TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÔNG CÔNG TỈNH THÁI NGUYÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 51/2024/HS-ST Ngày 20 - 6 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÔNG CÔNG, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Thị Lan Anh
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Huệ và ông Trần Quốc Bình
Thư ký phiên tòa: Bà Bằng Thị Kim Dung - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sông Công tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Bích Thảo- Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 44/2024/TLST-HS ngày 14 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 50/2024/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Ngô Văn L; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 10/7/1980; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: Không có nơi ở cố định, sống lang thang; Nghề nghiệp: Không nghề; Trình độ văn hóa: 06/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Ngô Văn Đ (không xác định được năm sinh) và bà: Nguyễn Thị T (không xác định được năm sinh); Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân:
- + Bản án số 400/2002/HSST ngày 28/5/2002 của Toà án nhân dân thành phố Hà Nội, xử phạt Ngô Văn L 40 tháng tù về tội Cướp tài sản;
- + Bản án số 27/2005/HSST ngày 25/02/2005 của Toà án nhân dân quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội, xử phạt Ngô Văn L 36 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý;
- + Bản án số 147/2009/HSST ngày 26/5/2009 của Toà án nhân dân quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội, xử phạt Ngô Văn L 7 năm 6 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý.
Bị cáo bị giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố S, tỉnh Thái Nguyên từ ngày 23/01/2024 đến nay; có mặt.
- Bị hại:
- + Anh Nguyễn Văn T1, sinh năm 1995; Trú tại: TDP K, phường B, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên; có đơn xin xét xử vắng mặt.
- + Anh Hà Quang D, sinh năm 1992; Trú tại: Tổ C, phường M, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên; có đơn xin xét xử vắng mặt.
- + Anh Lê Đức T2, sinh năm 1987; Trú tại: Tổ H, phường C, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên; có đơn xin xét xử vắng mặt.
- + Anh Hoàng Văn D1, sinh năm 1998; Trú tại: Xóm S, xã K, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên; có đơn xin xét xử vắng mặt.
- + Anh Lưu Trọng T3, sinh năm 1982; Trú tại: Tổ X, phường C, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên; có đơn xin xét xử vắng mặt.
- + Chị Trần Thị Q, sinh năm 1988; Trú tại: TDP A, phường T, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên; có đơn xin xét xử vắng mặt.
- + Ông Đỗ Văn N, sinh năm 1953; Trú tại: Tổ A, phường T, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên; có đơn xin xét xử vắng mặt.
- + Anh Trần Mạnh H, sinh năm 1978; Trú tại: Tổ A, phường T, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên; có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Người làm chứng: Anh Hà Giang K, sinh năm 1984; Trú tại: TDP K, phường B, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngô Văn L là người nghiện chất ma túy, không có nơi cư trú và sống lang thang, do không có việc làm ổn định và cần tiền mua ma túy sử dụng nên L đã nhiều lần trộm cắp tài sản là cần gạt mưa của các xe ô tô đỗ ở hành lang đường tại thành phố S, tỉnh Thái Nguyên đem bán lấy tiền chi tiêu và mua ma túy sử dụng. Ngày 18/01/2024 và ngày 20/01/2024, L mang theo tô vít và cờ lê rồi điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, Biển kiểm soát (BKS) 19M1-196.17 đến địa bàn thành phố S thực hiện các vụ trộm cắp tài sản là (cần gạt mưa của các xe ô tô) như sau:
- - Khoảng 03 giờ 55 phút sáng ngày 18/01/2024, L điều khiển xe mô tô BKS 19M1-196.17 đi đến đoạn đường A, thuộc Tổ dân phố (TDP) 3, phường M, thành phố S, L nhìn thấy 01 xe ô tô nhãn hiệu Madaz 2s, màu trắng, BKS 20A- 091.80 của gia đình anh Hà Quang D (sinh năm 1992, trú tại TDP C, phường M, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên), đỗ trước cửa nhà. L đi qua xe ô tô khoảng 10m rồi dừng lại và dắt xe lùi lại gần vị trí đuôi xe. Sau đó, L lấy cờ lê và tô vít đi đến vị trí xe, dùng tô vít cậy nắp nhựa chân ốc hai cần gạt mưa rồi dùng cờ lê vặn ốc chân cần gạt mưa, tháo hai cần gạt mưa cầm ra xe mô tô để tại vị trí bàn để chân bên phải rồi đi ra đường C.
- - Khoảng hơn 04 giờ cùng ngày, khi L đang đi trên đường C hướng ra ngã ba Phố C, thành phố S đến đoạn đường thuộc TDP A, phường T, thành phố S, thì L phát hiện chiếc xe ô tô nhãn hiệu Toyota Wigo, BKS 20A-350.74 của gia đình chị Trần Thị Q (sinh năm 1988, trú tại TDP A, phường T, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên) đang đỗ tại hành lang đường nên dừng xe lại, cầm theo cờ lê và tô vít đi vào vị trí xe ô tô, dùng tô vít cậy nắp nhựa chân ốc hai cần gạt mưa rồi dùng cờ lê vặn ốc chân cần gạt mưa tháo và cầm hai cần gạt mưa đi ra xe mô tô để hai cần gạt mưa gài vào vị trí bàn để chân bên phải. Sau đó L điều khiển xe đi tiếp khoảng 10m thì đến vị trí xe ô tô nhãn hiệu Toyota Vios, BKS 30H-349.72 của gia đình anh Trần Mạnh H (sinh năm 1978, trú tại TDP A, phường T, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên), với cách thức tương tự như trên, L tháo 02 cần gạt mưa của xe mô tô của anh H.
- - Khoảng 04 giờ 10 phút cùng ngày 18/01/2024, L đi đến đoạn đường phía trước cửa quán Q1, thuộc tổ A, phường T, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên, L phát hiện chiếc xe ô tô nhãn hiệu Toyota Vios, BKS 20A-035.68 của gia đình ông Đỗ Văn N (sinh năm 1956, trú tại tổ A, phường T, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên) đang đỗ tại hành lang phía trước cửa quán, L đỗ xe sát mép đường rồi mang theo cờ lê và tô vít tháo 02 cần gạt mưa của xe rồi điều khiển xe mô tô đi hướng ngã tư V. Khoảng 04 giờ 20 phút thì L đi đến đoạn trước cửa quán B thuộc TDP X, phường C, thành phố S của gia đình anh Lê Đức T2 (sinh năm 1987) thì L nhìn thấy xe ô tô nhãn hiệu Mitsubishi Attrager, BKS 20A-545.32, màu sơn đỏ đỗ phía trước cửa quán nên L dừng xe lên hành lang đường, gần vị trí đuôi xe ô tô, rồi dung cờ lê và tô vít tháo hai cần gạt mưa rồi điều khiển xe mô tô hướng ngã tư V.
- - Khoảng 04 giờ 30 phút ngày 18/01/2024, L tiếp tục điều khiển xe mô tô đi trên đường T, thì phát hiện chiếc xe ô tô nhãn hiệu Toyota Vios, BKS 20A- 015.76 của gia đình anh Lưu Trọng T3, sinh năm 1982, trú tại TDP X, phường C, thành phố S, thỉnh T đỗ trước cửa nhà nên L đi lên vị trí xe ô tô, với cách thức trộm nêu trên, L trộm cắp thêm được 02 cần gạt mưa của xe ô tô của anh T3.
Tổng trong buổi sáng ngày 18/01/2024 L trộm cắp được 6 bộ (12 chiếc cần gạt mưa xe ô tô) mang đến chợ đồ cũ tại phố K, Quận Đ, thành phố Hà Nội bán cho một người đàn ông L không quen biết được 600.000 đồng (mỗi bộ cần gạt mưa gồm 02 chiếc, bán với giá 100.000đ/1 bộ). Số tiền trên L đã sử dụng chi tiêu cá nhân, còn lại 350.000 đồng bị thu giữ.
- - Khoảng 01 giờ ngày 20/01/2024, L tiếp tục điều khiển xe mô tô BKS 19M1-196.17 đi từ cầu Đ, huyện Đ, thành phố Hà Nội đi theo đường Q, hướng Hà Nội - Thái Nguyên đến thành phố S tìm sơ hở của các chủ quản lý xe ô tô để lấy trộm cần gạt mưa, bán lấy tiền tiêu xài. Khoảng 02 giờ 10 phút cùng ngày khi L đi đến đường cách mạng tháng Mười trước cửa hàng Q2 thuộc TDP D, phường B, thành phố S, L nhìn thấy 01 xe ô tô, nhãn hiệu Toyota Vios, BKS: 20A-390.40 của anh Hoàng Văn D1 (sinh năm 1998, trú tại xóm S, xã K, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên) đỗ tại hành lang đường. L dừng xe sát mép đường rồi dùng cờ lê và tô vít đến tháo 02 cần gạt mưa rồi tiếp tục điều khiển xe đi theo đường Quốc lộ 3 hướng thành phố T. Khi L đang đi trên đường N lúc đó khoảng 02 giờ 20 phút thấy trước cửa quán cho thuê áo dài T, ở TDP K, phường B, thành phố S, có xe ô tô nhãn hiệu Huyndai Accent, màu trắng, BKS 20A-698.74 của anh Nguyễn Văn T1 (sinh năm 1995, trú tại TDP K, phường B, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên) đang đỗ trên hành lang đường bên phải, L tiếp tục dùng cờ lê và tô vít trộm cắp 02 cần gạt mưa rồi điều khiển xe hướng đường tròn thành phố S. Lúc này, anh T1 xem camera thì thấy L trộm cắp cần gạt mưa nên gọi điện thoại cho anh Hà Giang K (sinh năm 1984) là hàng xóm cùng anh T1 đuổi theo L. Khi đi đến khu vực siêu thị A, L biết có người đuổi theo nên tang ga bỏ chạy đến đoạn đường T kéo dài, thuộc TDP M, phường B, thành phố S, thì đâm va vào dải phân cách và bị ngã ra đường nên anh T1 và anh K bắt giữ lại được và trình báo Công an phường B, thành phố S đến giải quyết. Công an phường B đến lập biên bản sự việc và tạm giữ 03 bộ cần gạt mưa, 04 cờ lê, 02 tô vít, 01 xe mô tô BKS 19M1-196.17 bị hư hỏng và 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu OPPO lắp sim số 0986.374.505.
Ngày 22/01/2024 Ngô Văn L tự nguyện giao nộp số tiền 350.000 đồng là số tiền bán cần gạt mưa trộm cắp ngày 18/01/2024; 01 mũ bảo hiểm, loại mũ nửa đầu, sơn màu trắng; 01 giấy đăng ký xe mô tô số 013869, BKS 19M1- 196.17; 01 áo khoác nam giới, màu nâu có chữ PUMA.
Quá trình điều tra Cơ quan điều tra Công an thành phố S được các bị hại trong vụ án giao nộp 04 video và 01 video Công an phường B thu giữ liên quan đến hành vi trộm cắp của Ngô Văn L.
Ngày 22/01/2024, cơ quan CSĐT Công an thành phố Sông Công ra yêu cầu định giá tài sản số 231 và 232 đối với 02 cần gạt mưa phía trước xe ô tô nhãn hiệu Toyota Vios, BKS: 30H- 349.72; 02 cần gạt mưa phía trước xe ô tô nhãn hiệu Toyota Wigo, BKS: 20A- 350.74; 02 cần gạt mưa phía trước xe ô tô nhãn hiệu Toyota Vios, BKS: 20A- 015.76; 02 cần gạt mưa phía trước xe ô tô nhãn hiệu Toyota Vios, BKS: 20A- 035.68; 02 cần gạt mưa phía trước xe ô tô nhãn hiệu Mazda 2S, BKS: 20A- 091.80; 02 cần gạt mưa phía trước xe ô tô nhãn hiệu Mitsubishi Attrage, BKS: 20A- 545.32; 02 cần gạt mưa phía trước xe ô tô nhãn hiệu Toyota Vios, BKS: 20A- 390.40 và 02 cần gạt mưa phía trước xe ô tô nhãn hiệu Huyndai Accent, BKS: 20A- 698.74.
Tại bản Kết luận định giá tài sản số 05 và 06 ngày 23/01/2024, của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố S, tỉnh Thái Nguyên, kết luận: giá trị tại thời điểm hiện tại của 16 cần gạt mưa phía trước xe ô tô trên tổng trị giá là 9.983.000 đồng (chín triệu chín trăm tám mươi ba nghìn đồng).
Tại cơ quan điều tra bị can Ngô Văn L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Lời khai nhận tội của bị can phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án như: Đơn trình báo các bị hại; vật chứng thu giữ; Kết luận định giá tài sản cùng các tài liệu chứng cứ khác mà cơ quan Cảnh sát điều tra đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án.
Vật chứng của vụ án gồm:
- + 01 bì niêm phong ký hiệu S bên trong có 01 mũ bảo hiểm màu trắng, loại nửa đầu, có viền màu xanh, ghi nhãn hiệu LIN;
- + 01 bì niêm phong ký hiệu NS1 2003553 bên trong có 01 áo khoác nam giới màu nâu, nhãn hiệu PUMA; số tiền 350.000 đồng;
- + 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, BKS: 19M-196.17 bị hư hỏng: Gương chiếu hậu bên phải lệch khỏi vị trí ban đầu, bám dính bùn đất; Đèn xi nhan bên trái bị vỡ hư hỏng; Vành bánh xe phía trước bị gộp cong, biến dạng; Xăm xe bị bục rách; Ốp nhựa thân xe có nhiều vết trượt xước bám dính bùn đất;
- + 01 bì niêm phong ký hiệu A2 bên trong có 01 túi da màu trắng bên trong có 04 chiếc cờ lê bằng kim loại màu trắng, 01 tuốc nơ vít chuôi cầm màu cam và 01 tuốc nơ vít tay cầm màu vàng;
- + 01 bì niêm phong, ký hiệu A4 bên trong có 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Oppo A59, đã qua sử dụng lắp sim số 0986.374.505;
- + 02 cần gạt mưa xe ô tô (đã qua sử dụng).
Các vật chứng trên được chuyển bảo quản theo quy trình quản lý vật chứng.
- + Các bì niêm phong ký hiệu P, P1, P2, P3 và P4 bên trong có chứa các đĩa DVD, lưu trữ các hình ảnh, video camera liên quan đến vụ án, được chuyển theo hồ sơ vụ án.
Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại anh Hoàng Văn D1, Nguyễn Văn T1 đã nhận lại tài sản bị mất, anh Hà Quang D đã tự thay cần gạt mưa cho xe nên các bị hại trên không yêu cầu Ngô Văn L phải bồi thường.
Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, anh Lê Đức T2, anh Lưu Trọng T3; chị Trần Thị Q không yêu cầu bị cáo bồi thường. Ông Đỗ Văn N và anh Trần Mạnh H yêu cầu bị cáo bồi thường theo giá trị tài sản được định giá.
Tại bản cáo trạng số 44/ CT-VKS ngày 13/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố bị cáo Ngô Văn L về tội “Trộm cắp tài sản” theo Khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng truy tố. Bị cáo nhất trí bồi thường cho ông Đỗ Văn N và anh Trần Mạnh H theo giá trị tài sản được định giá.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát luận tội, giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng. Đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo phạm tội “Trộm cắp tài sản”; đề nghị áp dụng Khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo từ 18 đến 24 tháng tù; Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Về xử lý vật chứng:
- + Tịch thu tiêu hủy: 01 bì niêm phong ký hiệu S bên trong có 01 mũ bảo hiểm màu trắng, loại nửa đầu, có viền màu xanh, ghi nhãn hiệu LIN; 01 bì niêm phong ký hiệu NS1 2003553 bên trong có 01 áo khoác nam giới màu nâu, nhãn hiệu PUMA; 01 bì niêm phong ký hiệu A2 bên trong có 01 túi da màu trắng bên trong có 04 chiếc cờ lê bằng kim loại màu trắng, 01 tuốc nơ vít chuôi cầm màu cam và 01 tuốc nơ vít tay cầm màu vàng.
- + Tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, BKS: 19M-196.17 cùng đăng ký xe.
- + Tạm giữ để đảm bảo thi hành án: số tiền 350.000 đồng; 01 bì niêm phong, ký hiệu A4 bên trong có 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Oppo A59, đã qua sử dụng lắp sim số 0986.374.505; trả lại cho bị cáo 02 cần gạt mưa xe ô tô.
Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại anh Hoàng Văn D1, anhNguyễn Văn T4, anh Hà Quang D, anh Lê Đức T2, anh Lưu Trọng T3; chị Trần Thị Q không yêu cầu bị cáo bồi thường nên không xem xét giải quyết. Ông Đỗ Văn N và anh Trần Mạnh H yêu cầu bị cáo bồi thường theo giá trị tài sản được định giá. Tại bản kết luận định giá tài sản số 05 ngày 23/01/2024 giá trị 02 cần gạt mưa phía trước xe ô tô nhãn hiệu Toyota Vios, BKS: 20A- 035.68 của ông Đỗ Văn N có giá 1.033.000 đồng; 02 cần gạt mưa phía trước xe ô tô nhãn hiệu Toyota Vios, BKS: 30H- 349.72 của anh Trần Mạnh H có giá 1.333.000 đồng. Do đó cần buộc bị cáo bồi thường cho ông Đỗ Văn N số tiền 1.033.000 đồng, bồi thường cho anh Trần Mạnh H số tiền 1.333.000 đồng.
Buộc bị cáo chịu án phí hình sự sơ thẩm, dân sự sơ thẩm theo quy định.
Bị cáo không tranh luận, thừa nhận việc truy tố và xét xử bị cáo về tội danh và điều luật như nêu trên là không oan, đúng người, đúng tội.
Bị cáo nói lời sau cùng, bị cáo đã nhận thức được hành vi của mình và vô cùng ăn năn hối cải, xin được hưởng mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố S, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sông Công, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng đều không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại giai đoạn điều tra và phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi, diễn biến nội dung sự việc đúng như nội dung kết luận điều tra và cáo trạng đã truy tố. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của các bị hại, người làm chứng, vật chứng thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác Cơ quan điều tra đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở xác định: Trong các ngày 18 và 20/01/2024, trên địa bàn thành phố S, tỉnh Thái Nguyên, Ngô Văn L đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản là 16 chiếc cần gạt mưa phía trước xe ô tô của các bị hại Hoàng Văn D1, Nguyễn Văn T1, Hà Quang D, Lê Đức T2, Lưu Trọng T3, Trần Thị Q, Đỗ Văn N và anh Trần Mạnh H. Tổng trị giá 16 chiếc cần gạt mưa xe ô tô là 9.983.000 đồng (chín triệu chín trăm tám mươi ba nghìn đồng), trong đó các bộ cần gạt mưa đều được định giá dưới 2.000.000 đồng.
Hành vi nêu trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội "Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Nội dung điều luật như sau:
“Điều 173. Tội trộm cắp tài sản
1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng ... thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm...”
Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sông Công truy tố bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ.
[3] Xét tính chất hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp được pháp luật bảo vệ.
[4] Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, vì vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo có nhân thân xấu bị xét xử 03 lần về tội Cướp tài sản và Tàng trữ trái phép chất ma tuý.
[5] Về hình phạt: Trên cơ sở đánh giá tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng do nghiện ma túy và không có công ăn việc làm, không có thu nhập nên trộm cắp tài sản để lấy tiền tiêu xài. Vì vậy cần có mức hình phạt phù hợp để giáo dục bị cáo nói riêng đồng thời góp phần ngăn ngừa, đấu tranh đối với tội phạm về xâm phạm sở hữu nói chung.
Mức hình phạt đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo tại phiên tòa là phù hợp.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo sống lang thang, không có tài sản và thu nhập nên miễn áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại anh Hoàng Văn D1, anh Nguyễn Văn T1, anh Hà Quang D, anh Lê Đức T2, anh Lưu Trọng T3, chị Trần Thị Q không yêu cầu bị cáo bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. Ông Đỗ Văn N và anh Trần Mạnh H yêu cầu bị cáo bồi thường theo giá trị tài sản được định giá. Tại bản kết luận định giá tài sản số 05 ngày 23/01/2024 giá trị 02 cần gạt mưa phía trước xe ô tô nhãn hiệu Toyota Vios, BKS: 20A- 035.68 của anh Đỗ Văn N có giá 1.033.000 đồng; 02 cần gạt mưa phía trước xe ô tô nhãn hiệu Toyota Vios, BKS: 30H- 349.72 của anh Trần Mạnh H có giá 1.333.000 đồng. Do đó cần buộc bị cáo bồi thường cho ông Đỗ Văn N số tiền 1.033.000 đồng, bồi thường cho anh Trần Mạnh H số tiền 1.333.000 đồng.
[7] Về áp dụng biện pháp ngăn chặn: Cần áp dụng Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự, Quyết định tạm giam bị cáo 45 (bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
[8] Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của BLHS; Điều 106 của BLTTHS:
Tịch thu tiêu hủy các vật không còn giá trị sử dụng.
Tịch thu sung quỹ Nhà nước công cụ phương tiện do bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, BKS: 19M- 196.17 cùng đăng ký xe; 01 túi da màu trắng bên trong có 04 chiếc cờ lê bằng kim loại màu trắng, 01 tuốc nơ vít chuôi cầm màu cam và 01 tuốc nơ vít tay cầm màu vàng
Tạm giữ để đảm bảo thi hành án cho bị cáo các vật chứng là tài sản của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội gồm: 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Oppo A59, đã qua sử dụng lắp sim số 0986.374.505; 02 cần gạt mưa xe ô tô (đã qua sử dụng); số tiền 350.000 đồng là tiền bị cáo bán tài sản trộm cắp mà có.
[9] Về án phí, quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, dân sự sơ thẩm theo quy định. Bị cáo, các bị hại có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
[10] Trong vụ án này khi Công an phường B, T biên bản sự việc và thu giữ của bị cáo Ngô Văn L 02 cần gạt mưa xe ô tô. L khai bộ cần gạt mưa trên do L nhặt được ở một khu phế liệu để ven đường, không biết là tài sản của ai. Quá trình điều tra Cơ quan điều tra không xác định được là tài sản của ai, do đó không xem xét, xử lý.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự; Điều 299, 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Tuyên bố bị cáo Ngô Văn L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt: Ngô Văn L 18 (mười tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 23/01/2024.
Miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
2. Áp dụng Điều 329 của Bộ luật tố tụng hình sự: Tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
3. Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo bồi thường cho ông Đỗ Văn N số tiền 1.033.000 đồng (một triệu, không trăm ba mươi ba nghìn đồng), bồi thường cho anh Trần Mạnh H số tiền 1.333.000 đồng (một triệu, ba trăm ba mươi ba nghìn đồng).
Kể từ ngày án có hiệu lực pháp luật và có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
4. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 của BLHS; Điều 106 của BLTTHS.
- * Tịch thu tiêu hủy:
- + 01 bì niêm phong ký hiệu Z bên trong có 01 mũ bảo hiểm màu trắng, loại nửa đầu, có viền màu xanh, ghi nhãn hiệu LIN;
- + 01 bì niêm phong ký hiệu NS1 2003553 bên trong có 01 áo khoác nam giới màu nâu, nhãn hiệu PUMA;
- * Tịch thu sung quỹ Nhà nước:
- + 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, BKS: 19M-196.17, số máy: JA39E1202836, số khung: 3913KY337491, xe bị hư hỏng: Gương chiếu hậu bên phải lệch khỏi vị trí ban đầu, bám dính bùn đất; Đèn xinhan bên trái bị vỡ hư hỏng; Vành bánh xe phía trước bị gộp cong, biến dạng; Xăm xe bị bục rách; Ốp nhựa thân xe có nhiều vết trượt xước bám dính bùn đất;
- + 01 chứng nhận đăng ký xe mô tô số 013896 của xe mô tô BKS: 19M- 196.17;
- + 01 bì niêm phong ký hiệu A2 bên trong có 01 túi da màu trắng bên trong có 04 chiếc cờ lê bằng kim loại màu trắng, 01 tuốc nơ vít chuôi cầm màu cam và 01 tuốc nơ vít tay cầm màu vàng;
- * Tạm giữ để đảm bảo thi hành án:
- + số tiền 350.000 đồng theo Giấy nộp ngày 24/5/2024;
- + 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Oppo A59, đã qua sử dụng lắp sim số 0986.374.505 đựng trong 01 bì niêm phong, ký hiệu A4;
- + 02 cần gạt mưa xe.
(Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 24/5/2024 giữa Công an thành phố S và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Sông Công).
5. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/ 2016/ NQ – UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm nộp ngân sách nhà nước.
Án xét xử sơ thẩm công khai. Báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Đinh Thị Lan Anh |
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ TÒA | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN |
Bản án số 51/2024/HS-ST ngày 20/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÔNG CÔNG, TỈNH THÁI NGUYÊN về hình sự sơ thẩm về tội trộm cắp tài sản
- Số bản án: 51/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÔNG CÔNG, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: 1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự; Điều 299, 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Tuyên bố bị cáo Ngô Văn L phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Xử phạt: Ngô Văn L 18 (mười tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 23/01/2024.
