|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 51/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 15/5/2024
V/v Ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Kim Hường
Các Hội thẩm nhân dân:Bà Nguyễn Hồng Xứng
Bà Trần Thị Ngọc Trân
- Thư ký phiên toà: Bà Trần Ngọc Linh - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa:
Ông Cao Phương Bình – Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 89/2023/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 10 năm 2023 về việc “Ly hôn”, t heo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 25/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 22 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Huỳnh Thị T, sinh năm 1989
Địa chỉ: Ấp P, xã V, huyện G, Kiên Giang
- Bị đơn: Ông Vo Ba M, sinh năm 1974
Địa chỉ: A Terrace Cir . A. #c, L, Nc 28352 USA
Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bị đơn: Luật sư Lê Đình A – Chi nhánh 4 Văn phòng L1 thuộc Đoàn luật sư tỉnh B.
(Các đương sự có đơn xin vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
-Nguyên đơn bà Huỳnh Thị T trình bày tại đơn khởi kiện ngày 19/9/2023 và bản tự khai ngày 13/11/2023: Năm 2019, bà có quen biết ông Vo Ba M, sau khi tìm hiểu nảy sinh tình cảm, có làm đám cưới theo phong tục tập quán, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân huyện G vào ngày 17/02/2022.
2
Sau khi kết hôn, vợ chồng sống tại Việt Nam khoảng 03 tháng thì ông M quay về Mỹ làm việc, bà ở lại Việt Nam sinh sống cùng gia đình chồng, khi về Mỹ đến nay ông M không quay lại Việt Nam. Sau khi ông M về Mỹ, hai người vẫn thường xuyên liên lạc với nhau qua mạng xã hội. Nhưng từ tháng 9/2023 ông bà bắt đầu phát sinh mâu thuẫn do thường xuyên bất đồng với gia đình chồng và khoảng cách địa lý, bà đã nhiều lần cố gắng hàn gắn nhưng không thành. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, nay bà T yêu cầu: Xin ly hôn với ông Vo Ba M. Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Bị đơn ông Vo Ba M trình bày tại Bản tự khai ngày 19/01/2024:
Ông M thống nhất với ý kiến trình bày của bà T về quan hệ hôn nhân. Ông M xác định giữa ông và bà T phát sinh nhiều mâu thuẫn từ vấn đề tính cách khác biệt và khoảng cách địa lý nơi cư trú nên không thể hàn gắn tình cảm vợ chồng. Nay ông đồng ý ly hôn với bà T. Về con chung, tài sản chung và nợ chung không có, nên không yêu cầu giải quyết.
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của bị đơn: Luật sư Lê Đình A trình bày ý kiến: Quan hệ hôn nhân giữa ông M và bà T là hôn nhân hợp pháp, có đăng ký kết hôn theo quy định Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam. Trong quá trình sống chung có xảy ra mâu thuẫn trầm trọng. Do sau khi kết hôn, ông M và bà T không chung sống với nhau, chỉ liên lạc qua điện thoại dẫn đến tình cảm vợ chồng xa cách. Từ năm 2023, ông M, bà T bắt đầu mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, làm cho mục đích hôn nhân không đạt được. Nay bà T yêu cầu ly hôn, ông M cũng thống nhất ly hôn với bà T. Căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đề nghị Hội đồng xét xử chấp thuận yêu cầu ly hôn của bà T.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang phát biểu quan điểm: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về nội dung giải quyết vụ án đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn bà Huỳnh Thị T với ông Vo Ba M.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
3
[1] Về thủ tục tố tụng: Bà Huỳnh Thị T, ông Vo Ba M có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên căn cứ Điều 228, Điều 238, Điều 477 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử thống nhất xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
[2] Về nội dung vụ án: Bà Huỳnh Thị T, ông Vo Ba M tìm hiểu, yêu thương và tự nguyện kết hôn; ông bà thực hiện việc đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân huyện G, tỉnh Kiên Giang vào ngày 17/02/2022. Do đó quan hệ hôn nhân giữa bà T và ông M là hôn nhân hợp pháp.
Nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn giữa bà T và ông M là do bất đồng về quan điểm sống, tính cách không phù hợp, xa cách về địa lý nên không chia sẻ với nhau trong cuộc sống dẫn đến không còn tình nghĩa vợ chồng. Hiện nay bà T, ông M đã không còn yêu thương, quan tâm và không liên lạc với nhau.
Xét thấy, hôn nhân bà T, ông M đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó qua thảo luận nghị án, Hội đồng xét xử thống nhất thống nhất quan điểm Đại diện Viện Kiểm sát và Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của bị đơn, chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Huỳnh Thị T đối với ông Vo Ba M.
Về con chung, tài sản chung, nợ chung: Bà Huỳnh Thị T và ông Vo Ba M đều xác định không có và không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[3] Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Huỳnh Thị T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu của Cục thi hành án.
[4] Chi phí thực hiện ủy thác tư pháp: Bà Huỳnh Thị T phải chịu lệ phí ủy thác tư pháp 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) khấu trừ theo biên lai 0016779 ngày 13/11/2023 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Kiên Giang.
Chi phí thực tế ủy thác tư pháp: Bà Huỳnh Thị T phải chịu chi phí thực tế ủy thác tư pháp là 95 (Chín mươi lăm) đô la, bà T đã nộp xong theo Thông báo của Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 28, Điều 37, khoản 4 Điều 147, Điều 228, Điều 238, điểm d khoản 1 Điều 469, Điều 477, Điều 479 Bộ luật tố tụng dân sự;
Áp dụng Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
4
thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Huỳnh Thị T về việc xin ly hôn đối với bị đơn ông Vo Ba M.
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Huỳnh Thị T được ly hôn với ông Vo Ba M
- Về con chung, tài sản chung, về nợ chung: Không có, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Huỳnh Thị T phải chịu 300.000 đồng, khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), theo biên lai thu số 0003873 ngày 20 tháng 10 năm 2023 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Kiên Giang.
-
Chi phí thực hiện ủy thác tư pháp: Bà Huỳnh Thị T phải chịu lệ phí ủy thác tư pháp 200.000₫ (Hai trăm ngàn đồng) theo biên lai 0016779 ngày 13/11/2023 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Kiên Giang.
Chi phí thực tế ủy thác tư pháp: Bà Huỳnh Thị T phải chịu chi phí thực tế ủy thác tư pháp là 95 (Chín mươi lăm) đô la, bà T đã nộp xong.
- Quyền kháng cáo: Bà Huỳnh Thị T có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật. Riêng ông Vo Ba M có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi bổ sung; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi bổ sung./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Kim Hường |
Bản án số 51/2024/HNGĐ-ST ngày 15/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG về ly hôn
- Số bản án: 51/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: HUỲNH THỊ T VÀ VÕ BÁ M LY HÔN
