Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN Đ

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 51/2024/HS-ST

Ngày: 20-8-2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hà

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Sen

Ông Nguyễn Huy Hoàn

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Như Hoàng Hải - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đ, Thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, Thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh H - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 8 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đ, thành phố Hà Nội, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 44/2024/TLST-HS ngày 29 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 50/2024/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 8 năm 2024, đối với các bị cáo:

1. Phạm Tiến Đ, sinh năm 1995 tại tỉnh Thái Nguyên; nơi thường trú: Tổ dân phố N, phường L, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: Lớp 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn T, con bà Nguyễn Thị Thanh T1; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; danh bản, chỉ bản số 052 do Công an huyện Đ ngày 07/02/2024; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/01/2024 đến nay; có mặt tại phiên tòa.

2. Nguyễn Hữu T2, sinh năm 1981 tại huyện Đ, thành phố Hà Nội; nơi thường trú: Cụm B, xã L, huyện Đ, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Hữu N, con bà Nguyễn Thị T3; có vợ và có 02 con (con lớn sinh năm 2007, con nhỏ sinh năm 2013); tiền án, tiền sự: Không; danh bản, chỉ bản số 050 do Công an huyện Đ ngày 07/02/2024; bị tạm giữ và bắt tạm giam từ ngày 28/01/2024 đến ngày 06/02/2024; có mặt tại phiên tòa.

3. Trần Hồng P, sinh năm 2004 tại tỉnh Lạng Sơn; nơi thường trú: Thôn K, xã B, huyện C, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: Lớp 9/12; dân tộc: Nùng; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn G, con bà Linh Thị C; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; danh bản, chỉ bản số 051 do Công an huyện Đ ngày 07/02/2024; bị tạm giữ và bắt tạm giam từ ngày 28/01/2024 đến nay; có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Anh Nguyễn Khắc H, sinh năm 1986; Địa chỉ: Số D phố T, phường D, quận C, thành phố Hà Nội; vắng mặt.

- Người làm chứng: Bà Nguyễn Thị C1 năm 1960; Địa chỉ: Cụm A, xã L, huyện Đ, thành phố Hà Nội

Bà Nguyễn Thị N1sinh năm 1969; Địa chỉ: Cụm C, xã L, huyện Đ, thành phố Hà Nội

Anh Nguyễn Văn H2sinh năm 1986; Địa chỉ: Cụm C, xã L, huyện Đ, thành phố Hà Nội

Những người làm chứng đều vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Phạm Tiến ĐNguyễn Hữu T2và Trần Hồng P1 công nhân làm thuê tại xưởng sản xuất đồ gỗ tại địa chỉ khu L thuộc cụm C, xã L, huyện Đ khoảng đầu tháng 01 năm 2024, trong lúc làm việc cùng nhau tại xưởng, T2đã nói chuyện với Đ1 chủ xưởng lắp camera theo dõi nhưng không xem và quản lý không chặt chẽ nên trước đây có một số thợ đã lợi dụng sơ hở lấy trộm đồ trong xưởng đem đi bán. Nghe thấy vậy Đ2 sinh ý định lợi dụng lúc anh H1không có ở xưởng thì Đ3 lấy trộm đồ, cất giấu, T2nhận sẽ đem bán những đồ Đlấy được. Sau đó, Đ4 chuyện với P2 Pkiếm tiền bằng cách lấy trộm đồ của xưởng để cho T2bán rồi lấy tiền chia nhau. Pđồng ý. Vào khoảng 20 giờ ngày 15/01/2024, lợi dụng lúc anh H1không có ở xưởng, Đ Pđã lấy 02 tấm phản ghép giường gấp bằng gỗ quế kích thước mỗi tấm dài 200cm, rộng 80cm, dày 4,3m và 01 tấm dùng làm đầu giường gấp bằng gỗ quế kích thước dài 200cm, rộng 40cm, dày 4,5cm, chân dài 25cm. Đvà Pđem đồ lấy được cất giấu ở ngoài bờ đê cách xưởng gỗ của anh H1khoảng 30m. Sau đó, Đ5 cho T2biết đã lấy được số tài sản trên và bảo T2đến nơi cất giấu mang đi bán. T2chê xấu và bảo chưa tìm được người mua cứ để đấy.

Khoảng sáng ngày 22/01/2024, trong lúc làm việc T2lại nói với Đ là các tấm đáy tủ đợt này làm đẹp, bán được khoảng 50.000 đồng - 70.000 đồng/tấm. Nghe vậy Đ6 là T2nói lấy trộm các tấm đáy tủ có thể bán được giá tiền nên vào khoảng 20 giờ cùng ngày, khi anh H1không có ở xưởng, Đ7 rủ Plấy trộm được 20 tấm đáy tủ bằng gỗ quế, mỗi tấm có kích thước dài 113cm, rộng 56cm, dày 2,2cm. Sau khi lấy được, cả hai mang toàn bộ 20 tấm đấy tủ và 02 tấm phản ghép giường gấp, 01 đầu giường gấp đang cất giấu ở bờ đê sang để nhờ tại xưởng gỗ của anh Nguyễn Ngọc T4 phía đối diện cách xưởng gỗ của anh H1khoảng 7,5m. Sau đó, Đ7 báo cho T2biết đã lấy được đồ đang gửi ở xưởng của anh T4T2bảo cứ để đấy đợi lấy thêm khoảng 20 đến 30 tấm rồi cuối tuần T2gọi người đến bán một thể.

Khoảng 15 giờ 30 ngày 27/01/2024 (thứ 7), T2bảo với Đ8 tại anh H1không có ở xưởng nên đến tối anh H1sẽ về không đi đâu nữa. Đhiểu là T2bảo đến tối anh H1về thì không lấy trộm được nữa. Đtrả lời T2cứ để cháu tính. Đến khoảng 16 giờ 15 phút cùng ngày, Đ9 Ptiếp tục lấy trộm đồ ở trong xưởng thì P3 nên từ chối và ngủ trong phòng trên tầng 2. Đmột mình chuyển 20 tấm đáy tủ bằng gỗ quế từ tầng 2 xuống tầng 1. Sau đó, T2và Đcùng bê số tấm đáy tủ này cho lên xe đẩy để chuyển đi. Trong quá trình Đđẩy xe đi gửi ở xưởng của anh T4thì T2đi vào trong khu bếp của xưởng nói chuyện với bà Nguyễn Thị N1 đun nấu trong bếp để che tầm nhìn của bà N1không cho bà N1phát hiện hành vi của Đ. Khi Đ10 số đáy tủ sang gửi ở xưởng của anh T4thì bị bà Nguyễn Thị C2 người làm thuê ở xưởng của anh T4nhìn thấy, nghi ngờ nên báo cho gia đình anh H1biết. Anh H1đã trình báo sự việc với Công an xã L

Cơ quan điều tra đã kiểm tra camera trong xưởng của anh H và triệu tập ĐT2Pđến làm việc. Tại cơ quan điều tra ĐT2Pđã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội.

Kết luận định giá tài sản số 12/KL-HĐĐGTS ngày 30/01/2024 của Hội đồng đồng định giá tài tài sản trong tố tụng hình sự huyện Đ: “40 tấm đáy tủ quần áo bằng gỗ quế loại đáy dùng để làm tủ quần áo, có giá trị 16.000.000 đồng; 02 phản giường gấp bằng gỗ quế có giá trị 1.000.000 đồng; đầu giường gấp bằng gỗ quế có giá trị 350.000 đồng”

Bản Cáo trạng số 46/CT- VKS- ĐP ngày 26 tháng 7 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, thành phố Hà Nội truy tố các bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra và xin Hội đồng xét xử khoan hồng cho các bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ tại phiên tòa trình bày luận tội giữ nguyên nội dung bản Cáo trạng đã truy tố các bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Tiến Đ11 bị cáo Nguyễn Hữu T5 09 đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thử thách từ 18- 24 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự phạt bị cáo Trần Hồng P từ 06 đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách từ 12 đến 18 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Trả tự do ngay tại phiên tòa cho bị cáo Đvà P4 các bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác. Không đề nghị phạt bổ sung đối với bị cáo. Đề nghị xử lý vật chứng theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng: Quá trình điều tra, truy tố, Điều tra viên, Cơ quan điều tra, Kiểm sát viên và Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ đã tiến hành các hoạt động tố tụng để thu thập tài liệu, chứng cứ đúng thẩm quyền, có căn cứ, đúng trình tự tố tụng theo qui định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[2] Về nội dung: Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận rõ hành vi phạm tội. Lời khai của các bị cáo phù hợp với nhau và phù hợp với các lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với đơn trình báo và lời khai của bị hại, người làm chứng cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận: Phạm Tiến ĐNguyễn Hữu T2và Trần Hồng P1 người làm thuê tại xưởng sản xuất đồ gỗ của anh Nguyễn Khắc H1 khu làng N thuộc cụm C, xã L, huyện Đ xưởng sơ hở trong việc quản lý tài sản nên Phạm Tiến Đvà Nguyễn Hữu T6 sinh ý định trộm cắp tài sản để bán lấy tiền chia nhau sử dụng. Đthực hiện việc lấy tài sản đem cất giấu còn T2tìm người để bán tài sản. Vào khoảng 20 giờ các ngày 15/01/2024 và 22/01/2024, lợi dụng lúc anh Nguyễn Khắc H2 có ở xưởng, Đrủ Plấy trộm 02 tấm phản ghép giường gấp bằng gỗ quế kích thước mỗi tấm dài 200cm, rộng 80cm, dày 4,3m và 01 tấm dùng làm đầu giường gấp bằng gỗ quế kích thước dài 200cm, rộng 40cm, dày 4,5cm, chân dài 25cm tổng giá trị 1.350.000 đồng và 20 tấm đáy tủ bằng gỗ quế, mỗi tấm có kích thước dài 113cm, rộng 56cm, dày 2,2cm, tổng giá trị là 8.000.000 đồng. Khoảng 16 giờ 15 phút ngày 27/01/2024, lợi dụng lúc anh H1không có tại xưởng, Đrủ P5 tục trộm cắp thêm tài sản nhưng Ptừ chối nên Đ11 T2cùng nhau lấy cắp 20 tấm đáy tủ bằng gỗ quế, mỗi tấm có kích thước dài 113cm, rộng 56cm, dày 2,2cm tổng giá trị là 8.000.000 đồng. Khi Đ10 những tấm đáy tủ lấy được sang giấu tại xưởng của anh T4thì bị bà C1là người làm thuê ở xưởng anh T4phát hiện.

[3] Hành vi của các bị cáo lén lút chiếm đoạt các tài sản có tổng trị giá 16.350.000 đồng của anh Nguyễn Khắc H như nêu trên đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ truy tố các bị cáo theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

[4] Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của anh Nguyễn Khắc H được Nhà nước bảo vệ, gây mất trật tự trị an xã hội. Các bị cáo đều là người đã trưởng thành, có năng lực hành vi đầy đủ, có sức khỏe để lao động kiếm sống nhưng không tu dưỡng bản thân, vì hám lợi nên đã nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản của người khác để có tiền chi tiêu. Vì vậy, việc xét xử và áp dụng đối với các bị cáo mức hình phạt phù hợp là cần thiết

[5] Đánh giá vị trí, vai trò từng bị cáo để cá thể hóa trách nhiệm như sau: Đây là vụ án có đồng phạm nhưng tính chất đơn giản trong đó bị cáo T2và Đcùng nảy sinh ý định trộm cắp tài sản và phân chia nhiệm vụ Đlấy tài sản đem cất giấu còn T2sẽ mang tài sản lấy được đi bán. Vì vậy, T2và Đcó vai trò ngang nhau và phải chịu mức hình phạt như nhau đối với các hành vi của mình. Pbị Đ9 rê phạm tội đã cùng Đ12 trộm tài sản hai lần trong đó có một lần giá trị tài sản đã đủ định lượng truy cứu trách nhiệm hình sự, hậu quả do hành vi của P6 ra nhỏ hơn nên mức hình phạt áp dụng đối với P7 thấp hơn.

[6] Đánh giá các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với từng bị cáo để quyết định hình phạt:

[6.1] Bị cáo Đba lần trực tiếp thực hiện hành vi lấy tài sản trong đó có hai lần giá trị tài sản đủ định lượng cấu thành tội phạm, bị áp dụng tình tiết tăng nặng là phạm tội hai lần trở lên quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự. Bị cáo Đ13 áp dụng các tình tiết giảm nhẹ là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã bồi thường cho bị hại và được bị hại xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, quy định tại các điểm s, b khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Xét bị cáo là người lao động, có nhân thân tốt, nhất thời phạm tội, mặc dù bị cáo phạm tội nhiều lần nhưng giá trị tài sản bị chiếm đoạt từng lần đều không nhiều và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Thời gian bị cáo bị tạm giam từ ngày 28/01/2024 đến nay đã đủ tác dụng răn đe đối với bị cáo nên Hội đồng xét xử thấy không nhất thiết phải tiếp tục cách ly bị cáo ra khởi đời sống xã hội thêm một thời gian nữa mà căn cứ quy định tại điểm c khoản 2 Điều 1 của Nghị quyết số 01/2022/NQ- HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, có thể quyết định cho bị cáo được hưởng án treo để bị cáo được cải tạo dưới sự giám sát giáo dục của chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

[6.2] Bị cáo T2đồng phạm với Đ14 các lần phạm tội trong đó có một lần T2trực tiếp tham gia lấy tài sản nên cũng bị áp dụng tình tiết tăng nặng phạm tội từ hai lần trở lên. Bị cáo T2cũng được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm s, b khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Xét bị cáo là người lao động thuần túy, nhân thân tốt, có nơi cư trú ổn định, trước lần phạm tội này bị cáo đều chấp hành tốt chính sách pháp luật và quy định của địa phương, bị cáo có bố đẻ và bố vợ là người có công với cách mạng được Nhà nước tặng nhiều H3huy chương. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định phạt tù đối với bị cáo nhưng xem xét cho bị cáo được cải tạo tại địa phương cũng đủ tác dụng giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt và không ảnh hưởng đến công tác phòng ngừa tội phạm chung.

[6.3] Bị cáo P bị rủ rê trộm cắp tài sản. Tuy bị cáo lấy tài sản hai lần nhưng chỉ có một lần tài sản chiếm đoạt có giá trị trên 2.000.000 đồng nên P8 bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo P9 áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, quá trình điều tra và tại phiên tòa thành khẩn khai báo, đã bồi thường thiệt hại và bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, là các tình tiết quy định tại các điểm i, s, b khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Xét bị cáo không có tình tiết tăng nặng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nhân thân tốt, có nơi cư trú ổn định. Với mức độ nghiêm trọng do hành vi của bị cáo gây ra thấp hơn bị cáo Đ11 T2bị cáo Pcũng có thể được xem xét áp dụng mức phạt tù thấp hơn ĐPvà được cho hưởng treo để tự cải tạo dưới sự giám sát của chính quyền địa phương. Tuy nhiên, do thời gian bị cáo bị tạm giam đã được 6 tháng 23 ngày nên Hội đồng xét xử quyết định phạt bị cáo P10 hình phạt bằng với thời gian bị cáo đã bị tạm giam là phù hợp.

[7] Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự thì ngoài hình phạt chính còn quy định hình phạt bổ sung là phạt tiền. Xét thấy các bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập ổn định để đảm bảo thi hành án nên Hội đồng xét xử không phạt bổ sung đối với các bị cáo.

[8] Về vật chứng: 01 máy tính bảng nhãn hiệu Huawei, 01 củ sạc kèm dây sạc của bị cáo Đ01 điện thoại di động của Nguyễn Hữu T2không liên quan đến việc phạm tội sẽ trả lại cho các bị cáo.

[9] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã được nhận lại tài sản bị mất, các bị cáo cũng đã bồi thường cho bị hại và bị hại không có yêu cầu đề nghị bồi thường dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[10] Trần Hồng Pbiết ĐT2trộm cắp tài sản ngày 27/01/2024 nhưng không tố giác, tuy nhiên do Đvà T2bị truy tố theo khoản 1 Điều 173 BLHS nên hành vi của P8 cấu thành tội “không tố giác tội phạm” theo quy định tại Điều 390 BLHS. Cơ quan điều tra không khởi tố Pvề hành vi này là đúng.

[11] Anh Nguyễn Văn H3 ý cho các bị cáo gửi tài sản tại xưởng của anh T4nhưng anh H2không biết đó là tài sản do các bị cáo phạm tội có được nên anh H2không đồng phạm với các bị cáo.

[12] Về án phí: Bị cáo Đvà T2phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Bị cáo P1 người dân tộc thiểu số sống ở vùng kinh tế đặc biệt khó khăn nên miễn cho bị cáo P8 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 58; Điều 65 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Phạm Tiến Đ 11 ( mười một) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 22 (hai mươi hai) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm về tội “Trộm cắp tài sản”.

Căn cứ vào khoản 4 Điều 328 của Bộ luật tố tụng hình sự: Trả tự do ngay tại phiên tòa cho bị cáo Phạm Tiến Đ15 bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác.

Giao bị cáo Phạm Tiến Đ cho Ủy ban nhân dân phường L1, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo.

2. Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 58; Điều 65 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Hữu T7 ( mười một) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 22 (hai mươi hai) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm về tội “Trộm cắp tài sản”.

Giao bị cáo Nguyễn Hữu T2 cho Ủy ban nhân dân xã L1, huyện Đ, thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo qui định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

3. Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm i, b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Trần Hồng P11 ( sáu) tháng 23 (hai mươi ba) ngày tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam là ngày 28/01/2024.

Căn cứ vào khoản 4 Điều 328 của Bộ luật tố tụng hình sự: Trả tự do ngay tại phiên tòa cho bị cáo Trần Hồng P nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác.

4. Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 máy tính bảng nhãn hiệu Huawei màu xám bạc, mặt sau có chữ “honor” đã qua sử dụng; 01 củ sạc hoco và dây sạc đã qua sử dụng, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Sony.

(Vật chứng hiện lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đan Phượng, theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 19/8/2024 giữa Công an huyện Đ Thi hành án dân sự huyện Đ, Thành phố Hà Nội).

5. Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 12, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo N2 chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Miễn cho bị cáo Trần Hồng P12 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

6. Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

- TAND Thành phố Hà Nội;

- VKSND huyện Đ;

- CQTHAHS huyện Đ;

- CCTHADS huyện Đ;

- Bị cáo; bị hại, NLQ.............;

- Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 51/2024/HS-ST ngày 20/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 51/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm Tiến Đ và đồng phạm trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger