi thở của Phan Duy P: 0.000mg/1; Kết quả xét nghiệm nồng độ cồn trong máu: 1.93 mg/dl, thấp dưới ngưỡng phát hiện của máy, được xem là không có nồng độ cồn trong máu. Kết quả test Ma túy 4 chân: Âm tính.
Do máu của Bùi Xuân L bị tán huyết nên không có kết quả.
Tại Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số: 206/KLGĐTT- KTHS, ngày 03/02/2024, Phòng K Công an tỉnh G kết luận nguyên nhân chết của Bùi Xuân L là: Chấn thương sọ não.
Hiện trường vụ tai nạn giao thông thể hiện như sau: Đoạn đường nơi xảy ra tai nạn thuộc ngã tư giao nhau giữa đường P và đường L. Đường P thẳng, bằng phẳng, mặt đường được trải nhựa rộng 16,5m, đường có dải phân cách cứng phân chia thành hai chiều xe chạy, trên mặt đường có các vạch sơn trắng không liên tục phân chia làn đường xe chạy, hai bên lề đường bằng bê tông mỗi bên rộng 2m, khu vực hai bên đường có dân cư sinh sống, đoạn đường có đèn đường chiếu sáng, trước khu vực ngã tư giao nhau hướng từ thị trấn C đi xã D có biển báo đi chậm (biển W245a), tiếp tuyến đường P với đường L rộng 23m. Đường L thẳng, bằng phẳng, mặt đường được rải nhựa rộng 7,1m, tiếp tuyến giao nhau giữa đường L với đường P rộng 16m, trên mặt đường có kẻ các vạch sơn trắng không liên tục phân chia phần đường, làn đường xe chạy, hai bên lề đường bằng bê tông mỗi bên rộng 2m, khu vực hai bên đường có dân cư sinh sống, đoạn đường không có đèn chiếu sáng, trước khu vực ngã tư giao nhau hướng từ TDP6 đi TDP8 có biển cảnh báo đi chậm (biển W245a).
Ghi nhận việc đánh số thứ tự theo số tự nhiên vị trí hạn nhân, phương tiện, tang vật, dấu vết:
- Tổ hợp vết cày, chà không liên tục kích thước (14,8x1,2x0,01)m;
- Vết chà lốp kích thước (1,4x0,2)m;
- Xe mô tô BKS: 81P1 – 376.30;
- Chất màu đỏ (nghi máu) diện (0,7x0,4)m;
Chọn đường tiếp tuyến giữa đường P với đường L là mép đường chuẩn để tiến hành đo đạc; Lấy trụ điện có ký hiệu 474CSE/53/5/11 làm điểm mốc.
Mô tả theo số thứ tự trí nạn nhân, phương tiện, tang vật, dấu vết:
Tiến hành khám nghiệm hiện trường theo hướng đường L đi từ TDP6 đến TDP8 phát hiện các dấu vết sau: Trong khu vực ngã tư giao nhau giữa đường P và đường L phát hiện trên mặt đường tổ hợp vết cày, chà không liên tục kích thước (14,8x1,2x0,01)m (1), vết có chiều hướng từ TDP6 đi TDP8, đầu vết (1) cách tiếp tuyến đường P 3,45m, cách tiếp tuyến đường L 4,95m và cách điểm mốc 15,4m, đuôi vết (1) kết thúc tại lề đường trái đường L hướng TDP6 đi TDP8 và cách mép chuẩn 2,1m.
Trên mặt đường phát hiện vết chà lốp (2) kích thước (1,4x0,2)m, vết có chiều hướng TDP6 đi TDP8, đầu vết (2) cách mép chuẩn 3,8m và cách đầu vết (1) 1,1m, đuôi vết (2) cách mép chuẩn 4m;
Trên mặt đường từ khu vực ngã tư kéo dài theo đường L phát hiện nhiều dấu vết mảnh vỡ phương tiện nằm rải rác trong diện (26,7×22,7)m, vết mảnh vỡ tập trung ở phần đường trái đường L hướng TDP6 đi TDP8;
Tại khu vực lề đường trái đường L hướng TDP6 đi TDP8 phát hiện 01 xe mô tô ngã nghiêng bên trái trên lề đường (3), xe mô tô (3) tình trạng bể vỡ, hư hỏng nặng, đầu xe hướng về phía mép đường, đuôi xe hướng ra ngoài, tâm trục bánh trước cách mép chuẩn 1,7m và cách đuôi vết (1) 4,7m, tâm trục bánh sau cách mép chuẩn 2,7m.
Tại vị trí mép đường trái đường L hướng TDP6 đi TDP8 phát hiện dấu vết chất màu đỏ (nghỉ máu) (4), vết (4) có diện (0,7x0,4)m, tâm vết (4) ngay tại mép đường chuẩn và cách trục sau xe (3) 2,85m.
Kết quả khám xe ô tô BKS: 81C – 238.08:
Về giấy tờ: 01(một) giấy chứng nhận kiểm định số DB 0189868;01( một) giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 81001068 mang tên Phan Duy P cấp ngày 07/12/2023.
Dấu vết phương tiện: Cảng trước bên trái bể vỡ, bụng rời trong diện (60x60)cm. Cụm đèn pha, đèn cốt, xi nhang trái phía trước bể vỡ hoàn toàn bung rời khỏi định vị. Mặt ngoài trước trái ốp chắn bánh xe móp méo, trầy xước chiều hướng từ trước ra sau, từ ngoài vào trong. Góc trên bên trái nắp cabô ghi nhận dấu vết sinh học (tóc) dính ở mặt ngoài trong diện (12x4)cm. T vết cách mặt đất 130cm. Kính chắn gió phía trước nứt vỡ trong diện (140x70)cm. Gương chiếu hậu phía trước bên trái bể vỡ phần kính. Vỏ ngoài lốp xe trước bên trái bong tróc cao su diện (4x3)cm. T vết cách trục xe 30cm. Mặt ngoài mâm bánh xe trước bên trái mài mòn, trầy xước trong diện (5x1)cm. T vết cách trục xe 23cm. Ốp ngoài cửa xe bên tài có vết trầy xước trong diện (6x2)cm. T vết cách mặt đất 73cm. T1 nhựa phía dưới cửa trước trái bị đẩy lùi theo chiều từ trước ra sau lệch khỏi vị trí ban đầu 10cm.
Kỹ thuật an toàn phương tiện: Tình trạng phương tiện lúc kiểm tra có một số hư hỏng do tai nạn giao thông như sau: Cảng trước, cụm đèn chiếu sáng bên tài gãy, bể. Gương chiếu hậu bể, kính chắn gió phía trước bể. Bánh xe trục 1 bên tài rách.
Tình trạng an toàn kỹ thuật phương tiện: Kiểm tra phương tiện ở trạng thái động (Động cơ hoạt động) Loại phương tiện ô tô tải Pickup cabin kép có kích thước đúng với giấy chứng nhận an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ. Số khung, số máy đúng với giấy chứng nhận an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ. Đồng hồ, đèn báo trên bảng điều khiển đầy đủ, lắp đặt chắc chắn, hoạt động bình thường. Đèn chiếu sáng phía trước, đèn tín hiệu đầy đủ lắp đặt chắc chắn, hoạt động bình thường, trừ các hư hỏng do tai nạn giao thông. Có đủ bàn đạp phanh chân ga, cần điều khiển hộp số, cần điều khiển phanh tay lắp đặt chắc chắn, đảm bảo hoạt động. Hộp số ra vào dễ dàng, không bị kẹt số. Số lượng lốp, cỡ lốp/trục1:2; 265/65R17, 2:2; 265/65R17. Đúng với giấy chứng nhận an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ. Hệ thống treo có đầy đủ các cụm chi tiết đảm bảo hoạt động. Hệ thống lái có đầy đủ các cụm chi tiết đảm bảo hoạt động. Phanh chân: chạy xe ở tốc độ 20km/h trên mặt đường bê tông thời tiết khô ráo, tiến hành đạp phanh chân, kết quả quãng đường phanh đo được 4,5m. Phanh tay: kiểm tra trên mặt dốc 20% trên mặt đường bê tông nhựa, thời tiết khô ráo kết quả xe đứng yên trên mặt đất. Xe ô tô BKS: 81C – 238.08 trước và sau tai nạn hệ thống phanh, hệ thống lái hoạt động tốt. Xe hoạt động bình thường.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số: 11KL- HĐĐGTS ngày 28/02/2024 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự của UBND huyện C, kết luận giá trị thiệt hại của xe ô tô biển số 81C- 238.08 là 102.750.000 đồng.
Kết quả khám xe mô tô BKS 81P1 – 376.30:
Về giấy tờ: 01( một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 003450 tên Bùi Ngọc P1 cấp ngày 11/10/2021.
Về dấu vết phương tiện: Ốp nhựa đầu xe nứt vỡ, bề mặt có nhiều vết trầy xước diện (10x10)cm. Đầu tay lái bên trái mài mòn, kích thước (3x2)cm.Toàn bộ phần cụm đèn chiếu sáng và tín hiệu phía trước bể vỡ hoàn toàn bung rời khỏi định vị. Toàn bộ phần mặt nạ, bửng chắn gió trước, phải, trái bể vỡ hoàn toàn, bung rời khỏi định vị. Chạng ba cong vênh xô đẩy theo chiều từ phải sang trái so với vị trí ban đầu 3cm. Bánh xe trước bề mặt lốp xe có nhiều vết trầy xước, mài mòn nằm rải rác trong diện (20x15)cm, bánh xe bị xô đẩy từ phải sang trái so với vị trí ban đầu 2cm. Toàn bộ phần bệ để chân phía trước bên phải, trái, ốp nhựa thân xe phải, trái bể vỡ hoàn toàn, bung rời khỏi định vị. Phần khung gầm xe bên phải móp méo, xô đẩy từ phải qua trái so với vị trí ban đầu 10cm. Yên xe gãy tun rời khỏi định vị. Cụm đèn tín hiệu phía sau và biển số bể vỡ bụng rời khỏi định vị. Xe mô tô BKS: 81P1 – 376.30 bị hư hỏng hoàn toàn sau tai nạn.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số: 10KL- HĐĐGTS ngày 28/02/2024 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự của UBND huyện C, kết luận giá trị thiệt hại của xe mô tô biển số 81P1-376.30 là 26.333.000 đồng.
2. Giải quyết của Tòa án cấp sơ thẩm:
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 37/2024/HSST ngày 08-8-2024 của Tòa án nhân dân huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai đã quyết định:
Tuyên bố bị cáo Phan Duy P phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 260; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Phan Duy P 24 (Hai mươi bốn) tháng tù, được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 31/01/2024 đến ngày 05/3/2024. Thời hạn chấp hành hình phạt tù còn lại tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên trong phần quyết định về xử lý vật chưng, nghĩa vụ chịu án phí và quyền kháng cáo của bị cáo theo luật định.
3. Kháng cáo của bị cáo
Ngày 15/8/2024 bị cáo Phan Duy P kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.
4. Diễn biến tại phiên tòa phúc thẩm:
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo.
Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự chấp nhận một phần kháng cáo, giữ nguyên mức hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Khoảng 22 giờ 56 phút ngày 30/01/2024, Phan Duy P có giấy phép lái xe hạng B2, điều khiển xe ô tô bán tải biển kiểm soát 81C-238.08 lưu thông trên đường L, thị trấn C theo hướng tổ dân phố F đi tổ dân phố H. Khi đến đoạn ngã tư giao nhau giữa đường P với đường L thuộc địa phận tổ dân phố H, thị trấn C, đoạn đường có biển báo đi chậm (biển W245a). Do vi phạm quy tắc giao thông đường bộ, không giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn khi qua nơi đường bộ giao nhau cùng mức nên đã va chạm với xe mô tô biển kiểm soát 81P1- 376.30 do anh Bùi Xuân L trực tiếp điều khiển chạy trên đường P hướng thị trấn C đi xã D, hậu quả anh L tử vong do chấn thương sọ não.
Từ sơ đồ hiện trường, biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản khám nghiệm phương tiện liên quan đến tai nạn giao thông, kết luận giám định pháp y, lời khai của bị cáo, nhân chứng... đủ cơ sở kết luận, tai nạn xảy ra như trên là do bị cáo điều khiển xe không tuân thủ các quy định của Luật giao thông đường bộ: điều khiển xe ô tô khi qua khu vực có biển báo, không giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn, hậu quả 01 người chết, vi phạm Điều 11, 12 Luật trật tự, an toàn giao thông đường bộ. Bị hại cũng có một phần lỗi do điều khiển xe mô tô qua nơi có biển báo hiệu giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn. Sau khi tai nạn xảy ra bị cáo điều khiển xe rời khỏi hiện trường mới gọi điện báo cơ quan công an nên Tòa sơ thẩm kết án bị cáo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo tình tiết định khung “Cố ý không cứu giúp người bị nạn” tại điểm c khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
[2] Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo của bị cáo thấy rằng:
Đối với kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt: Bị cáo phạm tội tại khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự, tại đó quy định người phạm tội có thể bị xử phạt từ 03 năm đến 10 năm tù. Tòa sơ thẩm đã xem xét bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại, gia đình bị hại đã xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bị hại cũng có lỗi khi điều khiển phương tiện giao thông trên đường từ đó áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo 02 năm tù, là mức hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt bị cáo đã phạm, như vậy là đã khoan hồng cho bị cáo, nên không chấp nhận kháng cáo giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo.
Đối với kháng cáo xin được hưởng án treo: bị cáo có nơi cư trú ổn định, trước khi phạm tội luôn chấp hành đúng chính sách pháp luật, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ công dân nơi cư trú, bị cáo phạm tội lần đầu, bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm bị cáo được gia đình bị hại có đơn đề nghị xin Tòa cấp phúc thẩm cho bị cáo được hưởng án treo.
Xét mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội và toàn bộ các tình tiết của vụ án, về nhân thân, đối chiếu những quy định của pháp luật về điều kiện được hưởng án treo và để thể hiện sự khoan hồng của pháp luật. Vì vậy, Hội đồng xét xử thấy rằng bị cáo có khả năng tự cải tạo, không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho bị cáo được hưởng chế định án treo dưới sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương và gia đình, không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự tại địa phương nên sẽ chấp nhận kháng cáo của bị cáo về việc xin hưởng án treo.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[3] Về án phí: Do kháng cáo được chấp nhận một phần nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
1. Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 37/2024/HSST ngày 08-8-2024 của Tòa án nhân dân huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai về phần hình phạt, giữ nguyên mức hình phạt tù nhưng cho bị cáo được hưởng án treo.
Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 260; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50, Điều 54, Điều 65 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Phan Duy P 24 (hai mươi bốn) tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, thời gian thử thách là 48 (bốn mươi tám) tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm (26/11/2024).
Giao bị cáo Phan Duy P cho Ủy ban nhân dân xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Luật thi hành án hình sự.
2. Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12 /2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí tòa án: bị cáo Phan Duy P không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án ./.
Nơi nhận:
| T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - chủ tọa phiên toà Võ Văn Bình |
Bản án số 51/2024/HS-PT ngày 26/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Số bản án: 51/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 26/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: sửa treo
