|
TAND HUYỆN YÊN THẾ TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 51/2024/HNGĐ - ST Ngày 25/9/2024 “V/v ly hôn giữa bà Thanh và ông Thư”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THẾ, TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có
Thẩm phán – chủ tọa phiên tòa: Ông Chu Mạnh Hà
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Hải Đăng
2. Bà Nguyễn Thị Cương
- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Mai, Thư ký Tòa án huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thế tham gia phiên tòa: Ông Ngô Đức Nghiêm - Kiểm sát viên
Ngày 25 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Thế xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 87/2024/TLST- HNGĐ ngày 31 tháng 5 năm 2024 về ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 60/2024/QĐXX-HNGĐ ngày 23/8/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 36/2024/QÐST-DS ngày 09/9/2024, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Lâm Thị T, sinh năm 1973
Nơi ĐKHKTT: Thôn N, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang
Địa chỉ hiện nay: Số nhà A, ngõ A, phố P, quận C, thành phố Hà Nội (có đơn xin xét xử vắng mặt)
2. Bị đơn: Ông Nguyễn Văn T1 sinh năm 1974
Địa chỉ: Thôn N, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn xin ly hôn và bản tự khai và các văn bản trình bày, nguyên đơn là bà Lâm Thị T trình bày: Bà và ông Nguyễn Văn T1 kết hôn năm 1994 trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang (hiện giấy chứng nhận kết hôn bị mất). Trong quá trình chung sống, rất nhiều lần ông bà xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do ông T1 thường xuyên uống rượu rồi gây sự đập phá đồ đạc, chửi bới, đánh đập bà. Bà đã từng gửi đơn yêu cầu ly hôn đến Toà án nhưng sau đó ông T1 xin lỗi bà nên bà đã rút đơn lại. Tuy nhiên, ông T1 vẫn không thay đổi, ngày 17/5/2023, ông T1 lại cầm dao định chém bà nên bà xác định tình cảm vợ chồng không còn, bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông T1.
- Về con chung: Vợ chồng anh chị có 02 con chung cháu tên Nguyễn Thị M, sinh ngày 15/8/1995 và cháu Nguyễn Ngọc T2, sinh ngày 14/4/2005. Hiện nay các con chung đã trường thành nên bà không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.
- Về tài sản chung: Bà đề nghị tự thoả thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về phía bị đơn là ông Nguyễn Văn T1, mặc dù đã được Tòa án thanh báo về việc thụ lý vụ án, giao các văn bản tố tụng nhưng ông T1 không đến Tòa án làm việc, không gửi cho Tòa án văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa, nguyên đơn là bà Lâm Thị T và bị đơn là ông Nguyễn Văn T1 đều vắng mặt (bà T có đơn xin xét xử vắng mặt).
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thế tham gia phiên toà nhận xét quá trình tiến hành tố tụng, xét xử vụ án, Toà án và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng, đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn có ý thức chấp hành pháp luật. Về việc giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 3 Điều 144, khoản 4 Điều 147, Điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 14, khoản 2 Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016, xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa là Lâm Thị T và ông Nguyễn Văn T1.
- Về án phí: Bà Lâm Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về sự vắng mặt của đương sự: Mặc dù nguyên đơn là bà Lâm Thị T và bị đơn là ông Nguyễn Văn T1 vắng mặt nhưng bà T có đơn xin xét xử vắng mặt, ông T1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nên cần áp dụng quy định tại khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự để xét xử vắng mặt các đương sự.
[2].Về thẩm quyền: Ông Nguyễn Văn T1 cư trú tại Thôn N, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang nên việc Tòa án nhân dân huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
[3]. Xem xét yêu cầu của bà Lâm Thị Thanh X ly hôn ông Nguyễn Văn T1: Theo đơn khởi kiện và tài liệu nộp kèm theo là “Đơn xin xác nhận” ghi ngày 16/8/2022 thì bà T và ông T1 kết hôn với nhau năm 1994, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã Đ cấp giấy chứng nhận kết hôn nhưng bà đã làm mất. Mặc dù bà T không cung cấp được giấy chứng nhận kết hôn và UBND xã Đ cũng không cung cấp được tài liệu về việc đăng ký kết hôn cho bà T và ông T1, tuy nhiên, UBND xã Đ có xác nhận nội dung đơn bà T trình bày việc vợ chồng bà có đăng ký kết hôn và được cấp giấy chứng nhận kết hôn là đúng. Mặt khác, việc UBND không cung cấp được tài liệu về việc thực hiện đăng ký kết hôn cho bà T, ông T1 là do sổ sách đăng ký kết hôn bị thất lạc, không còn lưu giữ được (lỗi của cơ quan quản lý hộ tịch), chứ không phải vợ chồng bà T1 không có tên trong sổ sách đăng ký kết hôn nên không đủ căn cứ kết luận bà T và ông T1 không đăng ký kết hôn. Hơn nữa, tại thời điểm ông bà kết hôn, cả hai đều đã đủ tuổi kết hôn, không vi phạm điều kiện kết hôn khác, đã có thời gian dài chung sống (30 năm), đã có 02 con chung đã trưởng thành. Vì vậy, để đảm bảo quyền lợi cho các đương sự, quyền nhân thân của ông bà cũng như các con chung của ông bà, cần xem xét giải quyết yêu cầu ly hôn của bà T theo thủ tục chung.
Mặc dù có thời gian dài chung sống hoà thuận và đã có hai con chung nhưng trong quá trình chung sống, ông bà nhiều lần xảy ra mâu thuẫn do ông T1 thường xuyên uống rượu rồi gây sự, đập phá đồ đạc, chửi bới, đánh đập bà T. Mâu thuẫn giữa ông bà diễn ra trong thời gian dài mà không cải thiện được, ông T1 vẫn không thay đổi dẫn đến việc ông bà chấm dứt quan hệ vợ chồng từ tháng 5/2023 đến nay. Nay bà T vẫn cương quyết xin ly hôn, còn ông T1 không đến Tòa án làm việc và tham gia phiên hòa giải, cũng không có văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu của bà T, chứng tỏ ông T1 cũng không có nguyện vọng đoàn tụ. Vì vậy, xác định mâu thuẫn vợ chồng giữa ông bà đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, cần áp dụng quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình để chấp nhận yêu cầu của bà T, xử cho bà T được ly hôn ông T1.
[4]. Về con chung: Các con chung của ông bà đều đã trưởng thành và có khả năng lao động, đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[5]. Về tài sản, công nợ: Do đương sự không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.
[6]. Về án phí: Bà T không thuộc trường hợp được miễn, giảm tiền án phí nên Bà T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí bà T đã nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, xử:
1/ Về quan hệ hôn nhân: Xử cho bà Lâm Thị T được ly hôn ông Nguyễn Văn T1.
2/ Án phí: Bà Lâm Thị T phải chịu 300.000đ án phí ly hôn nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000đ bà T đã nộp tạm ứng án phí theo Biên lai thu số 0004963 ngày 30/5/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Thế (xác nhận bà T đã nộp đủ tiền án phí).
4/ Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Chu Mạnh Hà |
Bản án số 51/2024/HNGĐ - ST ngày 25/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THẾ, TỈNH BẮC GIANG về ly hôn
- Số bản án: 51/2024/HNGĐ - ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THẾ, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: LH Thanh Thư
