|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HƯNG TỈNH THÁI BÌNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 51/2024/HNGĐ - ST Ngày 19/7/2024 V/v: Tranh chấp hôn nhân và gia đình |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HƯNG, TỈNH THÁI BÌNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Lan Phương
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Hữu Hiển
- Bà Cao Thị Hưng
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thanh Huyền, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình.
Đại diện VKSND huyện Đông Hưng tham gia phiên tòa: Ông Trần Mạnh T - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình sơ thẩm thụ lý số 78/2024/TLST-HNGĐ, ngày 22 tháng 5 năm 2024, về việc: “Tranh chấp Hôn nhân và gia đình”, Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 50/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Chị Bùi Thị T1, sinh năm 1981
- - Bị đơn: Anh Phạm Ngọc T2, sinh năm 1980
- Đều có nơi thường trú: Thôn Q, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình
- Đều có nơi ở hiện nay: Thôn B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình.
- (Tại phiên tòa có mặt chị T1, anh T2)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản hòa giải nguyên đơn chị Bùi Thị T1 là nguyên đơn trình bày: Chị và anh Phạm Ngọc T2 kết hôn do tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình vào ngày 18/02/2011. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hòa thuận đến tháng 1/2023 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung, anh T2 không tôn trọng tôi. Vợ chồng sống ly thân từ tháng 01/2024 đến nay. Nay xác định tình cảm vợ chồng không còn chị xin được ly hôn anh Phạm Ngọc T2.
Về con chung: Chị và anh T2 có 03 con chung là Phạm Thị Phương T3, sinh ngày 13/01/2006; Phạm Thị Phương T4, sinh ngày 27/4/2012, Phạm Ngọc D, sinh ngày 07/10/2015. Ly hôn, chị xin nuôi con Phạm Thị Phương T4 để anh T2 nuôi con Phạm Ngọc D, hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con cùng nhau. Con Phạm Thị Phương T3 đã trưởng thành không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về tài sản: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết. Vợ chồng không nợ ai tài sản gì, không yêu cầu Toà án giải quyết.
Anh Phạm Ngọc T2 là bị đơn trình bày: Anh và chị Bùi Thị T1 kết hôn do tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình vào ngày 18/02/2011. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hòa thuận đến tháng 1/2023 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung, chị T1 không tôn trọng anh. Vợ chồng sống ly thân từ tháng 02/2024 đến nay. Nay xác định tình cảm vợ chồng không còn chị T1 xin ly hôn anh đồng ý ly hôn.
Về con chung: Anh và chị T1 có 03 con chung là Phạm Thị Phương T3, sinh ngày 13/01/2006; Phạm Thị Phương T4, sinh ngày 27/4/2012, Phạm Ngọc D, sinh ngày 07/10/2015. Ly hôn, anh xin nuôi con Phạm Ngọc D để chị T1 nuôi con Phạm Thị Phương T4, hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con cùng nhau. Con Phạm Thị Phương T3 đã trưởng thành không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về tài sản: Năm 2015 anh và chị T1 có xây 01 nhà mái bằng diện tích khoảng 40 m², làm sân, cổng trị giá khoảng 150.000.000 đồng. Các công trình trên được xây dựng trên đất mẹ vợ anh là bà Bùi Thị T5, sinh năm 1953, địa chỉ: Thôn B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình. Ly hôn anh đề nghị Toà án chia đôi tài sản là các công trình vợ chồng anh xây dựng cho anh và chị T1 mỗi người một nửa. Còn đất trả lại cho bà T5. Vợ chồng anh không nợ ai tài sản gì, không yêu cầu Toà án giải quyết.
Ngày 11/6/2024, Toà án đã giao cho anh thông báo nộp tiền tạm ứng án phí với nội dung: Trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày nhận được thông báo nộp tiền tạm ứng án phí anh phải đến trụ sở Cơ quan thi hành án dân sự huyện Đ, tỉnh Thái Bình để nộp số tiền tạm ứng án phí chia tài sản là: 3.750.000 đồng và nộp cho Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình biên lai thu tiền tạm ứng án phí. Hết thời hạn 07 ngày, kể từ ngày nhận được thông báo này, nếu anh không nộp cho Tòa án biên lai thu tiền tạm ứng án phí mà không có lý do chính đáng, thì Tòa án sẽ không giải quyết yêu cầu chia tài sản chung vợ chồng trong vụ án ly hôn của vợ chồng anh.
Đã hết thời hạn 07 ngày như trong thông báo nộp tiền tạm ứng án phí nhưng anh không nộp cho Tòa án biên lai thu tiền tạm ứng án phí, anh không nộp tiền tạm ứng án phí chia tài sản. Anh đã được Toà án giải thích anh không nộp tiền tạm ứng án phí chia tài sản như Toà án yêu cầu thì Toà án không giải quyết tài sản chung của vợ chồng anh. Anh đã hiểu nhưng anh không nộp tiền tạm ứng án phí chia tài sản chung của vợ chồng anh.
Tại phiên tòa:
Nguyên đơn là chị Bùi Thị T1 giữ nguyên quan điểm xin ly hôn anh Phạm Ngọc T2. Chị xin nuôi con Phạm Thị Phương T4 để anh T2 nuôi con Phạm Ngọc D, hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con cùng nhau. Con Phạm Thị Phương T3 đã trưởng thành không yêu cầu Toà án giải quyết. Về tài sản, chị không yêu cầu Tòa án giải quyết. Vợ chồng không nợ ai tài sản gì, không yêu cầu Toà án giải quyết.
Bị đơn là anh Phạm Ngọc T2 trình bày: Chị T1 xin ly hôn, anh không đồng ý ly hôn. Nếu Toà án giải quyết cho chị T1 ly hôn anh thì anh xin nuôi con Phạm Ngọc D để chị T1 nuôi con Phạm Thị Phương T4, hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con cùng nhau. Con Phạm Thị Phương T3 đã trưởng thành không yêu cầu Toà án giải quyết. Về tài sản anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn - chị Bùi Thị T1, bị đơn anh Phạm Ngọc T2 đã chấp hành đúng quy định của pháp luật kể từ khi thụ lý vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án.
Về nội dung: Đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Bùi Thị T1: Xử cho chị T1 được ly hôn anh Phạm Ngọc T2. Về con chung: Đề nghị xử giao con chung Phạm Thị Phương T4, sinh ngày 27/4/2012 cho chị Thường trực t nuôi dưỡng và giao con Phạm Ngọc D, sinh ngày 07/10/2015 cho anh Phạm Ngọc T2 trực tiếp nuôi dưỡng, hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con cùng nhau. Con Phạm Thị Phương T3 đã trưởng thành không yêu cầu Toà án giải quyết. Về tài sản chung, chị T1 không yêu cầu Toà án giải quyết về tài sản, anh T2 yêu cầu Toà án giải quyết về tài sản nhưng anh không nộp tiền tạm ứng án phí chia tài sản chung của vợ chồng anh và tại phiên toà anh không yêu cầu Toà án giải quyết về tài sản, do đó không giải quyết về tài sản chung vợ chồng giữa chị T1 và anh T2.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy:
[1] Về tố tụng: Anh Phạm Ngọc T2 có nơi thường trú tại xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình, căn cứ vào khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình giải quyết vụ án là đúng pháp luật.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị T1 kết hôn với anh T2 do tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình vào ngày 18/02/2011 là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống không hạnh phúc do bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung. Chị T1 xin ly hôn, anh T2 không đồng ý ly hôn. Ủy ban nhân dân xã Đ đề nghị Toà án giải quyết cho chị T1 ly hôn anh T2.
Xét thấy, mâu thuẫn vợ chồng giữa chị T1 và anh T2 đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, vì vậy cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị T1 xử cho chị T1 được ly hôn anh T2 là phù hợp.
[2.2] Về con chung: Chị T1 và anh T2 có 03 con chung là Phạm Thị Phương T3, sinh ngày 13/01/2006; Phạm Thị Phương T4, sinh ngày 27/4/2012, Phạm Ngọc D, sinh ngày 07/10/2015. Ly hôn, chị T1 và anh T2 thoả thuận, chị T1 được nuôi con Phạm Thị Phương T4; anh T2 được nuôi con Phạm Ngọc D. Con Phạm Thị Phương T3 đã trưởng thành không yêu cầu Toà án giải quyết. Con Phương T4 có nguyện vọng ở với mẹ, con Ngọc D1 yêu cả bố và mẹ. Ủy ban nhân dân xã Đ đề nghị giao con Phạm Thị Phương T4 cho chị T1 nuôi dưỡng và giao con Phạm Ngọc D cho anh T2 nuôi dưỡng. Vì vậy, cần giao con Phạm Thị Phương T4 cho chị Thường trực t nuôi dưỡng và giao con Phạm Ngọc D cho anh T2 trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp. Về nghĩa vụ cấp dưỡng, chị T1 và anh T2 không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con cho nhau là do tự nguyện nên cần chấp nhận. Việc thay đổi người nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con được đặt ra khi một trong các bên có đơn yêu cầu. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Con Phạm Thị Phương T3 đã trưởng thành không đặt ra giải quyết.
[2.3] Về tài sản chung: Chị T1 không yêu cầu Toà án giải quyết, anh T2 đề nghị Toà án giải quyết về tài sản. Ngày 11/6/2024, Toà án đã giao cho anh T2 thông báo nộp tiền tạm ứng án phí chia tài sản, nhưng hết thời hạn ấn định trong thông báo nộp tiền tạm ứng án phí anh T2 không nộp cho Tòa án biên lai thu tiền tạm ứng án phí mà không có lý do chính đáng. Anh T2 đã được Toà án giải thích nếu anh không nộp tiền tạm ứng án phí chia tài sản như Toà án yêu cầu thì Toà án không giải quyết tài sản chung của vợ chồng anh. Anh T2 đã hiểu nhưng anh không nộp tiền tạm ứng án phí chia tài sản chung của vợ chồng anh. Tại phiên toà, anh T2 không yêu cầu giải quyết về tài sản. Vì vậy, Toà án không giải quyết về tài sản chung vợ chồng giữa chị T1 và anh T2.
[3]Về án phí: Chị T1 phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
[4] Về quyền kháng cáo: Chị T1 và anh T2 có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; Điều 39; Điều 266; Điều 147; Điều 271; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 56; Điều 58; Điều 69; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- 1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Bùi Thị T1 được ly hôn anh Phạm Ngọc T2.
- 2. Về con chung: Xử giao con chung Phạm Thị Phương T4, sinh ngày 27/4/2012 cho chị Bùi Thị Thường trực t1 nuôi dưỡng và giao con Phạm Ngọc D, sinh ngày 07/10/2015 cho anh Phạm Ngọc T2 trực tiếp nuôi dưỡng. Chấp nhận sự tự nguyện của chị T1 và anh T2 không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con cho nhau. Việc thay đổi người nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con được đặt ra khi một trong các bên có đơn yêu cầu. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Con Phạm Thị Phương T3, sinh ngày 13/01/2006 đã trưởng thành không đặt ra giải quyết.
- 3. Về tài sản chung: Tòa án không giải quyết về tài sản.
- 4. Về án phí: Chị T1 phải chịu 300.000 đồng tiền án phí ly hôn sơ thẩm. Chuyển số tiền 300.000 đồng chị T1 đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí số 0003198 ngày 22/5/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Đông Hưng thành tiền án phí ly hôn sơ thẩm.
- 5. Về quyền kháng cáo: Chị T1, anh T2 có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Phạm Thị Lan Phương |
Bản án số 51/2024/HNGĐ - ST ngày 19/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HƯNG, TỈNH THÁI BÌNH về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 51/2024/HNGĐ - ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HƯNG, TỈNH THÁI BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn T - T1
