Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TAM NÔNG

TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 51/2024/HS-ST

Ngày 20-11-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM NÔNG, TỈNH ĐỒNG THÁP

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Kim Oanh.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Võ Hùng Em.

Ông Nguyễn Hữu Phúc.

Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Hữu Nhàn, Thư ký Toà án nhân dân huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Lê Văn Phục - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 46/2024/TLST-HS ngày 29 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 45/2024/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 11 năm 2024, đối với bị cáo:

Đặng Thị Thanh T, sinh năm 1968 tại thành phố Cần Thơ; tên gọi khác: Không; nơi cư trú: ấp P, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Tháp; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Viết T1, sinh năm 1934 và bà Nguyễn Thị S, sinh năm 1936 (chết); có chồng tên Trần Văn T2, sinh năm 1967 và có 04 người con, lớn nhất sinh năm 1990, nhỏ nhất sinh năm 2005; tiền án, tiền sự: Không; tạm giữ: Ngày 12/9/2024; tạm giam: Ngày 19/9/2024. Bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đ và có mặt tại phiên toà.

Bị hại: Trương Hoàng Mộng T3, sinh năm 1974 (có đơn xin vắng mặt)

Địa chỉ: khóm B, thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

Người làm chứng:

1. Đặng Thị M, sinh năm 1978 (vắng mặt)

Địa chỉ: khóm B, thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

2. Trần Văn T2, sinh năm 1967 (có mặt)

Địa chỉ: ấp P, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 05 giờ 50 phút ngày 12/9/2024, Đặng Thị Thanh T, ngụ ấp P, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Tháp, đến nhà bà Trương Hoàng Mộng T3 ở khóm B, thị trấn T để làm thuê. Công việc của T là chăm sóc mẹ bà T3 bị bệnh (thay tả, lau mình, dọn giường, mặc quần áo). Lúc này, trong phòng mẹ bà T3, có bà T3, T và Nguyễn Thị M1 (giúp việc cho bà T3), bà T3 tháo 02 nhẫn và đôi bông tai đính kim cương quấn vào giấy vệ sinh rồi để vào túi nhựa (bọc nylon màu trắng) cột dây thun quấn lại để trên đầu giường gần chỗ mẹ bà T3 nằm, T nhìn thấy và có ý định chiếm đoạt tài sản. T3 và T cùng vệ sinh cho mẹ bà T3, còn bà M1 quét dọn trong phòng. Vệ sinh xong, bà T3 để mẹ lên xe đẩy ra ban công phía trước nhà phơi nắng, M1 làm vệ sinh xong đi ra ngoài, T 01 mình trong phòng đi đến đầu giường nơi bà T3 để tài sản lấy trộm 02 nhẫn và đôi bông tai kim cương để vào vỏ hộp sữa milo quấn lại cầm trên tay rồi đi ra ban công dọc hành lang phía sau nhà ném xuống chỗ đất trống cất giấu, rồi trở vào phòng. Bà T3 đẩy mẹ vào phòng phát hiện bọc nylon để tài sản trên đầu giường bị mất nên truy tìm và hỏi T và M1 có lấy thì trả lại, nhưng cả hai không thừa nhận, T3 trình báo Công an thị trấn T và mời T về trụ sở làm việc. Trong khi chờ công an làm việc, T đã thừa nhận về hành vi trộm cắp tài sản của bà T3 và dẫn Công an đến thu hồi tài sản do T cất giấu.

Vật chứng thu giữ của Đặng Thị Thanh T, gồm: 01 đôi bông tai bằng kim loại màu trắng có đính đá; 02 nhẫn bằng kim loại màu trắng có đính đá; 01 vỏ hộp sữa milo bị cắt dọc phần hông; 01 mảnh nhỏ bọc nilon màu trắng trong; 01 mảnh nhỏ giấy vệ sinh màu trắng (tất cả đã qua sử dụng).

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T, tỉnh Đồng Tháp, ra Quyết định trưng cầu giám định số: 938/QĐ-ĐTTH, ngày 16/9/2024 gửi Trung tâm nghiên cứu địa chất, đá quý tại thành phố Hồ Chí Minh, giám định 01 đôi hoa tai và 02 nhẫn có đính đá.

Đến ngày 17/9/2024, Trung tâm nghiên cứu địa chất - đá quý tại thành phố Hồ Chí Minh, kết luận:

  • - Giấy kết quả giám định số: 24.09.68 là 02 viên Kim Cương thiên nhiên: trọng lượng 2,70GR; kích thước 4,3 – 4,3 MM; dạng tròn; kiểu cắt tỏa tia; độ trong là trong suốt; màu là không màu, mã số cạnh GIA 2276716301/ GIA 1285141821.
  • - Giấy kết quả giám định số: 24.09.69 là 01 viên Kim Cương thiên nhiên: trọng lượng 4,92GR; kích thước 5,4 MM; dạng tròn; kiểu cắt tỏa tia; độ trong là trong suốt; màu là không màu, mã số cạnh GIA 6312648273.
  • - Giấy kết quả giám định số: 24.09.70 là 01 viên Kim Cương thiên nhiên: trọng lượng 6,47GR; kích thước 5,4MM; dạng tròn; kiểu cắt tỏa tia; độ trong là trong suốt; màu là không màu, mã số cạnh GIA 7358032811.

Kết luận giám định số: 1331/KL-KTHS, ngày 27/9/2024 của Phòng K - Công an tỉnh Đ, kết luận: Một đôi bông tai bằng kim loại màu trắng đều được đính đá, có đóng ký hiệu “KJ 750”, để trong 1 vỉ nhựa được ép kín (ký hiệu M1), được niêm phong trong túi niêm phong mã số NS3A 086280 nêu trên gửi giám định đều có chứa thành phần kim loại chính là (A), hàm lượng trung bình kim loại vàng 75,41% có tổng khối lượng 2,697gam. Một nhẫn bằng kim loại màu trắng có đính đá, có đóng ký hiệu “KJ 750”, để trong 1 vỉ nhựa được ép kín (ký hiệu M2), được niêm phong trong túi niêm phong mã số NS3A 086280 nêu trên gửi giám định có chứa thành phần kim loại chính là (A), hàm lượng trung bình kim loại vàng 76,94% có tổng khối lượng 4,929gam. Một nhẫn bằng kim loại màu trắng có đính đá, có đóng ký hiệu “KJ PNJ 750”, để trong 1 vỉ nhựa được ép kín (ký hiệu M3), được niêm phong trong túi niêm phong mã số NS3A 086280 nêu trên gửi giám định có chứa thành phần kim loại chính là (A), hàm lượng trung bình kim loại vàng 76,52% có tổng khối lượng 6,481gam.

Công văn số: 308/2024-CV-PNJ, ngày 23/9/2024 của Công ty Cổ phần V Chi nhánh P xác nhận là do Công ty Cổ phần V Chi nhánh P, xuất bán cho bà Trương Hoàng Mộng T3, địa chỉ 275, khóm K, thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp, thông tin chi tiết như sau:

  • - Hóa đơn kí hiệu: AB/18P, số 0906961 ngày 07/01/2019: Tên hàng hóa: Vỏ bông tai kim cương; số lượng: 02 chiếc; tuổi vàng: 7500; Đặc điểm chủng loại: Vỏ bông tai vàng trắng, mỗi chiếc có 04 viên kim cương tròn 1.6ly và 8 viên kim cương vuông 1.6ly; giá trị sau thuế: 23.212.000 đồng; Tên hàng hóa: Kim cương; số lượng: 02 viên; Đặc điểm chủng loại: mỗi viên chủ là 4*3ly; PNJ NO 622051/0.323CT; GIA 1285141821; PNJ NO 620345/0.320CT; GIA 1285141821; giá trị sau thuế: 45.420.000 đồng.
  • - Hóa đơn kí hiệu: BV/21E, số 0003728, ngày 05/3/2021: Tên hàng hóa: Kim cương; số lượng: 01 viên; Đặc điểm chủng loại: viên chủ là 5*4ly; PNJ NO 742759; GIA 7358032811; giá trị sau thuế: 97.862.800 đồng; Tên hàng hóa: Vỏ nhẫn kim cương; tuổi vàng: 7500; Đặc điểm chủng loại: Vỏ nhẫn vàng trắng, kết tầng, có 12 viên kim cương giọt 2.5 x 3.5 ly, 08 viên kim cương vuông 1.8ly, 04 viên tròn 2.4 ly, 34 viên 1.5ly; giá trị sau thuế: 73.252.460 đồng.

Kết luận định giá tài sản số: 54/KL-ĐGTS, ngày 08/10/2024 của Hội đồng định giá thường xuyên trong Tố tụng hình sự huyện T, kết luận: Hóa đơn bán hàng ngày 03/10/2019, mẫu số 02GTTT0/001, ký hiệu BV/19E, số 0004175, mang tên Trương Hoàng Mộng T3 là Vỏ nhẫn kim cương GN00NNW000018.130, trọng lượng đá: 0,663 phân. Giá trị là 50.632.000 đồng; Hóa đơn bán hàng ngày 03/10/2019, mẫu số 02GTTT0/001, ký hiệu BV/19E, số 0004176, mang tên Trương Hoàng Mộng T3 là Kim cương, tròn, D, VVS1, PNJ + GIA, 5.4 *5.4 DD1101030.3054054, số kiểm định GIA 6312648273, số kiểm định P1; giá trị 97.862.800 đồng; Hóa đơn bán hàng ngày 07/01/2019, mẫu số 02GTTT3/002, ký hiệu AB/18P, số 0906961, mang tên Trương Hoàng Mộng T3 là Vỏ bông tai kim cương, 02 chiếc, vàng 7500: Vỏ đôi bông tai vàng trắng; Mỗi chiếc có 04 viên kim cương tròn 1.6ly và 08 viên kim cương vuông 1.6ly; Kim cương 02 viên, mỗi viên chủ 4.3ly, PNJ NO 622051/0.323CT, GIA 1285141821, PNJ NO 620345/0.320CT, GIA 1285141821. Giá trị là 68.632.000 đồng; Hóa đơn bán hàng ngày 05/03/2019, mẫu số 02GTTT0/002, ký hiệu BV/21E, số 0003728, mang tên Trương Hoàng Mộng T3 là Kim cương, tròn, D,VVS1, PNJ+GIA,5.4*5.4 DD1101030.3054054, số kiểm định GIA 7358032811, số kiểm định PNJ 742759; Vỏ nhẫn KC0120 kết tầng thoi ổ 5.5ly GN00DDW0022041.120, trọng lượng đá 1.068 phân. Giá trị tổng cộng là 171.115.260 đồng. Tổng cộng giá trị định giá là: 388.242.000 đồng (làm tròn).

Tại Cáo trạng số: 52/CT-VKSTN ngày 28 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Nông đã truy tố bị cáo Đặng Thị Thanh T phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm a khoản 3 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên nội dung bản cáo trạng truy tố bị cáo T về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm a khoản 3 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Riêng tình tiết giảm nhẹ theo Cáo trạng xác định “bị cáo có chồng tên Trần Văn T2 tham gia trong Q, được Nhà nước phong tặng Huân chương chiến công hạng ba” và tình tiết “tự thú” của bị cáo theo điểm x, r khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự là chưa đúng nên Viện Kiểm sát rút lại, thay đổi từ “tự thú” sang “đầu thú” và chuyển các tình tiết giảm nhẹ này áp dụng sang khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Về áp dụng pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 3 Điều 173; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54, Điều 38 của Bộ luật Hình sự tuyên bố bị cáo Đặng Thị Thanh T, phạm tội “Trộm cắp tài sản” mức hình phạt từ 03 năm đến 04 năm tù. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo sống bằng nghề làm thuê, thu nhập không ổn định, đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong.

Về xử lý vật chứng: Quá trình điều tra, đã trả lại 01 đôi bông tai bằng kim loại màu trắng có đính đá; 02 nhẫn bằng kim loại màu trắng có đính đá cho bà Thu N lại xong. Riêng 01 vỏ hộp sữa milo bị cắt dọc phần hông; 01 mảnh nhỏ bọc nilon màu trắng trong; 01 mảnh nhỏ giấy vệ sinh màu trắng. Đề nghị tuyên tịch thu tiêu hủy.

Bị cáo Đặng Thị Thanh T không khiếu nại về hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, thống nhất kết quả giám định, định giá tài sản và thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội “Trộm cắp tài sản” như nội dung cáo trạng đã truy tố và luận tội của Kiểm sát viên, không tham gia tranh luận với Kiểm sát viên.

Lời nói sau cùng, bị cáo đã nhận thức được hành vi của mình vi phạm pháp luật nên xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo xin được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Nông, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Toà án đã triệu tập hợp lệ bà T3, bà M1 đến tham gia phiên toà nhưng bà T3 vắng mặt có lý do; riêng bà M1 vắng mặt không có lý do. Quá trình điều tra, bị hại và người làm chứng đã có lời khai được lưu vào trong hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án vắng mặt bị hại và người làm chứng theo quy định tại Điều 292, 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[3] Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và phù hợp với các tài liệu chứng cứ sau: Biên bản tiếp nhận người phạm tội ra tự thú ngày 12/9/2024; Biên bản kiểm tra tang vật trong vụ án ngày 12/9/2024; Biên bản khám nghiệm hiện trường, Sơ đồ hiện trường và Bản ảnh cùng ngày 12/9/2024 của Công an huyện T; Kết quả giám định số: 24.09.68, số 24.09.69, số 24.09.70 cùng ngày 17/9/2024 của Trung tâm nghiên cứu địa chất - đá quý tại thành phố Hồ Chí Minh; Kết luận giám định số: 1331/KL-KTHS, ngày 27/9/2024 của Phòng K - Công an tỉnh Đ; Công văn số: 308/2024-CV-PNJ, ngày 23/9/2024 của Công ty Cổ phần V Chi nhánh P; Kết luận định giá tài sản số: 54/KL-ĐGTS, ngày 08/10/2024 của Hội đồng định giá thường xuyên tài sản trong Tố tụng hình sự huyện T, tỉnh Đồng Tháp; Lời khai bị hại và người làm chứng, cùng toàn bộ chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Bị cáo T là người được bà T3 thuê, công việc hằng ngày của bị cáo là chăm sóc cho mẹ bà T3 bị bệnh tại khóm B, thị trấn T, huyện T. Khoảng 05 giờ 50 phút, ngày 12/9/2024 trong lúc bà T3 đẩy mẹ bà T3 ra ban công phơi nắng, bị cáo T lén lút lấy trộm tài sản của bà T3 gồm 02 nhẫn kim cương và 01 đôi bông tai kim cương có quấn giấy vệ sinh để vào túi nhựa trên đầu giường, bị cáo bỏ vào vỏ hộp sữa milo ném xuống đất cất giấu để chiếm đoạt tài sản. Kết luận định giá tài sản số: 54/KL-ĐGTS, ngày 08/10/2024 của Hội đồng định giá thường xuyên tài sản trong Tố tụng hình sự huyện T, kết luận giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt là 388.242.000 đồng. Do đó, Cáo trạng số 52/Ct-VKSTN ngày 28/10/2024 truy tố bị cáo T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 173 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ.

Tại điểm a khoản 3 Điều 173 của Bộ luật Hình sự quy định:

“3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng”.

Hành vi của bị cáo là xem thường pháp luật, nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến tài sản của người khác trái pháp luật, ảnh hưởng đến tình hình trật tự, trị an ở địa phương. Bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng để có tiền tiêu xài cá nhân mà thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý. Qua đó, thấy được ý thức xem thường pháp luật của bị cáo nên cần áp dụng mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ và hành vi phạm tội của bị cáo để có tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

Tại phiên toà, bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo. Xét thấy, bị cáo chiếm đoạt tài sản có giá trị 388.242.000 đồng, phạm tội thuộc trường hợp rất nghiêm trọng, tính chất, mức độ và hành vi phạm tội nguy hiểm cho xã hội nên không có căn cứ chấp nhận cho bị cáo hưởng án treo.

[4] Về tình tiết tặng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tự nguyện bồi thường thiệt hại cho bị hại xong; đầu thú; bị cáo phạm tội lần đầu và bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; bị cáo có chồng tên Trần Văn T2 được Nhà nước tặng “Huân chương chiến công hạng ba” ngày 01/10/1996 và “Huân chương chiến sĩ vẻ vang hạng ba” ngày 31/5/1997. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Do bị cáo có hai tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự nên xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo áp dụng hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt theo quy định tại khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự cũng đủ giáo dục, ngăn đe bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

[5] Hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo làm thuê thu nhập không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, bị hại T3 yêu cầu bị cáo T bồi thường sữa chữa tài sản bị hư số tiền 10.000.000 đồng, bị cáo T đã bồi thường số tiền trên cho bà T3 xong (theo Biên bản thỏa thuận dân sự ngày 09/10/2024), bị hại không có yêu cầu nào khác nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[7] Về xử lý vật chứng của vụ án:

Đối với 01 đôi bông tai bằng kim loại màu trắng có đính đá; 02 nhẫn bằng kim loại màu trắng có đính đá. Quá trình điều tra đã trả cho bị hại Thu nhận lại xong (theo Biên bản về việc trả lại tài sản, đồ vật, tài liệu ngày 04/10/2024) nên không xem xét.

Đối với 01 vỏ hộp sữa milo bị cắt dọc phần hông; 01 mảnh nhỏ bọc nilon màu trắng trong; 01 mảnh nhỏ giấy vệ sinh màu trắng, tất cả đều đã qua sử dụng. Xét thấy, vật chứng không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy theo quy định điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[8] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Nông tại phiên tòa là có cơ sở, phù hợp với nhận định nêu trên nên chấp nhận.

[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 173; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

    Tuyên bố bị cáo Đặng Thị Thanh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

    Xử phạt bị cáo Đặng Thị Thanh T 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ là ngày 12 tháng 9 năm 2024.

  2. Về vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

    Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) vỏ hộp sữa milo bị cắt dọc phần hông; 01 (một) mảnh nhỏ bọc nilon màu trắng trong; 01 (một) mảnh nhỏ giấy vệ sinh màu trắng, tất cả đều đã qua sử dụng.

    (Tất cả vật chứng nêu trên Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp đang quản lý theo Biên bản giao, nhận ngày 01/11/2024).

  3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

    Bị cáo Đặng Thị Thanh T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

  4. Bị cáo có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Đồng Tháp;
  • - VKSND huyện Tam Nông;
  • - VKSND tỉnh Đồng Tháp;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - CQ CSĐT CA H. Tam Nông;
  • - CQ THAHS CA H. Tam Nông;
  • - Nhà tạm giữ CA H. Tam Nông;
  • - Chi cục THADS H. Tam Nông;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

đã ký

Huỳnh Kim Oanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 51/2024/HS-ST ngày 20/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM NÔNG, TỈNH ĐỒNG THÁP về trộm cắp tài sản (vụ án hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 51/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Vụ án Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM NÔNG, TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger