Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ TỪ SƠN

TỈNH BẮC NINH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập- Tự do- Hạnh phúc

Bản án số:51/2023/HS-ST

Ngày: 20/12/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TỪ SƠN, TỈNH BẮC NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Sỹ Khả

Các hội thẩm nhân dân:ông Nguyễn Đăng Thúy, ông Lê Văn Bắc.

Thư ký phiên tòa: bà Hoàng Thị Anh Thơ - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Ông Lê Mạnh Tuấn - Kiểm sát viên.

Ngày 20/12/2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 36/2023/TLST-HS ngày 10 tháng 11 năm 2023 tại hai điểm cầu, những người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng khác ở điểm cầu trung tâm là Hội trường xét xử Tòa án thành phố T, Bàn văn Lợi ở điểm cầu tại trại tạm giam Công an tỉnh B, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 51/2023/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 12 năm 2023 đối với bị cáo:

Bàn Văn L - sinh năm 1990; Giới tính: Nam. Tên gọi khác: Không.

HKTT: Thôn N, xã B, huyện Y, tỉnh Yên Bái.

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Dao; Tôn giáo: Không; Đoàn thể: Không. Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do, Bố: Bàn Văn T, sinh năm 1968; Mẹ: Lục Thị H, sinh năm 1969 (đã chết); Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất, Vợ: Nông Thị D, sinh năm 1991; Con: Có 02 con, con lớn sinh năm 2011, con nhỏ sinh năm 2013;

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/8/2023 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh B (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10 giờ ngày 29/8/2023, L đi bộ quanh khu phố C, phường Đ, thành phố T, để tìm mua ma túy sử dụng cho bản thân. Tại đây, L gặp và mua của một người đàn ông không quen biết 400.000 đồng tiền ma túy được 01 gói ma túy nhỏ bọc ngoài bằng lớp giấy màu bạc. L cầm gói ma túy này trong lòng bàn tay trái rồi đi bộ một mình tìm nơi vắng người để sử dụng. Đến khoảng 12 giờ cùng ngày, khi L đang đi trên đường thuộc khu phố T, phường T, thành phố T thì bị lực lượng Công an phường T bắt quả tang thu giữ vật chứng như đã nêu trên.

Ngày 29/8/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T trưng cầu Phòng K Công an tỉnh B giám định chất ma túy đối với số chất bột màu trắng thu giữ của Bàn Văn L.

Tại Bản Kết luận giám định số 1796 ngày 31/8/2023 của phòng K Công an tỉnh B kết luận: “Chất bột màu trắng bên trong 01 gói nhỏ bọc ngoài bằng giấy màu bạc gửi giám định có khối lượng là 0,2071 gam là ma túy Heroine”.

Tại Bản cáo trạng số: 209CT–VKS-TS ngày 21/11/2023 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh truy tố Bàn Văn L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự 2015.

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như Bản cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. Bị cáo thừa nhận trong quá trình điều tra và truy tố vụ án, bị cáo tự nguyện khai nhận hành vi phạm tội, không bị bức cung, nhục hình buộc để khai nhận hành vi phạm tội và cũng không khiếu nại gì về hành vi hay quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng trong giai đoạn điều tra và truy tố vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh phát biểu luận tội về hành vi phạm tội của bị cáo và giữ nguyên quan điểm của Cáo trạng đã truy tố bị cáo Bàn Văn L. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Bàn Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38, Điều 47, Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Xử phạt bị cáo Bàn Văn L từ 15 đến 18 tháng tù. Miễn phạt bổ sung cho bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy mẫu vật còn lại sau giám định.

Phần tranh luận bị cáo không tham gia tranh luận với đại diện Viện kiểm sát và thừa nhận việc truy tố và xét xử là đúng.

Lời nói sau cùng: Bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và miễn phạt bổ sung cho bị cáo vì bị cáo không có tài sản, có hoàn cảnh kinh tế khó khăn.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng: Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Xét lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với thời gian, địa điểm, tang vật thu được tại hiện trường, kết luận giám định và các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 12 giờ ngày 29/8/2023, tại khu phố T, phường T, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh, tổ công tác Công an phường T bắt quả tang Bàn Văn L có hành vi tàng trữ trái phép 0,2071 gam ma túy Heroine nhằm mục đích sử dụng cho bản thân. Hành vi phạm tội của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Như vậy, Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Từ Sơn truy tố bị cáo với tội danh và điều luật đã viện dẫn ở trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma túy, gây tác hại lớn về nhiều mặt cho xã hội, ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Ma túy không chỉ gây tác hại đến sức khỏe, nhân cách con người, cản trở sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, ma túy còn là nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm và vi phạm pháp luật. Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, đủ khả năng nhận thức và ý thức được tác hại của ma túy, song với ý thức tư lợi, coi thường pháp luật bị cáo vẫn lao vào con đường sử dụng ma túy. Do vậy cần xử lý nghiêm nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung trong nhân dân.

[4] Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với bị cáo

+ Về tình tiết tăng nặng: Không.

+ Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5] Với các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như trên, cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, tuy nhiên cũng cần có một hình phạt cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

[6] Tại phiên tòa, bị cáo trình bày bị cáo không có việc làm ổn định, có điều kiện hoàn cảnh kinh tế khó khăn, không có tài sản. Vì vậy cần xem xét miễn phạt bổ sung cho bị cáo.

[7] Về vật chứng: Mẫu vật còn lại sau giám định là 0,1508 gam ma túy Heroine được niêm phong trong 01 phong bì thư dán kín có chữ ký của những người tham gia niêm phong và dấu đỏ của phòng K Công an tỉnh B kèm theo Kết luận giám định số 1796/KL – KTHS không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiệu hủy.

[8] Liên quan đến vụ án có người đàn ông đã bán ma túy cho L ngày 29/8/2023, do L không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể, Cơ quan điều tra Công an thành phố T chưa làm rõ được, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.

[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố: Bị cáo Bàn Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

2. Áp dụng: điểm c Khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106; Điều 136, Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Xử phạt: Bàn Văn L 16 (mười sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam 29/8/2023.

Tạm giam Bàn Văn L 45 ngày kể từ ngày 20/12/2023 để đảm bảo thi hành án.

3. Về hình phạt bổ sung: Miễn phạt bổ sung cho bị cáo Bàn Văn L.

4. Về vật chứng của vụ án: Tịch thu tiêu hủy mẫu vật còn lại sau giám định là 0,1508 gam ma túy Heroine được niêm phong trong 01 phong bì thư dán kín có chữ ký của những người tham gia niêm phong và dấu đỏ của phòng K Công an tỉnh B kèm theo Kết luận giám định số 1796/KL - KTHS.

5. Về án phí: Bị cáo Bàn Văn L phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bắc Ninh;
  • - VKSND tỉnh Bắc Ninh
  • - VKSND thành phố Từ Sơn;
  • - Chi cục THADS thành phố Từ Sơn;
  • - Công an thành phố Từ Sơn;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TÒA PHIÊN TÒA

Nguyễn Sỹ Khả

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 51/2023/HS-ST ngày 20/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TỪ SƠN, TỈNH BẮC NINH về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 51/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/12/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TỪ SƠN, TỈNH BẮC NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger