Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 51/2024/HS-ST

Ngày: 19-06-2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Đoàn Thanh Trúc.

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Bà Đinh Kim Hoàng.
  2. Bà Võ Thanh Nga.

- Thư ký phiên tòa: Ông Tạ Mạnh Hùng là Thư ký Toà án nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Trần Thủy Quỳnh Trang - Kiểm sát viên

Ngày 19 tháng 06 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 58/TLST-HS ngày 23 tháng 05 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 68/2024/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 06 năm 2024 đối với bị cáo:

Bùi Văn T; sinh ngày 22 tháng 08 năm 1984 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú: 4 K, Phường C, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 01/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn T1 và bà Đỗ Thị T2, có vợ tên Nguyễn Thị Mỹ N; tiền án: Không; tiền sự: Không.

Bắt tạm giam ngày 20/12/2023 “có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt”.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Bùi Văn T là đối tượng nghiện ma túy. Do bản thân có nhu cầu sử dụng ma túy nên vào lúc 15 giờ 30 phút ngày 20/12/2023, Bùi Văn T điều khiển xe gắn máy biển số 54 HA-0175 đến hẻm C N, Phường A, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh để mua ma túy về sử dụng. Tại đây, Bùi Văn T gặp Thạch Phương Yến N1 hỏi mua 02 tép ma túy, loại Heroin với giá là 190.000 đồng. Sau khi đưa tiền cho Thạch Phương Yến N1, Bùi Văn T lấy 02 tép ma túy loại Heroin cất giấu vào trong túi áo phía trước bên trái và điều khiển xe gắn máy chạy về nhà. Khi Bùi văn T3 chạy xe đến trước nhà số A Xóm C, Phường A, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh thì bị Tổ Tuần tra Công an Q, Thành phố Hồ Chí Minh phát hiện có biểu hiện nghi vấn nên yêu cầu kiểm tra. Qua kiểm tra, Công an phát hiện 02 đoạn ống nhựa được hàn kín hai đầu chứa chất bột màu trắng để bên trong túi áo phía trước bên trái Bùi Văn T đang mặc. Do nghi vấn là ma túy nên Tổ Tuần tra Công an Q, Thành phố Hồ Chí Minh thu giữ vật chứng, lập biên bản phạm tội quả tang và đưa về Bùi Văn T về trụ sở Công an P, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh để điều tra làm rõ.

Tại Kết luận giám định số: 253/KL-KTHS ngày 29/12/2023 của Phòng K Công an thành phố H, kết luận: Bột màu trắng được ký hiệu mẫu m cần giám định là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng 0,1584 g (không phẩy một năm tám bốn gam) loại Heroine (H), có tên khoa học là D, được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/08/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất.

Tại Cáo trạng số 58/CT-VKS Q.4 ngày 21/05/2024 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo Bùi Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

  • - Bị cáo Bùi Văn T có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng và xin được giảm nhẹ một phần hình phạt.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh trình bày lời luận tội: Giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017. Đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo từ 15 tháng tù đến 18 tháng tù giam và miễn hình phạt bổ sung. Về xử lý vật chứng: Đề nghị: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) gói niêm phong bên ngoài có có dấu vân tay ghi tên Bùi Văn T và hình dấu Công an P, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh bên trong chứa ma túy còn lại sau giám định; Trả lại Bùi Văn T 01 (một) điện thoại di động hiệu Itel Value 100, màu đen, đã qua sử dụng, số imeil: 358625101786186; Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 (một) xe gắn máy hiệu SAVI (kiểu dáng Wave), màu đen, biển số 54 HA-0175, số khung RNBWCB1NB71003311, số máy RNB1P39FMB-00003311, đã qua sử dụng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 4, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Tại các biên bản tự khai, biên bản lấy lời khai của bị cáo đều trình bày lời khai hoàn toàn tự nguyện. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Ngày 17/06/2024, Tòa án nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh nhận được Đơn yêu cầu xét xử vắng mặt của bị cáo Bùi Văn T có đóng dấu xác nhận của Công an Q, Thành phố Hồ Chí Minh với lý do: Bị cáo Bùi Văn T đang được điều trị bệnh tại Bệnh viện P1 - Thành phố Hồ Chí Minh với chẩn đoán tình trạng bệnh: Suy hô hấp/Nhiễm trùng huyết từ đường hô hấp/Viêm phổi/Theo dõi lao phổi tái phát/HIV giai đoạn 4. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận và xét xử vắng mặt đối với bị cáo Bùi Văn T theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 290 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2021.

[2] Tại Cơ quan điều tra cũng như tại đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, bị cáo Bùi Văn T thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng đã nêu. Qua lời khai của bị cáo, đối chiếu với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án như biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định có đủ cơ sở để kết luận: Vào khoảng 16 giờ 00 phút ngày 20/12/2023, tại trước nhà số A Xóm C, Phường A, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh, Tổ Tuần tra Công an Q, Thành phố Hồ Chí Minh đã phát hiện, bắt quả tang Bùi Văn T cất giấu 0,1584 gam ma túy ở thể rắn, loại Heroin nhằm mục đích sử dụng. Như vậy, hành vi của bị cáo Bùi Văn T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Đối với Thạch Phương Yến N1 là người do bị cáo khai đã bán ma túy tại hẻm C N, Phường A, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh đã bị Cơ quan điều tra Công an Thành phố H khởi tố và tạm giam về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” trong đó có hành vi bán ma túy cho Bùi Văn T. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[3] Hành vi của các bị cáo là nghiêm trọng, gây nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến chính sách độc quyền quản lý Nhà nước về chất ma túy, xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội. Đây là nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm và tệ nạn khác, ảnh hưởng xấu đến nhiều mặt của đời sống xã hội. Vì vậy, cần áp dụng hình phạt tương xứng để răn đe, giáo dục các bị cáo cũng như phòng ngừa chung tội phạm cho xã hội.

[4] Về nhân thân: Bị cáo Bùi Văn T không có tiền án, không có tiền sự. Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[5] Về xử lý vật chứng:

  • - Thu giữ của Bùi Văn T 01 (một) gói niêm phong bên ngoài có dấu vân tay ghi tên Bùi Văn T và hình dấu Công an P, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh bên trong chứa ma túy còn lại sau giám định. Xét, đây là vật cấm lưu hành, nên tịch thu tiêu hủy.
  • - Thu giữ của Bùi Văn T 01 (một) điện thoại di động hiệu Itel Value 100, màu đen, đã qua sử dụng, số imei: 358625101786186. Xét, đây là tài sản cá nhân nên trả lại cho bị cáo.
  • - Thu giữ của Bùi Văn T 01 (một) xe gắn máy hiệu SAVI (kiểu dáng Wave), màu đen, biển số 54 HA-0175, số khung RNBWCB1NB71003311, số máy RNB1P39FMB-00003311, đã qua sử dụng. Tại Phiếu trả lời xác minh xe của Công an Q, Thành phố Hồ Chí Minh thì xe gắn máy trên do ông Tào Quang H đứng tên chủ sở hữu. Tại Cơ quan điều tra Công an Q, Thành phố Hồ Chí Minh, Tào Quang H khai nhận đã mua xe gắn máy trên tại cửa hàng xe gắn máy trên đường A, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh nhưng không nhớ địa chỉ cụ thể với giá là 8.000.000 đồng vào năm 2009. Sau đó, ông Tào Quang H đã bán lại cho Bùi Văn T với giá 4.000.000 đồng. Quá trình điều tra, bị cáo Bùi Văn T khai nhận đã mua xe gắn máy trên của ông Tào Quang H với giá 4.000.000 đồng vào năm 2009, có làm giấy tờ mua bán xe nhưng viết bằng tay, không công chứng chứng thực và đã sử dụng xe gắn máy trên để đi mua ma túy. Tuy nhiên, do thời gian đã quá lâu nên bị cáo không cung cấp được giấy tờ mua bán xe. Xét, đây là phương tiện do bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội nên tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước.

[6] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2021; Luật phí và lệ phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017:

    Xử phạt: Bùi Văn T, 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù giam về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

    Thời hạn tù tính từ ngày 20 tháng 12 năm 2023.

  2. Căn cứ khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2021 và Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017:
    • - Tịch thu tiêu hủy 01 (một) gói niêm phong bên ngoài có dấu vân tay ghi tên Bùi Văn T và hình dấu Công an P, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh bên trong chứa ma túy còn lại sau giám định.
    • - Trả lại Bùi Văn T 01 (một) điện thoại di động hiệu Itel Value 100, màu đen, đã qua sử dụng, số imei: 358625101786186.
    • - Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 (một) xe gắn máy hiệu SAVI (kiểu dáng Wave), màu đen, biển số 54 HA–0175, số khung RNBWCB1NB71003311, số máy RNB1P39FMB-00003311, đã qua sử dụng.
    • (Vật chứng được tạm giữ theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số 63/2024 ngày 27/05/2024 giữa Công an Q và Chi cục Thi hành án dân sự Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh).
  3. Căn cứ Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2021; Luật phí và lệ phí:

    Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).

  4. Căn cứ Điều 331 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2021:

    Bị cáo được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo; (1)
  • - CA TP.HCM; (1)
  • - TAND TP.HCM; (1)
  • - VKSND TP.HCM; (1)
  • - Sở Tư pháp TP.HCM; (2)
  • - VKSND Quận 4; (1)
  • - Công An Quận 4; (1)
  • - Trại tạm giam CATP.HCM; (3)
  • - Chi cục THADS Quận 4; (1)
  • - Lưu VT, hồ sơ. (2)

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đỗ Đoàn Thanh Trúc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 51/2024/HS-ST ngày 19/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 51/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bui Van T
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger