|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SÔNG CẦU TỈNH PHÚ YÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 51/2024/HS-ST
Ngày 15/11/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SÔNG CẦU
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Việt Triều.
- - Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Văn Long và ông Nguyễn Ngọc Chẩn.
- - Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Tuyết .
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sông Cầu tham gia phiên tòa: Ông Trương Đức Cảnh – Kiểm sát viên.
Trong ngày 15 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Sông Cầu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 54/2024/HSST ngày 18 tháng 9 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 50/2024/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:
Ma Hoàng V – sinh ngày 08/10/1987 tại Sông C, Phú Yên; Nơi thường trú: L, X, Sông C, Phú Yên; CCCD số: [...]; Nghề nghiệp: làm tóc; Trình độ học vấn: 10/12; Dân tộc: kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Ma Văn Đ – sinh năm 1943, bà Nguyễn Thị E – sinh năm 1954; Vợ: Trần Tiểu M – sinh năm 1995; Con ruột: 01 người. Tiền án, tiền sự: không.
Nhân thân: Ngày 21/10/2020 bị Công an phường X xử phạt vi phạm hành chính 2.500.000đ về hành vi xâm hại sức khoẻ người khác, đã nộp phạt ngày 11/3/2021.
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 09/01/2024 đến ngày 17/01/2024. Hiện tại ngoại, có mặt tại phiên toà.
Người bào chữa cho bị cáo:
- Ông Trần Thanh T – Luật sư, Công ty L, Đoàn luật sư Thành phố H, địa chỉ: 2 đường số I, khu phố A, phường H, TP T, Thành phố Hồ Chí Minh. Vắng mặt.
- Bà Nguyễn Trần Phương T1 – Luật sư, Văn phòng luật sư Nguyễn Trần, Đoàn luật sư tỉnh B, địa chỉ: B L, phường B, thị xã A, tỉnh Bình Định. Có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- A – sinh năm 1982, địa chỉ: L, X, Sông C, Phú Yên. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Chị Nguyễn Thị Thu H – sinh năm 1986, địa chỉ: L, X, Sông C, Phú Yên. Vắng mặt.
- Bà Phạm Thị Bích V1 – sinh năm 1976, nơi thường trú: D, X, Sông C, Phú Yên. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Bà Nguyễn Thị Kim P – sinh năm 1972, địa chỉ: L, X, Sông C, Phú Yên. Vắng mặt.
- Bà Trần Thị Kim H1 – sinh năm 1978, nơi thường trú: P, X, Sông C, Phú Yên; địa chỉ hiện ở: L, X, Sông C, Phú Yên. Vắng mặt.
- Chị Võ Thị Mỹ T2 – sinh năm 1986, nơi thường trú: Tân Thanh, C, Tiền Giang; địa chỉ hiện ở: D, X, Sông C, Phú Yên. Có mặt.
- Anh Cao Quốc B – sinh năm 1980, địa chỉ: L, X, Sông C, Phú Yên. Vắng mặt.
- Bà Ma Thị Kim N– sinh năm 1977, địa chỉ: C, X, Sông C, Phú Yên. Vắng mặt.
- Anh Ma Trung T3 – sinh năm 1990, địa chỉ: L, X, Sông C, Phú Yên. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Từ ngày 21/4/2023 đến 21/5/2023, tại địa bàn thị xã S, tỉnh Phú Yên, Ma Hoàng V đã cho 05 người vay tiền với lãi suất cao nhằm hưởng lợi với tổng số tiền gốc là 265.000.000đ, tổng số tiền lãi mà 05 người vay đã trả cho V là 246.550.000đ (trong đó 8.923.288đ tiền lãi với mức lãi suất 20%/năm, 237.626.712đ tiền lãi thu lợi bất chính), cụ thể như sau:
[1] Phan Chí T4:
Lần thứ nhất: Vào ngày 25/4/2023, V cho T4 vay số tiền 10.000.000đ (mười triệu đồng), lãi suất 20%/tháng, tức mỗi tháng anh T4 phải trả cho Ma Hoàng V số tiền lãi là 2.000.000đ; Viện đưa đủ số tiền vay cho anh T4, sau đó anh T4 về chuyển khoản số tiền 2.000.000₫ (Viện thu trước tiền lãi 01 tháng) qua số tài khoản ngân hàng S của Viện là D. Hàng tháng, anh T4 đã trả tiền lãi đều đến tháng 10/2023, tổng cộng 07 (bảy) tháng tiền lãi, mỗi tháng trả tiền lãi 2.000.000đ. Tổng cộng số tiền lãi anh T4 đã trả cho Ma Hoàng V là: 07 x 2.000.000₫ = 14.000.000đ; trong đó số tiền lãi theo lãi suất 20%/năm là: 1.150.685đ; số tiền lãi thu lợi bất chính là: 12.849.315đ. Sau đó anh T4 đã trả hết tiền gốc khoản vay này.
Lần thứ hai: Vào ngày 14/5/2023, V cho T4 vay số tiền 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng), lãi suất 03%/ngày, tức mỗi ngày anh T4 phải trả cho Viện số tiền lãi 600.000đ, anh T4 nhận đủ số tiền 20.000.000đ và chuyển khoản ngân hàng cho Viện 600.000₫ là tiền lãi thu trước 01 ngày. Hàng ngày, anh T4 chuyển khoản trả tiền lãi cho Ma Hoàng V, trả đến ngày 23/11/2023 thì trả hết tiền gốc khoản vay này (quá trình trả tiền lãi, anh T4 có trả bớt khoản tiền vay, rồi vay lại và tiếp tục trả tiền lãi). Tổng số tiền lãi anh T4 đã trả cho Ma Hoàng V đối với khoản vay này là: 84.000.000đ; trong đó số tiền lãi theo lãi suất 20%/năm là: 1.534.247đ; số tiền lãi thu lợi bất chính là: 82.465.753₫.
Như vậy, tổng số tiền lãi thực tế anh T4 đã trả cho Ma Hoàng V trong hai lần vay trên là: 98.000.000đ (chín mươi tám triệu đồng); trong đó số tiền lãi theo lãi suất 20%/năm là: 2.684.932đ; tổng số tiền lãi thu lợi bất chính là: 95.315.068₫.
[2] Nguyễn Thị Thu H:
Lần thứ nhất: Vào ngày 21/4/2023, V cho H vay số tiền 100.000.000₫ (một trăm triệu đồng), lãi suất 20%/tháng, tức mỗi tháng chị H phải trả cho Viện số tiền lãi là 20.000.000đ, Viện thu tiền lãi trước 01 tháng, chị H chỉ nhận được số tiền: 80.000.000đ. Từ thời điểm vay đến thời hạn 01 tháng sau, mỗi ngày chị H chuyển trả tiền gốc cho Viện 1.000.000đ. Đến ngày 20/5/2024, chị H chuyển cho Viện số tiền 15.000.000đ, trong đó có 14.000.000₫ là tiền lãi của phần tiền gốc 70.000.000đ còn lại (sau khi trừ 30.000.000đ tiền gốc đã trả hàng ngày) và 1.000.000₫ là tiền gốc tiếp tục trả của số tiền vay còn lại.
Lần thứ hai: Sau ít ngày (kể từ ngày 21/4/2023), chị H tiếp tục liên hệ Viện vay thêm số tiền 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng), lãi suất thỏa thuận là 20%/tháng, tức mỗi tháng chị H phải trả số tiền lãi cho Ma Hoàng V là 4.000.000đ; Viện thu tiền lãi trước 01 tháng, chị H chỉ nhận được số tiền: 16.000.000₫.
Tổng số tiền gốc chị H đã trả cho Ma Hoàng V là: 51.000.000đ; hiện còn nợ lại số tiền gốc là: 69.000.000đ. Như vậy, tổng số tiền lãi chị H đã trả cho Ma Hoàng V là: 38.000.000đ; trong đó số tiền lãi theo lãi suất 20%/năm là: 3.123.288đ; tổng số tiền lãi thu lợi bất chính là: 34.876.712đ.
[3] Phạm Thị Bích V1:
Vào ngày 07/5/2023, chị V1 liên hệ Ma Hoàng V vay số tiền 20.000.000₫ (hai mươi triệu đồng), lãi suất 03%/ngày, tức mỗi ngày chị V1 phải trả cho Ma Hoàng V số tiền lãi là: 600.000đ, Viện thu tiền lãi trước 01 ngày; Chị V1 đã trả tiền lãi cho Viện 06 ngày, sau đó trả hết khoản tiền vay. Tổng số tiền lãi chị V1 đã trả cho Ma Hoàng V là: 06 x 600.000đ = 3.600.000đ; trong đó số tiền lãi theo lãi suất 20%/năm là: 65.753đ; số tiền lãi thu lợi bất chính là: 3.534.247d.
[4] Nguyễn Thị Kim P:
Ngày 08/5/2023, chị P liên hệ vay của Ma Hoàng V số tiền 5.000.000đ (năm triệu đồng), lãi suất 30%/tháng, tức mỗi tháng chị P phải trả tiền lãi cho Ma Hoàng V số tiền 1.500.000đ. Khoản vay này chị P chỉ trả tiền lãi được 02 tháng, sau đó không có khả năng trả tiền lãi nữa. Tổng số tiền lãi chị P đã trả cho Ma Hoàng V là: 02 x 1.500.000₫ = 3.000.000đ; trong đó số tiền lãi theo lãi suất 20%/năm là: 164.384đ; số tiền lãi thu lợi bất chính là: 2.853.616đ.
[5] Trần Thị Kim H1:
Lần thứ nhất: Vào ngày 02/5/2023, chị H1 liên hệ Ma Hoàng V vay số tiền 10.000.000đ (mười triệu đồng), lãi suất 30%/tháng, tức mỗi tháng chị H1 phải trả tiền lãi cho Ma Hoàng V số tiền: 3.000.000đ, Viện thu tiền lãi trước 01 tháng, chị H1 chỉ nhận được số tiền 7.000.000đ. Khoản vay này chị H1 chỉ tiền lãi được 03 tháng, sau đó không có khả năng trả lãi. Tổng số tiền lãi chị H1 đã trả cho Ma Hoàng V: 03 x 3.000.000₫ = 9.000.000đ; trong đó số tiền lãi theo lãi suất 20%/năm là: 493.151đ; số tiền lãi thu lợi bất chính là: 8.506.849₫.
Lần thứ hai: Vào ngày 05/5/2023, chị H1 liên hệ Ma Hoàng V vay số tiền 10.000.000đ (mười triệu đồng), lãi suất 03%/ngày, tức mỗi ngày chị H1 phải trả cho Ma Hoàng V số tiền lãi là: 300.000đ. Khoản vay này chị H1 đã trả tiền lãi được 67 ngày, sau đó không có khả năng trả tiền lãi nữa. Tổng số tiền lãi chị H1 đã trả cho Ma
Hoàng V là: 67 x 300.000đ = 20.100.000đ; trong đó số tiền lãi theo lãi suất 20%/năm là: 367.123đ; số tiền lãi thu lợi bất chính là: 19.732.877d.
Lần thứ ba: Vào ngày 07/5/2023, chị H1 nhờ chị Nguyễn Thị Kim P vay của Ma Hoàng V số tiền 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng), lãi suất 03%/ngày, tức mỗi ngày chị H1 phải trả cho Ma Hoàng V số tiền lãi là: 600.000đ; Viện thu tiền lãi trước một ngày, chị H1 chỉ nhận được số tiền 19.400.000đ. Khoản vay này chị H1 đã trả tiền lãi đến ngày 10/7/2023, tổng cộng 67 ngày, sau đó không có khả năng trả tiền lãi nữa. Tổng số tiền lãi chị H1 đã trả cho Ma Hoàng V là: 67 x 600.000đ = 40.200.000đ; trong đó số tiền lãi theo lãi suất 20%/năm là: 734.247đ; số tiền lãi thu lợi bất chính là: 39.465.753₫.
Lần thứ tư: Vào ngày 08/5/2024, chị H1 nhờ chị Nguyễn Thị Kim P liên hệ Ma Hoàng V vay số tiền 15.000.000đ (mười lăm triệu đồng), lãi suất 30%/tháng, tức mỗi tháng chị H1 phải trả cho Ma Hoàng V số tiền lãi là: 4.500.000đ; Viện thu tiền lãi trước 01 tháng. Khoản vay này chị H1 chỉ trả tiền lãi được 02 tháng (đã bao gồm tiền lãi thu trước), sau đó không có khả năng trả tiền lãi nữa. Tổng số tiền lãi chị H1 đã trả cho Ma Hoàng V là: 02 x 4.500.000₫ = 9.000.000đ; trong đó số tiền lãi theo lãi suất 20%/năm là: 493.151đ; số tiền lãi thu lợi bất chính là: 8.506.849₫.
Lần thứ năm: Vào ngày 12/5/2023, chị H1 tiếp tục vay của Ma Hoàng V số tiền 5.000.000₫ (năm triệu đồng), lãi suất 03%/ngày, tức mỗi ngày chị H1 phải trả cho Ma Hoàng V số tiền lãi là: 150.000đ. Khoản vay này chị H1 đã trả tiền lãi đến ngày 18/5/2023, tổng cộng 07 ngày, sau đó trả hết khoản vay này. Tổng số tiền lãi chị H1 đã trả cho Ma Hoàng V là: 07 x 150.000đ = 1.050.000đ; trong đó số tiền lãi theo lãi suất 20%/năm là: 19.178đ; số tiền lãi thu lợi bất chính là: 1.030.822d.
Lần thứ sáu: Vào ngày 14/5/2023, chị H1 vay của Ma Hoàng V số tiền 5.000.000đ (năm triệu đồng), lãi suất 03%/ngày, tức mỗi ngày chị H1 phải trả cho Ma Hoàng V số tiền lãi là: 150.000đ. Khoản vay này chị H1 đã trả tiền lãi đến ngày 15/5/2023, tổng cộng 02 ngày, sau đó trả hết khoản vay này. Tổng số tiền lãi chị H1 đã trả cho Ma Hoàng V là: 02 x 150.000₫ = 300.000đ; trong đó số tiền lãi theo lãi suất 20%/năm là: 5.479đ; số tiền lãi thu lợi bất chính là: 294.521đ.
Lần thứ bảy: Vào ngày 16/5/2023, chị H1 nhờ chị Phạm Thị Bích V1 liên hệ Ma Hoàng V vay số tiền 15.000.000đ (mười lăm triệu đồng), lãi suất 30%/tháng, tức mỗi tháng chị H1 phải trả cho Ma Hoàng V số tiền lãi là: 4.500.000đ; Viện thu tiền lãi trước 01 tháng. Khoản vay này chị H1 đã trả tiền lãi được 02 tháng (đã bao gồm tiền lãi thu trước), sau đó không có khả năng trả tiền lãi nữa. Tổng số tiền lãi chị H1 đã trả cho Ma Hoàng V là: 02 x 4.500.000₫ = 9.000.000đ; trong đó số tiền lãi theo lãi suất 20%/năm là: 493.151đ; số tiền lãi thu lợi bất chính là: 8.506.849₫.
Lần thứ tám: Vào ngày 21/5/2023, chị H1 vay của Ma Hoàng V số tiền 10.000.000đ (mười triệu đồng), lãi suất 03%/ngày, tức mỗi ngày chị H1 phải trả cho Ma Hoàng V số tiền lãi là: 300.000đ. Khoản vay này chị H1 đã trả tiền lãi đến ngày 10/7/2023, tổng cộng 51 ngày, sau đó không có khả năng trả tiền lãi nữa. Tổng số tiền lãi chị H1 đã trả cho Ma Hoàng V là: 51 x 300.000₫ = 15.300.000đ; trong đó số tiền lãi theo lãi suất 20%/năm là: 279.452đ; số tiền lãi thu lợi bất chính là: 15.020.548₫.
Như vậy, tổng số tiền lãi thực tế chị H1 đã trả cho Ma Hoàng V đối với 08 lần vay nêu trên là: 103.950.000đ; trong đó số tiền lãi theo lãi suất 20%/năm là: 2.884.932đ; số tiền lãi thu lợi bất chính là: 101.065.068₫.
Đến ngày 09/01/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã S tiến hành triệu tập Ma Hoàng V đấu tranh làm rõ hành vi cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự.
Tại bản cáo trạng số 37/CT-VKSSC ngày 18/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sông Cầu truy tố Ma Hoàng V phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo quy định tại khoản 2 Điều 201 Bộ luật hình sự.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã S, Ma Hoàng V đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã S thu thập được. Tuy nhiên, tại phiên toà, bị cáo kêu oan, không thừa nhận hành vi phạm tội, cho rằng bị ép cung trong thời gian bị tạm giữ, bị cáo chỉ cho mượn tiền chứ không cho vay lãi nặng như Cáo trạng truy tố.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên cáo trạng và đề nghị:
- - Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Ma Hoàng V phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”; áp dụng khoản 2, 3 Điều 201; điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Ma Hoàng V từ 09 tháng đến 01 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án. Được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 09/01/2024 đến ngày 17/01/2024. Phạt bổ sung bị cáo: 40.000.000đ đến 50.000.000₫.
- - Về biện pháp tư pháp: Buộc bị cáo nộp lại số tiền gốc mà bị cáo dùng để cho vay (những người vay đã trả cho bị cáo) và số tiền lãi tương ứng mức lãi suất 20%/năm mà bị cáo đã thu của những người vay để sung vào ngân sách nhà nước. Buộc những người vay nộp lại số tiền vay gốc chưa trả cho bị cáo để sung vào ngân sách nhà nước. Buộc bị cáo trả lại cho những người vay số tiền lãi thu lợi bất chính (trên mức lãi suất 20%/năm) mà bị cáo đã thu của những người vay. Đối với các trường hợp đã giải thích rõ quyền được nhận lại tiền lãi vượt quá lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật dân sự nhưng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan từ chối nhận lại thì đề nghị áp dụng theo hướng dẫn tại mục số 3 Công văn số 233/TANDTC-PC ngày 01/10/2019 của Toà án nhân dân tối cao về việc trao đổi nghiệp vụ, không tuyên tịch thu sung công quỹ.
- - Về vật chứng vụ án: Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 (một) điện thoại di động vì là công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội. Tiếp tục tạm giữ số tiền 12.000.000đ để đảm bảo việc thi hành án.
- - Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Tại phiên toà, người bào chữa cho bị cáo trình bày: Đề nghị Hội đồng xét xử trả hồ sơ điều tra bổ sung vì còn nhiều nội dung chưa được điều tra làm rõ tại Quyết định trả hồ sơ điều tra bổ sung ngày 29/8/2024 của Toà án nhưng không được Viện kiểm sát chấp nhận. Đồng thời, việc bắt giữ bị cáo là không đúng trình tự thủ tục, điện thoại bị thu giữ ngày 09/01/2024 nhưng mấy ngày sau mới lập biên bản tạm giữ là không đúng quy định. Bị cáo kêu oan, bị ép cung nhưng không được điều tra làm rõ vấn đề này. Không cho đối chất giữa bị cáo với những người vay tiền là vi phạm
thủ tục tố tụng. Tại phiên toà, cũng không thể đối chất được vì những người vay tiền đều vắng mặt. Quá trình điều tra không ghi âm, ghi hình là không khách quan. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử trả hồ sơ điều tra bổ sung. Trường hợp mà Hội đồng xét xử không trả hồ sơ điều tra bổ sung thì đề nghị tuyên bố bị cáo vô tội, vì thiếu chứng cứ để buộc tội bị cáo.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Kêu oan, bị cáo không phạm tội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã S, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sông Cầu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
Đến ngày 16/8/2024, sau khi nhận được Quyết định đưa vụ án ra xét xử bị cáo mới có đơn yêu cầu xác minh chứng cứ về việc cho vay lãi nặng, trong đơn bị cáo có ý kiến khiếu nại trong thời gian bị tạm giữ bị cáo bị đe doạ nếu không hợp tác với cơ quan điều tra, bị áp đảo, khủng bố tinh thần, đe doạ sẽ đem cha, mẹ bị bệnh và con trai nhỏ đến tìm bị cáo; bị ép buộc phải ký nhận tội thì mới được cho tại ngoại; cán bộ điều tra đọc nội dung cho bị cáo viết. Tại phiên toà, bị cáo trình bày mình bị ép cung trong thời gian bị tạm giữ 09 ngày, phải ký nhận tội mới được cho tại ngoại, chứ bị cáo không cho vay lãi nặng. Tuy nhiên, bị cáo không cung cấp được tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho lời trình bày của mình. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 09/01/2024 đến ngày 17/01/2024, lẽ ra nếu bị cáo bị ép cung, đe doạ thì bị cáo đã có ý kiến hoặc khiếu nại từ ngày 18/01/2024 (khi được tại ngoại), chứ không phải đến ngày 16/8/2024 (là gần 07 tháng sau) bị cáo mới có đơn yêu cầu xác minh chứng cứ với ý kiến cho rằng bị đe doạ, ép cung.
Xét, tại phiên toà bị cáo khẳng định chỉ bị ép cung trong 09 ngày bị tạm giữ, sau này tại ngoại thì không bị ép cung hay nhục hình; tuy nhiên, sau khi được tại ngoại thì vào ngày 08/3/2024 và 11/3/2024 Ma Hoàng V ký xác nhận vào 02 Bảng kê chi tiết (BL319-323) xác nhận tiền lãi mà Phan Chí T4 và Nguyễn Thị Thu H trả qua tài khoản cho Viện. Ngày 15/3/2024 Ma Hoàng V ký xác nhận vào Bảng thống kê tiền cho vay, tiền lãi thu lợi bất chính (BL331). Đồng thời, tại Biên bản hỏi cung bị can ngày 15/3/2024 (BL324-326), Bản tự khai do chính bị cáo viết ngày 15/3/2024 (BL327), Biên bản hỏi cung bị can ngày 15/3/2024 (BL328-329), Bản tự khai do chính bị cáo viết ngày 15/3/2024 (BL330) và Biên bản hỏi cung bị can ngày 10/6/2024 (BL375-376) thì bị cáo đều khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội; thời gian này bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam và không bị ép cung hay nhục hình nhưng khai nhận phù hợp với lời khai của bị cáo trong thời gian bị tạm giữ. Riêng Biên bản hỏi cung bị can ngày 10/6/2024 (BL375-376) tại Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sông Cầu do Kiểm sát viên hỏi cung thì bị cáo vẫn thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, không hề có ý kiến cho rằng bị ép cung trong giai đoạn điều tra. Do đó, bị cáo cho rằng lời khai
trong thời gian bị tạm giữ là do bị đe doạ, ép buộc phải nhận tội là không có cơ sở.
Hội đồng xét xử nhận thấy, quá trình điều tra Điều tra viên, Cán bộ điều tra đã giải thích cho Ma Hoàng V về quyền, nghĩa vụ, việc thành khẩn khai báo nhận tội, ăn năn hối cải để được sự khoan hồng của pháp luật, là Điều tra viên, Cán bộ điều tra đã thực hiện đúng quy định pháp luật.
Tại phiên toà bị cáo, người bào chữa cho rằng bị cáo tạm giữ 09 ngày không có lệnh/quyết định, tuy nhiên hồ sơ vụ án thể hiện có Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp ngày 09/01/2024 (BL07), Biên bản giữ người trong trường hợp khẩn cấp ngày 09/01/2024 (BL08), Quyết định tạm giữ ngày 09/01/2024 (BL09), Lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp ngày 09/01/2024 (BL12), Biên bản bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp ngày 09/01/2024 (BL15), Quyết định gia hạn tạm giữ lần thứ nhất ngày 11/01/2024 (BL19), Quyết định gia hạn tạm giữ lần thứ hai ngày 14/01/2024 (BL22), tất cả đều có chữ ký của Ma Hoàng V và đều được Viện kiểm sát phê chuẩn theo đúng quy định pháp luật. Do đó, ý kiến của bị cáo và người bào chữa về vấn đề này là không có căn cứ chấp nhận.
Xét tại Biên bản tạm giữ tài sản ngày 09/01/2024 (BL270) cơ quan điều tra tạm giữ của Viện điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Promax. Biên bản kiểm tra dữ liệu tin nhắn điện thoại di động ngày 09/01/2024 (BL271) ghi nhận trong kho ảnh có 05 ảnh liên quan đến việc Viện cho vay. Như vậy, việc lập biên bản tạm giữ điện thoại và kiểm tra dữ liệu bên trong điện thoại được thực hiện vào ngày 09/01/2024, chứ không phải mấy ngày sau như người bào chữa trình bày.
Tại phiên toà, người bào chữa và bị cáo có yêu cầu phải có mặt 05 người vay để đối chất tại phiên toà, cho rằng quá trình điều tra không cho tiến hành đối chất và không có ghi âm, ghi hình khi hỏi cung bị can là vi phạm thủ tục tố tụng. Căn cứ khoản 1 Điều 189 Bộ luật tố tụng hình sự “Trường hợp có mâu thuẫn trong lời khai giữa hai người hay nhiều người mà đã tiến hành các biện pháp điều tra khác nhưng chưa giải quyết được mâu thuẫn thì Điều tra viên tiến hành đối chất.” Tuy nhiên, lời khai nhận tội của bị cáo trong quá trình điều tra phù hợp với lời khai của những người vay, nên cơ quan điều tra không tiến hành đối chất là không vi phạm thủ tục tố tụng. Tại phiên toà ngày 29/8/2024 có mặt Nguyễn Thị Thu H và Trần Thị Kim H1 vẫn trình bày như lời khai có tại hồ sơ vụ án. Tại phiên toà hôm nay Phan Chí T4 và Phạm Thị Bích V1 có đơn xin xét xử vắng mặt, giữ nguyên lời trình bày tại cơ quan điều tra; Nguyễn Thị Thu H, Nguyễn Thị Kim P và Trần Thị Kim H1 đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt. Do đó, căn cứ Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự, Kiểm sát viên đề nghị tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung, trong quá trình xét xử sẽ công khai các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án là có căn cứ chấp nhận.
Tại phiên toà người bào chữa đề nghị trả hồ sơ điều tra bổ sung một số nội dung nêu trên và các nội dung mà trước đây Toà án đã trả hồ sơ điều tra bổ sung nhưng Viện kiểm sát không chấp nhận; tuy nhiên căn cứ khoản 2 Điều 174, Điều 280 Bộ luật tố tụng hình sự thì đề nghị của người bào chữa là không có căn cứ để chấp nhận. Toà án tiến hành xét xử vụ án trong giới hạn việc xét xử được quy định tại Điều 298 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tại phiên toà vắng mặt Luật sư Trần Thanh T, những người có quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan tuy nhiên đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần, việc vắng mặt họ không trở ngại cho việc giải quyết vụ án nên căn cứ Điều 291, Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự, tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về tội danh: Tại phiên toà bị cáo không nhận tội, cho rằng nội dung cáo trạng truy tố oan cho bị cáo. Tuy nhiên, xét lời khai nhận tội của bị cáo tại cơ quan điều tra phù hợp với lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, cũng như các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên tòa. Cụ thể như sau:
Tại phiên toà ngày 29/8/2024 và tại phiên toà hôm nay, bị cáo V thừa nhận có cho T4, H, V1, P, H1 vay tiền nhiều lần như cáo trạng xác định nhưng là cho vay không lãi suất, hoàn toàn không có việc cho vay lãi nặng. Tuy nhiên, qua đối chiếu bảng sao kê tài khoản ngân hàng của Ma Hoàng V (BL262-266) với bảng sao kê tài khoản ngân hàng của P (BL97-115) và H1 (BL128-151); các ảnh chụp tin nhắn cuộc chuyện giữa H1 với Viện từ BL152-244; các ảnh chụp thời điểm người vay tiền viết giấy mượn tiền và những người vay tiền nhận tiền mặt được lưu trong điện thoại của Viện (BL272-276); các ảnh chụp tin nhắn cuộc nói chuyện giữa T4 với Viện (BL277-287); Giấy cầm xe tại BL292; bảng kê chi tiết quá trình H1, P trả tiền lãi qua tài khoản cho Viện tại BL296-297; bảng thống kê tiền cho vay, tiền lãi thu lợi bất chính tại BL303-304 và BL331; 03 (ba) bảng kê chi tiết quá trình trả tiền gốc, lãi qua tài khoản cho Viện tại BL316-323 thì có đủ cơ sở xác định Viện cho vay có thu lãi nặng.
Các tài liệu, chứng cứ nêu trên phù hợp với lời khai của Phan Chí T4 tại các biên bản lấy lời khai, bản tự khai, bảng kê chi tiết quá trình trả tiền lãi qua tài khoản cho Ma Hoàng V từ BL56-69. Lời khai của Nguyễn Thị Thu H tại các biên bản lấy lời khai, bản tự khai, bảng kê chi tiết phần tiền gốc, lãi đã trả qua tài khoản cho Ma Hoàng V từ BL72-82. Đơn trình báo tại BL85 của Phạm Thị Bích V1; lời khai của Phạm Thị Bích V1 tại các biên bản lấy lời khai, bản tự khai từ BL86-91. Lời khai của Nguyễn Thị Kim P tại biên bản lấy lời khai BL94-95, sao kê tài khoản ngân hàng từ BL97-115, lời khai tại các biên bản lấy lời khai, bản tự khai, bảng kê chi tiết quá trình trả tiền lãi qua tài khoản cho Ma Hoàng V từ BL116-122. Lời khai Trần Thị Kim H1 tại các biên bản lấy lời khai BL125-126, sao kê tài khoản ngân hàng từ BL128-151, ảnh chụp tin nhắn cuộc nói chuyện giữa H1 với Viện từ BL152-244, lời khai tại các biên bản lấy lời khai, bản tự khai, bảng kê chi tiết quá trình trả tiền lãi qua tài khoản cho Ma Hoàng V từ BL245-255.
Lời khai của những người vay tại cơ quan điều tra và tại phiên toà ngày 29/8/2024 bà H và H1 đều khẳng định hoàn toàn tự nguyện khai báo trung thực, khách quan quá trình vay tiền, trả nợ gốc, lãi cho Viện. Đồng thời, tại phiên toà bị cáo thừa nhận có quan hệ họ hàng hoặc quen biết với những người vay và không có mâu thuẫn gì với họ, không có lý do gì để những người vay khai báo gian dối gây bất lợi cho Viện, nên lời khai của những người vay là đúng sự thật khách quan. Hơn nữa, tại BL258 Võ Thị Mỹ T2 khai có quen biết và quan hệ tình cảm với Viện, thỉnh thoảng sống chung với nhau, T2 thừa nhận Viện có nhờ T2 đi lấy tiền bà H1 còn nợ giúp cho Viện. Tại phiên toà, T2 cũng khẳng định có việc lấy tiền bà H1 còn nợ giúp cho V, nhưng không hỏi rõ là tiền gì.
Bên cạnh đó, tại BL48 Viện tự viết Giấy cam đoan có nội dung “Có hành vi cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự ngày 09/01/2024”. Tại các BL50-55 Viện ký nhận các văn bản tố tụng của Cơ quan CSĐT Công an thị xã S đều ghi “Không có ý kiến gì”. BL360 Viện ký nhận bản kết luận điều tra vụ án hình sự đề nghị truy tố và xác định không có ý kiến gì. Tại BL375-376 biên bản hỏi cung bị can tại Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sông Cầu do Kiểm sát viên hỏi cung, Viện đã khai nhận hành vi cho 05 người vay lãi nặng với số tiền gốc là 265.000.000đ, thu lợi bất chính là 237.626.712đ; Viện khai trong quá trình làm việc với Cơ quan CSĐT Công an thị xã S thì Viện không bị bức cung, móm cung hay dùng nhục hình; Viện nhận thấy hành vi của mình là sai trái, mong muốn giảm nhẹ hình phạt. Tại BL379 khi nhận bản cáo trạng thì Viện xác định không có ý kiến gì.
Tại phiên toà, bị cáo cung cấp đoạn thoại ghi âm cuộc nói chuyện giữa bị cáo với 01 người tên H2 (không liên quan trong vụ án này) và qua xem xét cũng không có cơ sở để chứng minh là bị cáo cho vay không thu lãi nặng.
Đối với việc hỏi cung bị can không được ghi âm, ghi hình có âm thanh là chưa đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, tuy nhiên không ảnh hưởng đến sự thật khách quan của vụ án. Bởi qua tổng hợp, phân tích, đánh giá các tài liệu, chứng cứ nêu trên, nhận thấy phù hợp với lời khai nhận tội của bị cáo tại Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát, đồng thời như nhận định của Hội đồng xét xử tại Mục [1] thì bị cáo cho rằng bị ép cung trong giai đoạn điều tra, truy tố là không có căn cứ, nên đủ cơ sở kết luận: Từ ngày 21/4/2023 đến 21/5/2023, Ma Hoàng V đã cho 05 người vay tiền với tổng số tiền gốc là 265.000.000đ, trong đó khoản vay theo mức lãi suất ngày là 03%/ngày tương ứng 1095%/năm (gấp 54,75 lần so với mức lãi suất cao nhất được Bộ luật dân sự quy định), khoản vay theo mức lãi suất tháng từ 20%/tháng – 30%/tháng tương ứng 240%/năm – 360%/năm (gấp 12 – 18 lần so với mức lãi suất cao nhất được Bộ luật dân sự quy định); Tổng số tiền lãi mà 05 người vay đã trả cho V là 246.550.000₫ (trong đó 8.923.288đ tiền lãi theo mức lãi suất 20%/năm, 237.626.712đ tiền lãi thu lợi bất chính). Như vậy, hành vi của Ma Hoàng V đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo khoản 2 Điều 201 Bộ luật hình sự “Phạm tội mà thu lợi bất chính 100.000.000 đồng trở lên, thì bị phạt tiền từ 200.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố Ma Hoàng V là có căn cứ pháp luật, đúng người, đúng tội. Bị cáo, người bào chữa cho bị cáo kêu oan là không có cơ sở.
[2.2] Về tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội:
Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, lợi dụng hoàn cảnh khó khăn của người vay tiền để cho vay với lãi suất cao gấp nhiều lần quy định của pháp luật, thu lợi bất chính, làm ảnh hưởng đến đời sống kinh tế của nhiều gia đình, mang tính chất bóc lột làm cho người vay lâm vào hoàn cảnh khó khăn, đã xâm phạm đến khách thể là trật tự quản lý kinh tế của nhà nước về hoạt động tín dụng, mà cụ thể là trật tự trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ, xâm phạm đến lợi ích tài chính của công dân. Bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức rõ hành vi cho
vay lãi nặng là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Chỉ trong vòng 30 ngày (21/4/2023 – 21/5/2023) bị cáo đã thu lợi bất chính 237.626.712đ là số tiền khá lớn. Nhiều lần cho vay với mức lãi suất lên đến 1095%/năm (gấp 54,75 lần so với mức lãi suất cao nhất được Bộ luật dân sự quy định). Hành vi cho vay lãi nặng có thể là nguyên nhân phát sinh nhiều tội phạm khác như bắt giữ người trái pháp luật, xâm phạm chỗ ở, cố ý gây thương tích, hủy hoại tài sản, gây rối trật tự công cộng, thậm chí cưỡng đoạt tài sản. Do đó, Hội đồng xét xử nhận thấy cần áp dụng mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ thực hiện hành vi phạm tội của bị cáo.
[2.3] Về nhân thân: Bị cáo từng bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi xâm phạm sức khoẻ người khác xuất phát từ mâu thuẫn cho vay tiền.
Ngoài ra, Công an phường X cung cấp thông tin vào năm 2004 Ma Hoàng V bị Công an thị trấn S lập hồ sơ đề nghị đưa đi Trường G, tuy nhiên sau đó không đủ điều kiện nên không bị đưa đi Trường G. Theo kết quả xác minh của Cơ quan điều tra thì hiện các cơ quan liên quan không còn lưu trữ tài liệu, chứng cứ về việc này, vì vậy Hội đồng xét xử không có cơ sở để xem xét, đánh giá nhân thân bị cáo.
[2.4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội 02 lần trở lên là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
[2.5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra bị cáo thành khẩn khai báo nhưng tại phiên toà bị cáo thay đổi lời khai, không nhận tội, không khai báo thành khẩn, không biết ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên không được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Tuy nhiên, bị cáo có cung cấp Giấy khen của Chủ tịch Hội nạn nhân chất độc da cam/dioxin thị xã S, giấy xác nhận đóng góp xây dựng đình làng, ủng hộ người nghèo tại địa phương nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[2.6] Về hình phạt: Xét tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội; bị cáo không có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, mặc dù có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, nhưng bị cáo có nhân thân từng bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi xâm phạm sức khoẻ người khác xuất phát từ mâu thuẫn cho vay tiền; tại phiên toà khai báo quanh co, chối tội, thái độ không tôn trọng Hội đồng xét xử cũng như nhiều lần không chấp hành nội quy phiên toà và sự điều khiển của Chủ toạ phiên toà. Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, bị cáo có hành vi đưa thông tin sai sự thật, xuyên tạc về việc điều tra vụ án trên mạng xã hội Facebook. Tại phiên toà ngày 29/8/2024 Hội đồng xét xử đã nhắc nhở nhưng sau đó bị cáo vẫn tiếp tục đăng tin, gửi đơn thư đến các cơ quan với nhiều mục đích khác nhau, tại phiên toà bị cáo thừa nhận đã thực hiện lần gần nhất là trước ngày mở phiên toà hôm nay 01 ngày. Bị cáo có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Do đó, Hội đồng xét xử nhận thấy mức hình phạt mà Kiểm sát viên đề nghị chưa tương xứng với nhân thân, tình tiết tăng nặng giảm nhẹ, tính chất, mức độ thực hiện hành vi phạm tội và thái độ của bị cáo. Xét thấy, cần áp dụng hình phạt tù và hình phạt bổ sung là phạt
tiền ở mức cao nhất của khung hình phạt đối với bị cáo mới đủ tác dụng giáo dục bị cáo, răng đe và phòng ngừa chung. Đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm cho vay lãi nặng, tín dụng đen đang diễn biến phức tạp trong giai đoạn hiện nay. Đồng thời, phải bắt tạm giam bị cáo ngay tại phiên toà để đảm bảo thi hành án.
[2.7] Về biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 5 Nghị quyết số 01/2021/NQ-HĐTP ngày 20 tháng 12 năm 2021 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao:
- - Buộc bị cáo nộp lại số tiền gốc mà bị cáo dùng để cho vay (những người vay đã trả cho bị cáo) và số tiền lãi tương ứng mức lãi suất 20%/năm mà bị cáo đã thu của những người vay để sung vào ngân sách nhà nước.
- - Buộc những người vay nộp lại số tiền vay gốc chưa trả cho bị cáo để sung vào ngân sách nhà nước.
- - Buộc bị cáo trả lại cho những người vay số tiền lãi thu lợi bất chính (trên mức lãi suất 20%/năm) mà bị cáo đã thu của những người vay.
[2.8] Về vật chứng vụ án: Ngày 08/10/2024, bà Ma Thị Kim N (chị ruột bị cáo) có đơn yêu cầu nhận lại điện thoại Iphone 14 Promax 256GB Deep Purple 358165604609718 vì cho rằng điện thoại thuộc quyền sở hữu của bà N, đã cho em ruột là Ma Trung T3 mượn, rồi T3 đưa điện thoại cho V cầm sử dụng đi nhận hàng mỹ phẩm thì bị tạm giữ. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà ngày 29/8/2024, bà Ma Thị Kim N, anh Ma Trung T3 và bị cáo Ma Hoàng V đều không trình bày về nội dung này. Đến ngày 08/10/2024 mới có đơn yêu cầu nhưng đến ngày 04/11/2024 thì bà N có đơn xin xét xử vắng mặt và trình bày không yêu cầu gì; Toà án nhiều lần triệu tập nhưng bà N và anh Túc không tham gia phiên toà. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét.
Mặt khác, bà N cung cấp hoá đơn mua hàng ngày 30/7/2023 tên hàng hoá là điện thoại Iphone 14 Promax 256GB Deep Purple 358165604609718 là không phù hợp với điện thoại bị tạm giữ được ghi nhận tại Biên bản tạm giữ tài sản ngày 09/01/2024 (BL270) là điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Promax, màu tím, số máy MQ9X3VN/A. Hơn nữa, hoá đơn bà N mua điện thoại ngày 30/7/2023 nhưng bị cáo V đã sử dụng điện thoại bị tạm giữ để thoả thuận, giao dịch cho vay lãi nặng từ 21/4/2023 đến 21/5/2023 (là trước khi bà N mua điện thoại).
Xét, Biên bản tạm giữ tài sản ngày 09/01/2024 (BL270); Biên bản kiểm tra dữ liệu tin nhắn điện thoại di động ngày 09/01/2024 (BL271) ghi nhận trong kho ảnh có 05 ảnh liên quan đến việc Viện cho vay lãi nặng, trong ứng dụng Messenger có nội dung tin nhắn giữa Viện với T4 liên quan đến việc Viện cho vay lãi nặng. Tại BL272 Viện ký xác nhận “Đây là những hình ảnh ghi trong điện thoại của tôi”. Tại các biên bản ghi lời khai, bản tự khai (BL288, 290, 293, 294) Viện khai đang sử dụng số điện thoại 0328.981.xxx, đồng thời đăng ký sử dụng ứng dụng Zalo tên “Ma Viện” và tài khoản ngân hàng S 040328981587; Viện thu lãi của những người vay qua tài khoản ngân hàng S 040328981587 hoặc thu tiền mặt trực tiếp. Từ BL158 đến BL242 ghi nhận nhiều ảnh chụp các giao dịch chuyển khoản trả tiền gốc/lãi vay giữa H1 với Viện qua số tài khoản 040328981587 người thụ hưởng MA HOANG VIEN. Theo Bảng sổ phụ tài khoản tiền gửi không kỳ hạn từ ngày 01/4/2023 đến ngày 01/12/2023, số tài khoản 040328981587, tên khách hàng MA HOANG VIEN (BL262 đến
BL266), đủ cơ sở để xác định Viện đã sử dụng điện thoại di động Iphone 14 Promax gắn sim số 0328981587 vào việc cho vay lãi nặng. Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, phải tịch thu sung vào ngân sách nhà nước điện thoại di động Iphone 14 Promax gắn sim số 0328981587 này vì là công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội.
Tiếp tục tạm giữ số tiền 12.000.000đ để đảm bảo việc thi hành án.
[2.9] Trường hợp Ma Thị Kim N, Ma Trung T3 có hành vi mua điện thoại, sim số cung cấp cho Ma Hoàng V sử dụng trong việc cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự là có dấu hiệu đồng phạm giúp sức, thì xem xét xử lý bằng vụ án khác.
[3] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 38, Điều 46, Điều 47, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, khoản 2, 3 Điều 201 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106, Điều 135, Điều 136, Điều 291, Điều 292, Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 01/2021/NQ-HĐTP ngày 20 tháng 12 năm 2021 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 201 của Bộ luật hình sự và việc xét xử vụ án hình sự về tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên bố: Bị cáo Ma Hoàng V phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.
Xử phạt: Bị cáo Ma Hoàng V 03 (ba) năm tù thời hạn tù tính từ ngày tuyên án (bắt tạm giam bị cáo ngay tại phiên toà). Được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 09/01/2024 đến ngày 17/01/2024.
Phạt bổ sung bị cáo Ma Hoàng V: số tiền 100.000.000đ (một trăm triệu đồng), nộp một lần vào ngân sách nhà nước.
Biện pháp tư pháp:
- - Buộc bị cáo Ma Hoàng V phải nộp số tiền 119.923.288đ (một trăm mười chín triệu chín trăm hai mươi ba nghìn hai trăm tám mươi tám đồng) để sung vào ngân sách nhà nước.
- - Buộc Nguyễn Thị Thu H nộp số tiền 69.000.000₫ (sáu mươi chín triệu đồng) để sung vào ngân sách nhà nước.
- - Buộc Nguyễn Thị Kim P nộp số tiền 5.000.000đ (năm triệu đồng) để sung vào ngân sách nhà nước.
- - Buộc Trần Thị Kim H1 nộp số tiền 80.000.000đ (tám mươi triệu đồng) để sung vào ngân sách nhà nước.
- - Buộc bị cáo Ma Hoàng V trả lại cho những người vay số tiền, cụ thể:
- [1] Phan Chí T4: 95.315.068đ (chín mươi lăm triệu ba trăm mười lăm nghìn không trăm sáu mươi tám đồng);
- [2] Nguyễn Thị Thu H: 34.876.712đ (ba mươi bốn triệu tám trăm bảy mươi sáu nghìn bảy trăm mười hai đồng;
- [3] Phạm Thị Bích V1: 3.534.247đ (ba triệu năm trăm ba mươi bốn nghìn hai trăm bốn mươi bảy đồng);
- [4] Nguyễn Thị Kim P: 2.835.616đ (hai triệu tám trăm ba mươi lăm nghìn sáu trăm mười sáu đồng);
- [5] Trần Thị Kim H1: 101.065.068đ (một trăm lẻ một triệu không trăm sáu mươi lăm nghìn không trăm sáu mươi tám đồng).
Vật chứng vụ án: Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Promax, màu tím, số máy MQ9X3VN/A, gắn sim số 0328981587, đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng hoạt động. Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 21/6/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã S với Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Sông Cầu.
Tiếp tục tạm giữ để đảm bảo cho việc thi hành án: số tiền 12.000.000đ (mười hai triệu đồng) theo Giấy nộp tiền vào tài khoản lập ngày 12/6/2024, Công an thị xã S nộp vào tài khoản số 3949.0.1076679, đơn vị nhận tiền là Chi cục Thi hành án dân sự thị xã S, tại Kho bạc Nhà nước S1. (Biên lai thu tiền số 0000115 ngày 20/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Sông Cầu thu qua chuyển khoản)
Về án phí: Bị cáo Ma Hoàng V phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án; quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Quyền kháng cáo: Bị cáo; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Việt Triều |
Bản án số 51/2024/HS-ST ngày 15/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SÔNG CẦU về hình sự sơ thẩm về tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
- Số bản án: 51/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SÔNG CẦU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: xử phạt 03 năm tù
