|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHIÊM HÓA TỈNH TUYÊN QUANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 51/2024/HS-ST Ngày 23-10-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHIÊM HÓA, TỈNH TUYÊN QUANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Tuấn Tú.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Xuân Tuyến.
2. Bà Triệu Thị Yên.
- Thư ký phiên tòa: Ông Dương Văn Quyết, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang;
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Duy Luận, Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 47/2024/TLST - HS ngày 07 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 47/2024/QĐXXST - HS ngày 09 tháng 10 năm 2024, đối với bị cáo:
Hà Văn M, sinh ngày 10/02/1994, tại huyện C, tỉnh Tuyên Quang; nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Thôn B, xã P, huyện C, tỉnh Tuyên Quang; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 12/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hà Quang L, sinh năm 1974 và bà Ma Thị L1, sinh năm 1974; vợ: Hoàng Thị H, sinh năm 1993; con: 03 con, lớn nhất sinh năm 2012, nhỏ nhất sinh năm 2021; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo tại ngoại, hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Ông Hà Văn L2, sinh năm 1969. Địa chỉ: Thôn B, xã P, huyện C, tỉnh Tuyên Quang (đã chết).
- Người đại diện hợp pháp của bị hại: Anh Hà Văn T, sinh năm 1990. Địa chỉ: Thôn B, xã P, huyện C, tỉnh Tuyên Quang. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Bế Văn M1, sinh năm 1977. Địa chỉ: Thôn B, xã P, huyện C, tỉnh Tuyên Quang. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
2
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 16 giờ 00 phút, ngày 15/4/2024, Hà Văn M, sinh năm 1994, trú tại thôn B, xã P, huyện C, tỉnh Tuyên Quang, điều khiển xe tự chế bằng đầu máy nông nghiệp, nhãn hiệu KUBOTA, màu sơn cam, có gắn thùng chở hàng bằng kim loại phía sau đi từ nhà M đến khu vực T, thôn Bản Ho, xã P, huyện C để vận chuyển gỗ cho anh Hà Văn H1 trú cùng thôn. Khoảng 19 giờ cùng ngày, sau khi bốc gỗ lên thùng, M điều khiển xe đi theo đường ĐH03 (hướng từ xã K đi xã N, huyện C). Khi đi đến Km 06+900 thuộc thôn Bản Ho, xã P, huyện C, tỉnh Tuyên Quang, M đỗ xe vào lề đường bên phải (theo chiều đi) sau đó vào nhà anh Hà Hữu H2, trú cùng thôn ăn cơm. Tại vị trí Hà Văn M đỗ xe là đoạn đường cua sang trái (theo chiều đi); xe của M đỗ chiếm một phần đường xe chạy cùng chiều (Mép ngoài mặt lốp trước bên trái chiếm vào lòng đường 18 cm, mép ngoài mặt lốp sau bên trái chiếm vào lòng đường phải 20 cm; Mặt ngoài lốp kép sau bên trái thùng xe chiếm vào lòng đường phải 50 cm) nhưng M không đặt biển báo hiệu nguy hiểm ở phía trước và phía sau xe. Khoảng 22 giờ cùng ngày ông Hà Văn L2, sinh năm 1969, trú cùng thôn một mình điều khiển xe mô tô, nhãn hiệu Honda, loại xe Wave Alpha, màu sơn đen, biển số 22F1- 4829 (xe của Bế Văn M1, sinh năm 1977, trú cùng thôn), đi theo hướng từ xã K đi xã N, do không chú ý quan sát nên đã điều khiển xe mô tô đâm vào bên trái đuôi thùng xe của M. Hậu quả ông Hà Văn L2 bị thương nặng được đưa đi cấp cứu tại trung tâm y tế, đến khoảng 23 giờ 30 phút cùng ngày thì chết, xe mô tô bị hư hỏng.
Kết quả khám nghiệm hiện trường: Chọn hướng khám nghiệm theo hướng xã K đi xã N, huyện C, lấy mép đường bên phải theo hướng khám nghiệm làm mép chuẩn. Đoạn đường xảy ra tai nạn là đoạn đường hơi cong cua sang trái, mặt đường hơi nghiêng sang trái, mặt đường được trải nhựa phẳng, đường khô ráo, rộng 3,8m, giữa đường không có vạch kẻ sơn phân cách. Lề đường phải là lề đất có nhiều cỏ mọc rộng 3,2m, không có chướng ngại vật che khuất tầm nhìn. Kết quả khám nghiệm hiện trường xác định tại thời điểm xảy ra tai nạn trên thùng xe của M có chở các đoạn gỗ keo có tổng khối lượng 6,110 (kg); phần mép ngoài mặt lốp trước bên trái máy nông nghiệp chiếm lòng đường 18cm, mép ngoài mặt lốp sau bên trái chiếm lòng đường 20cm, mặt ngoài lốp kép sau bên trái thùng xe chiếm lòng đường 50cm.
- Tại Công văn số: 965/SGTVT-VTPT&NL, ngày 05/6/2024, của Sở Giao thông vận tải tỉnh T, kết luận: Máy nông nghiệp, nhãn hiệu Kubota, màu sơn cam, có gắn thùng chở hàng phía sau, không thuộc loại phương tiện “Xe máy chuyên dùng” quy định tại khoản 20, Điều 3, Luật Giao thông đường bộ năm 2008.
- Tại Kết luận giám định tử thi số: 541/KL-KTHS, ngày 13/5/2024, của Phòng K, Công an tỉnh T, kết luận: Nguyên nhân chết của Hà Văn L2 là do chấn thương sọ não.
- Tại Kết luận giám định dấu vết cơ học số: 571/KL-KTHS, ngày 17/5/2024, của Phòng K, Công an tỉnh T, kết luận:
3
+ Các dấu vết gãy vỡ, trượt xước ở đầu xe mô tô biển số 22F1-4829 (ảnh 9 trong bản ảnh giám định) hình thành do va chạm với các dấu vết trượt xước, mài miết bám dính tạp chất màu đen (dạng nhựa, sơn) ở bên trái đuôi sàn thùng máy kéo nông nghiệp (ảnh 10 trong bản ảnh giám định) là phù hợp.
+ Vị trí va chạm trên mặt đường giữa xe mô tô biển số 22F1- 4829 và máy kéo nông nghiệp ở chiều đường phải theo hướng Kiên Đ đi N là phù hợp.
+ Xe mô tô biển số 22F1- 4829 và máy kéo nông nghiệp cùng chiều va chạm với nhau là phù hợp. Tại thời điểm va chạm, xe mô tô biển số 22F1-4829 chuyển động nhanh hơn máy kéo nông nghiệp là phù hợp.
- Tại Kết luận giám định nồng độ cồn trong máu số: 565/KL-KTHS, ngày 24/4/2024, của Phòng K, Công an tỉnh T, đối với mẫu máu của tử thi Hà Văn L2, kết luận: Mẫu máu gửi giám định có cồn (Ethanol). Nồng độ cồn trong mẫu máu gửi giám định là 223,206mg/100ml (hai trăm hai mươi ba phẩy hai trăm linh sáu miligam trên một trăm mililit).
- Tại Kết luận giám định dấu vết máu số: 560/KL-KTHS, ngày 25/4/2024, của Phòng K, Công an tỉnh T, đối với dấu vết màu nâu đỏ thu tại vị trí số 03 trên hiện trường, kết luận:
+ Dấu vết thu tại hiện trường là máu người, thuộc nhóm máu A.
+ Máu của tử thi Hà Văn L2 thuộc nhóm máu A.
- Tại Bản kết luận định giá tài sản số: 11/KL-HĐĐGTS, ngày 10/5/2024, của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện C, kết luận: Tổng trị giá thực tế thiệt hại của 08 bộ phận bị hư hỏng của xe mô tô, nhãn hiệu HONDA, loại xe Wave Alpha, biển số 22F1-4829, tại thời điểm tháng 4/2024 có tổng trị giá là 628.000đ (Sáu trăm hai mươi tám nghìn đồng).
Tại bản Cáo trạng số: 50/CT-VKSCH ngày 07/10/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang truy tố Hà Văn M về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.
Tại phần luận tội đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang giữ nguyên quyết định truy tố đối với Hà Văn M theo tội danh đã nêu trong cáo trạng và đề nghị hội đồng xét xử:
Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hà Văn M phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Về hình phạt chính: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Hà Văn M từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù, cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách theo quy định của pháp luật, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho Uỷ ban nhân dân nơi cư trú để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy không cần thiết, đề nghị hội đồng xét xử không áp dụng đối với bị cáo do bị cáo phạm tội bởi lỗi vô ý.
4
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Hà Văn M đã thỏa thuận bồi thường xong cho gia đình bị hại số tiền 40.000.000 đồng. Đại diện gia đình bị hại không yêu cầu gì thêm về phần dân sự và có đơn đề nghị xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo nên không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét.
Đối với phương tiện xe mô tô biển số 22F1-4829, ông Bế Văn M1 không đề nghị yêu cầu bồi thường nên không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét.
Về tài liệu, đồ vật thu giữ: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị Hội đồng xét xử: Trả lại cho bị cáo 01 Máy nông nghiệp, nhãn hiệu KUBOTA, màu sơn cam, không có biển số, phía sau gắn thùng chở hàng bằng kim loại. Tình trạng xe cũ, đã qua sử dụng; 01 Giấy phép lái xe hạng C, số H, mang tên Hà Văn M; trả lại cho người đại diện hợp pháp của bị hại anh Hà Văn T 01 Giấy phép lái xe hạng A1, số P015098, cấp ngày 18/9/2003, mang tên Hà Văn L2, sinh năm 1969, trú tại thôn B, xã P, huyện C; trả lại cho ông Bế Văn M1 01 Xe mô tô, nhãn hiệu Honda, loại xe Wave Alpha, màu sơn đen, biển số 22F1-4829; 01 Chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 005777, cấp ngày 07/4/2009 và 01 Giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc TNDS mang tên Bế Văn M1, sinh năm 1977, trú tại xã P, huyện C;
Đối với các đoạn gỗ keo, khối lượng là 6,110kg ngày 25/5/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã trả lại cho ông Hà Văn H1 là chủ sở hữu hợp pháp nên không đề nghị xem xét.
Đề nghị hội đồng xét xử miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo (Do bị cáo là dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn) và tuyên quyền kháng cáo bản án của người tham gia tố tụng theo quy định.
Tại phiên toà, bị cáo xác định khoảng 19 giờ ngày 15/4/2024, tại đoạn đường K 06+900, đường ĐH03, thuộc thôn Bản Ho, xã P, huyện C, tỉnh Tuyên Quang, bị cáo đã có hành vi điều khiển xe tự chế bằng đầu máy nông nghiệp, nhãn hiệu KUBOTA, màu sơn cam, có gắn thùng chở hàng bằng kim loại phía sau đỗ tại đoạn đường cong cua; đỗ chiếm một phần đường xe chạy; không đặt biển báo hiệu nguy hiểm ở phía trước và phía sau xe. Hậu quả, khoảng 22 giờ cùng ngày, ông Hà Văn L2, sinh năm 1969, trú tại thôn B, xã P, huyện C, tỉnh Tuyên Quang, điều khiển xe mô tô, biển số 22F1- 4829 đâm vào bên trái đuôi thùng xe của bị cáo làm ông L2 bị thương tích dẫn đến chết do chấn thương sọ não. Bị cáo nhất trí với nội dung luận tội của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang, không có ý kiến khác và đề nghị hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt áp dụng với bị cáo để bị cáo được cải tạo tại địa phương.
Trong quá trình điều tra và tại đơn xin xét xử vắng mặt người đại diện hợp pháp của bị hại anh Hà Văn T xác định hai bên đã thỏa thuận bồi thường xong cho gia đình anh số tiền 40.000.000 đồng. Đại diện gia đình anh cũng không yêu cầu gì thêm về phần dân sự.
5
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Bế Văn M1 nhất trí với nội dung luận tội của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang, không có ý kiến khác, ông xin được nhận lại chiếc xe máy và các giấy tờ khác do cơ quan cảnh sát điều tra thu giữ và không yêu cầu bị cáo phải bồi thường.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C, Điều tra viên; của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chiêm Hóa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố; của Kiểm sát viên tại phiên tòa đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp, phù hợp theo quy định của pháp luật.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra. Hành vi phạm tội của bị cáo còn được chứng minh bằng biên bản khám nghiệm hiện trường, kết luận giám định cùng các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 19 giờ ngày 15/4/2024, tại đoạn đường K 06+900, đường ĐH03, thuộc thôn Bản Ho, xã P, huyện C, tỉnh Tuyên Quang, Hà Văn M, sinh năm 1994 có hành vi điều khiển xe tự chế bằng đầu máy nông nghiệp, nhãn hiệu KUBOTA, màu sơn cam, có gắn thùng chở hàng bằng kim loại phía sau đỗ tại đoạn đường cong cua; đỗ chiếm một phần đường xe chạy; không đặt biển báo hiệu nguy hiểm ở phía trước và phía sau xe (Vi phạm điểm b, d, khoản 3 và điểm b, khoản 4 Điều 18 Luật giao thông đường bộ). Hậu quả, ông L2 điều khiển xe mô tô đâm vào bên trái đuôi thùng xe của M, làm ông L2 bị thương tích dẫn đến chết do chấn thương sọ não, xe mô tô bị hư hỏng thiệt hại 628.000đ.
Hành vi của bị cáo đã vi phạm quy định tại Điểm b, Khoản 3, Điều 18 Luật Giao thông đường bộ năm 2008: “Cho xe dừng, đỗ ở nơi có lề đường rộng hoặc khu đất ở bên ngoài phần đường xe chạy”; Điểm d, Khoản 3, Điều 18 Luật Giao thông đường bộ năm 2008 quy định: “Sau khi đỗ xe, chỉ được rời khỏi xe khi đã thực hiện các biện pháp an toàn; nếu xe đỗ chiếm một phần đường xe chạy phải đặt ngay biển báo hiệu nguy hiểm ở phía trước và phía sau xe để người điều khiển phương tiện khác biết” và quy định tại Điểm b, Khoản 4, Điều 18 Luật Giao thông đường bộ năm 2008: “Người điều khiển phương tiện không được dừng, đỗ xe tại các vị trí: Trên các đoạn đường cong cua và gần đầu dốc tầm nhìn bị che khuất”) gây hậu quả nghiêm trọng.
6
Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.
[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trước Cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; sau khi xảy ra tai nạn đã chủ động, tự nguyện thỏa thuận và bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại; trong giai đoạn điều tra người đại diện hợp pháp của bị hại có “đơn xin bãi nại”, trước khi xét xử có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bị cáo có ông nội là Hà Phúc V được nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạnh nhì, bị cáo là dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, ngoài ra bị hại cũng có một phần lỗi. Vì vậy, bị cáo được được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[4] Về hình phạt chính: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm vào các quy định của Nhà nước về giao thông đường bộ, an toàn công cộng, trật tự công cộng, an toàn về tính mạng, sức khỏe của công dân, do đó việc xử lý về hình sự đối với bị cáo là cần thiết, đảm bảo tính răn đe, thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm minh bằng pháp luật hình sự, cần buộc bị cáo phải chịu mức hình phạt phù hợp với hành vi phạm tội của bị cáo gây ra để cải tạo, giáo dục bị cáo đồng thời răn đe phòng chống tội phạm chung.
Tuy nhiên, trong vụ án này bị hại cũng có một phần lỗi do tham gia giao thông không chú ý quan sát và sử dụng chất kích thích có cồn khi điều khiển xe mô tô tham gia giao thông, về phía bị cáo đã tự nguyện bồi thường, khắc phục toàn bộ hậu quả cho gia đình bị hại, xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, phạm tội thuộc thuộc trường hợp do lỗi vô ý, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, người phạm tội có khả năng tự cải tạo và việc cho hưởng án treo không nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Bị cáo có đủ căn cứ để được miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện theo quy định tại Điều 65 của Bộ luật Hình sự, Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Do vậy, Hội đồng xét xử quyết định cho bị cáo được hưởng án treo đồng thời ấn định thời gian thử thách đối với bị cáo theo quy định tại khoản 1 Điều 65 của Bộ luật Hình sự như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.
7
[5] Về hình phạt bổ sung: Khoản 5 Điều 260 Bộ luật Hình sự quy định người phạm tội có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm. Xét thấy công việc lái xe là nghề nghiệp kiếm sống chính của bị cáo nên không áp dụng hình phạt bổ sung là cấm hành nghề lái xe đối với bị cáo.
[6] Về trách nhiệm dân sự:
Tại giai đoạn điều tra, bị cáo và gia đình bị hại đã tự thỏa thuận bồi thường thiệt hại số tiền 40.000.000 đồng (Bốn mươi triệu đồng), tại đơn xin xét xử vắng mặt người đại diện hợp pháp của bị hại không đề nghị bị cáo bồi thường gì thêm. Bị cáo đã thực hiện xong toàn bộ nghĩa vụ dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với phương tiện xe mô tô biển số 22F1-4829 bị hư hỏng, ông Bế Văn M1 là chủ sở hữu không yêu cầu bị cáo sửa chữa bồi thường, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[7] Về xử lý tài liệu, đồ vật thu giữ:
Ngày 25/5/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã trả lại các đoạn gỗ keo, khối lượng là 6,110kg cho ông Hà Văn H1 là chủ sở hữu hợp pháp. Xét thấy, việc xử lý vật chứng và tài sản, tài liệu như trên là đúng quy định, bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có đề nghị gì nên không xem xét.
Đối với 01 (một) Máy nông nghiệp, nhãn hiệu KUBOTA, màu sơn cam, không có biển số, phía sau gắn thùng chở hàng bằng kim loại của bị cáo Hà Văn M và 01 (một) Giấy phép lái xe ô tô hạng C, số H, mang tên Hà Văn M. Hội đồng xét xử xét thấy M2 nông nghiệp là tài sản thuộc sở hữu của bị cáo và giấy phép lái xe là giấy tờ của bị cáo, nên cần trả lại cho bị cáo.
Đối với 01 (một) Xe mô tô biển số đăng ký 22F1-4829, nhãn hiệu Honda, loại xe Wave Alpha, màu sơn đen, chủ sở hữu là ông Bế Văn M1; 01 (một) Giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc TNDS của chủ xe mô tô xe máy – xe máy điện số GCNBH: 23XM232031558, cấp ngày 20/3/2024, mang tên chủ xe Bế Văn M1 và 01 (một) Chứng nhận đăng ký xe mô tô số 005777, mang tên Bế Văn M1. Hội đồng xét xử xét thấy ông Bế Văn M1 không biết, không được giao xe cho ông Hà Văn L2 sử dụng tham gia giao thông, ông M1 yêu cầu được nhận lại chiếc xe, giấy chứng nhận đăng ký xe và giấy tờ bảo hiểm, không yêu cầu bị cáo bồi thường. Đây là tài sản thuộc sở hữu của ông M1 nên cần trả lại cho ông.
Đối với 01 (một) Giấy phép lái xe hạng A1, số P015098, cấp ngày 18/9/2003, mang tên Hà Văn L2. Hội đồng xét xử xét thấy đây là giấy tờ của bị hại, không phải là vật chứng của vụ án nên trả lại cho bị hại, do bị hại đã chết nên trả lại cho người đại diện hợp pháp của bị là anh Hà Văn T.
[8] Vấn đề khác:
Đối với ông Bế Văn M1 không biết và không được giao xe mô tô biển số 22F1-4829 cho ông L2 do vậy Hội đồng xét xử không xem xét xử lý.
[9] Về án phí và quyền kháng cáo: Do bị cáo là dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và trước khi mở phiên toà bị cáo có đơn xin miễn nộp tiền án phí. Căn cứ các Điều 135, 136 của Bộ luật Tố
8
tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Hội đồng xét xử miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Hà Văn M phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
-
Về hình phạt: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38, 65 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Hà Văn M, 01 (một) năm 04 (bốn) tháng tù cho hưởng án treo, thử thách 02 (hai) năm 08 (tám) tháng, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm, ngày 23/10/2024.
Giao bị cáo Hà Văn M cho Ủy ban nhân dân xã P, C, tỉnh Tuyên Quang để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách; trường hợp thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự năm 2019. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự từ 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
-
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Trả lại cho bị cáo: 01 (một) Máy nông nghiệp, nhãn hiệu KUBOTA, màu sơn cam, không có biển số, phía sau gắn thùng chở hàng bằng kim loại. Tình trạng xe cũ đã qua sử dụng và 01 (một) Giấy phép lái xe hạng C, số H, mang tên Hà Văn M, sinh năm 1994, trú tại thôn B, xã P, huyện C, tỉnh Tuyên Quang, do Sở giao thông vận tải tỉnh T cấp ngày 14/7/2021, có giá trị đến ngày 14/7/2026.
Trả lại cho người đại diện hợp pháp của bị hại anh Hà Văn T: 01 (một) Giấy phép lái xe hạng A1, số P, mang tên Hà Văn L2, sinh năm 1969, trú tại thôn B, xã P, huyện C, tỉnh Tuyên Quang, cấp ngày 18/9/2003.
Trả lại cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Bế Văn M1: 01 (một) Xe mô tô biển số đăng ký 22F1-4829, nhãn hiệu Honda, loại xe Wave Alpha, màu sơn đen, số khung: C12E-1256867, số máy: 121YY057073. Tình trạng xe cũ, đã bị hư hỏng do tại nạn giao thông; 01 (một) Chứng nhận đăng ký xe mô tô số 005777, mang tên Bế Văn M1, sinh năm 1977, trú tại xã P, huyện C, tỉnh Tuyên Quang, cấp ngày 07/4/2009, đối với xe mô tô biển số 22F1 – 8429; 01 (một) Giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc TNDS của chủ xe mô tô xe máy – xe máy điện số GCNBH: 23XM232031558, cấp ngày 20/3/2024, mang tên
9
chủ xe Bế Văn M1, đối với xe mô tô biển số 22F1 – 8429, thời hạn đến ngày 20/3/2025.
Tình trạng theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản giữa Công an huyện C và Chi cục thi hành án dân sự huyện Chiêm Hóa lập ngày 14/10/2024.
-
Về án phí: Áp dụng các Điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Miễn toàn bộ tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Hà Văn M.
- Về quyền kháng cáo: Áp dụng các Điều 331, 332, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người đại diện hợp pháp của bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Tuấn Tú |
10
11
Bản án số 51/2024/HS-ST ngày 23/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHIÊM HÓA, TỈNH TUYÊN QUANG về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Số bản án: 51/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/10/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHIÊM HÓA, TỈNH TUYÊN QUANG
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án Hà Văn Mạnh
