Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐỨC LINH

TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 51/2024/HS-ST

Ngày: 19 – 8 – 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH, TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Bùi Ngọc Nghĩa.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Mai Thương.

Ông Nguyễn Đức Binh.

- Thư ký phiên toà: Ông Tô Văn Liên - Thư ký Toà án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên toà: Ông Lê Quang Trí - Kiểm sát viên.

Trong ngày 19 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 46/2024/TLST-HS ngày 08 tháng 7 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 55/2024/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 8 năm 2024, đối với bị cáo:

Nguyễn Thanh N

Sinh năm 1992 tại Đồng Nai;

Nơi ĐKHKTT: Ấp T, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai.

Chỗ ở hiện nay: Ấp T, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai.

Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Công giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Thanh H, sinh năm 1954 (Đã chết) và bà Trương Thị T, sinh năm 1956 (Đã chết); Gia đình có 08 anh em, bị cáo là con thứ bảy trong gia đình; có vợ là Nguyễn Thị Ngọc D, sinh năm 1993, có 02 con, con lớn sinh năm 2016, con nhỏ sinh năm 2022.

Tiền án: Tại bản án số 12/2014/HSST ngày 11/02/2014, Nguyễn Thanh N bị Toà án nhân dân huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai xử phạt 5 tháng 30 ngày tù về tội Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có. Chưa được xoá án tích.

Tiền sự: Không.

Bị cáo hiện đang tại ngoại theo lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Lê L, sinh năm 1976 (Vắng mặt).

Nơi cư trú: Thôn B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Nguyễn Ngọc Thảo N1, sinh năm 2000 (Vắng mặt).

Nơi cư trú: Ấp T, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai

- Người làm chứng: Lê S, sinh năm 1973 (Vắng mặt).

Nơi cư trú: Thôn B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 12 giờ 30 phút ngày 03/02/2024, Công an xã Đ, huyện Đ tổ chức lực lượng tuần tra đảm bảo an ninh trật tự trên địa bàn xã. Khi đến khu vực ngã ba giao nhau giữa đường số G và đường số A thuộc thôn B, xã Đ thì phát hiện có một nam thanh niên điều khiển xe mô tô biển số 17K5 – 7751, phía sau có chở 05 cánh cửa khung sắt có biểu hiện nghi vấn nên Công an xã Đ yêu cầu dừng xe lại kiểm tra thì đối tượng trên bỏ chạy. Công an xã Đ tiến hành truy đuổi và bắt đối tượng và đưa người cùng phương tiện về trụ sở Công an xã Đ làm việc.

Vật chứng thu giữ: 03 cánh cửa khung sắt, sơn màu xám, kích thước (54,5 x 128)cm, loại sắt hộp (4x8)cm; 02 cánh cửa khung sắt, sơn màu xám, kích thước (64 x 128)cm, loại sắt hộp (4x8)cm; 01 xe mô tô biển số 17K5 – 7751.

Tại Kết luận số 25/KI -HĐĐG ngày 25/3/2024 của Hội đồng định giá trong tụng hình sự huyện Đ kết luận:

  • - 03 cánh cửa khung sắt, sơn màu xám, kích thước (54,5 x 128)cm, loại sắt hộp (4 x 8)cm có giá trị 3.516.000 đồng;
  • - 02 cánh cửa khung sắt, sơn màu xám, kích thước (64 x 128)cm, loại sắt hộp (4 x 8)cm có giá trị 2.752.000 đồng.
  • - Tổng giá trị tài sản cần định giá là 6.268.000 đồng.

Quá trình điều tra xác định: Vào khoảng trưa ngày 03/02/2024, Nguyễn Thanh N điều khiển xe mô tô biển số 17K5 – 7751 đi từ ấp H, tỉnh Đồng Nai đi đến xã Đ, huyện Đ để tìm tài sản trộm cắp. Nguyễn Thanh N điều khiển xe đi trong các con hẻm ở xã Đ xem nhà ai sơ hở thì sẽ thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Khi đến đường số A thuộc thôn B, xã Đ, huyện Đ thì thấy có một ngôi nhà đang xây dựng bỏ hoang, xung quanh không có ai. Nguyễn Thanh N dừng xe lại, để xe ở ngoài rồi đi bộ vào trong thì không thấy có người trông coi. N đi ra phía sau nhà thì thấy cửa không khóa nên lẻn vào tìm tài sản trộm cắp nhưng cũng không phát hiện được gì. Lúc này, N nảy sinh ý định tháo trộm cánh cửa sắt để bán phế liệu lấy tiền tiêu xài nên đã lần lượt tháo trộm 05 cánh cửa khung sắt bên hông nhà. Sau khi tháo xong, Nguyễn Thanh N để 05 cánh cửa này ở phía sau yên xe mô tô biển số 17K5 – 7751 rồi điều khiển xe mô tô trên rời đi. Đến khoảng 12 giờ 30 phút cùng ngày, khi Nguyễn Thanh N điều khiển xe mô tô biển số 17K5 - 7751 chở theo 05 cánh cửa khung sắt vừa trộm cắp được đến khu vực ngã ba giao nhau giữa đường số G và đường số A thuộc thôn B, xã Đ thì bị lực lượng Công an xã Đ trong lúc đang đi tuần tra phát hiện.

Bị hại Lê L trình bày: Ông đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bị cáo phải bồi thường.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Ngọc Thảo N1 trình bày: Xe mô tô biển số 17K5 7751 là tài sản của chị, việc bị cáo sử dụng xe để đi trộm cắp tài sản thì chị không biết, chị chỉ cho vợ chồng ông N mượn để sử dụng.

Với những tình tiết nêu trên tại Cáo trạng số 45/CT-VKSÐL-HS ngày 03/7/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh đã truy tố bị cáo Nguyễn Thanh N về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

Bị cáo Nguyễn Thanh N thừa nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng đã truy tố.

Đại diện VKSND huyện Đức Linh giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm như đã truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • - Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 173, s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh N mức án từ 6 tháng đến 9 tháng tù.
  • - Về dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường về dân sự nên không buộc bị cáo phải bồi thường.

Ngoài ra đại diện VKS còn đề nghị về xử lý vật chứng, án phí theo quy định của pháp luật.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận.

Bị cáo nói lời sau cùng: Đã nhận ra lỗi lầm của mình và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt nhưng đã có đơn xin xét xử vắng mặt, bị hại, người làm chứng vắng mặt nhưng đã có lời khai làm rõ trong hồ sơ vụ án, không yêu cầu bồi thường về dân sự, không ảnh hưởng đến việc xét xử. Căn cứ Điều 292, 293 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng.

[2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với đơn trình báo; biên bản ghi nhận sự việc; biên bản tiếp nhận nguồn tin về tội phạm; biên bản kiểm tra, xác định nơi xảy ra vụ việc; biên bản làm việc; lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Đủ cơ sở xác định:

[2.1] Về hành vi phạm tội:

Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 03/02/2024, Nguyễn Thanh N đã trộm cắp 05 cánh cửa khung sắt là tài sản của ông Lê L tại thôn B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận với tổng giá trị tài sản chiếm đoạt là 6.268.000 đồng.

[2.2] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác, xâm hại đến trật tự công cộng, gây mất trật tự trị an địa phương. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực nhận thức và điều khiển hành vi của bản thân, biết được việc trộm cắp tài sản là trái pháp luật, sẽ bị trừng trị nhưng vẫn cố ý thực hiện tội phạm.

Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người và đúng tội.

[2.3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:

  • - Về tình tiết tăng nặng: Tại bản án hình sự sơ thẩm số 12/2014/HSST ngày 11/02/2014, Nguyễn Thanh N bị Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai xử phạt 05 tháng 30 ngày tù về tội Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có. Nguyễn Thanh N chưa được xóa án tích do chưa thi hành 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Do đó, bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
  • - Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
  • - Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu.

[2.4] Về hình phạt chính: Đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội và xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, cũng như nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng cần cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích và phòng ngừa chung cho xã hội.

[2.5] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có công việc ổn định, không có tài sản nên không xem xét phạt tiền.

[3] Về xử lý vật chứng:

- 03 cánh cửa khung sắt, sơn màu xám, kích thước (54,5 x 128)cm, loại sắt hộp (4x8)cm và 02 cánh cửa khung sắt, sơn màu xám, kích thước (64 x 128)cm, loại sắt hộp (4x8)cm là tài sản của ông Lê L. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã trả lại cho chủ sở hữu là phù hợp.

- 01 xe mô tô biển số 17K5 – 7751 là phương tiện Nguyễn Thanh N sử dụng để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Qua xác minh xác định xe mô tô trên là của Nguyễn Ngọc Thảo N1 cho vợ chồng N mượn làm phương tiện đi lại. Xe này Nguyễn Ngọc Thảo Nguyên k nhận mua của một cửa hàng xe máy cũ, hiện không còn giấy tờ mua bán. Do đó, cần trả lại cho Nguyễn Ngọc Thảo N1 xe mô tô biển số 17K5 – 7751 là phù hợp.

[4] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường về dân sự nên không xem xét buộc bị cáo phải bồi thường về dân sự.

[5] Xét các đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về tội danh, áp dụng điều luật, hình phạt, trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng là có căn cứ nên cần chấp nhận.

[6] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra và truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, không có người nào có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[7] Về án phí: Bị cáo phạm tội nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh N 6 (Sáu) tháng tù, thời hạn tù được tính kể từ ngày bắt thi hành án.

2. Về vật chứng: Căn cứ điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Trả lại cho Nguyễn Ngọc Thảo N1 xe mô tô biển số 17K5 – 7751.

(Vật chứng trên đang lưu giữ tại chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Linh theo biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 09/7/2024)

3. Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội:

Buộc bị cáo Nguyễn Thanh N phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015:

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (Ngày 19/8/2024). Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Thuận;
  • - VKSND tỉnh Bình Thuận;
  • - VKSND huyện Đức Linh;
  • - Cơ quan CSĐT công an huyện Đức Linh;
  • - Nhà tạm giữ công an huyện Đức Linh;
  • - Chi cục THADS huyện Đức Linh;
  • - Bị cáo; Người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu VP, HSVA./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bùi Ngọc Nghĩa

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 51/2024/HS-ST ngày 19/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH, TỈNH BÌNH THUẬN về hình sự sơ thẩm (trộm cắp tài sản)

  • Số bản án: 51/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Trộm cắp tài sản)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH, TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thanh N "Trộm cắp tài sản"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger