Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN SƠN ĐỘNG

TỈNH BẮC GIANG

Bản án số: 51/2023/HS-ST

Ngày 21 - 11 - 2023

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN ĐỘNG, TỈNH BẮC GIANG

-

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hằng.

Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Xuân Hùng, bà Hoàng Thị Chung.

Thư ký phiên tòa: Ông Lê Văn Khiết – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Chuyên - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 11 năm 2023, Tòa án nhân dân huyện Sơn Động xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 45/2023/TLST-HS ngày 26 tháng 10 năm 2003, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 46/2023/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 11 năm 2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Bàn Văn T. Tên gọi khác: Không. Giới tính: Nam; Sinh ngày 25 tháng 7 năm 1995; Nơi sinh và cư trú: Tổ dân phố T, thị trấn T, huyện S, tỉnh Bắc Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Dao; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tự do. Trình độ học vấn: 12/12; Đảng, chính quyền, đoàn thể: Không.

Họ và tên cha: Bàn Văn M, sinh năm 1974; Họ và tên mẹ: Triệu Thị C, sinh năm 1976; Họ tên vợ: Triệu Thị Ngọc Á, sinh năm 1999. Hiện đều ở cùng Tổ dân phố T, thị trấn T, huyện S, tỉnh Bắc Giang; Bị can có 02 con, lớn sinh năm 2018, nhỏ sinh năm 2020; Bị can có 02 anh em ruột, bản thân là thứ nhất trong gia đình.

Tiền án: Tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt quả tang tạm giữ, tạm giam từ ngày 31/7/2023 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện S, tỉnh Bắc Giang. Có mặt tại phiên tòa.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  1. Chị Triệu Thị Ngọc Á, sinh năm 1999. Có mặt.

    Địa chỉ: TDP T, thị trấn T, huyện S, tỉnh Bắc Giang.

  2. Anh Nguyễn Duy T1, sinh năm 1989. Có đơn xin vắng mặt.

    Địa chỉ: TDP Đ, thị trấn T, huyện S, tỉnh Bắc Giang.

* Người chứng kiến: Anh Ngô Hồng P, sinh năm 1987. Vắng mặt.

Địa chỉ: Thôn T, xã Đ, huyện S, tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Bàn Văn T là đối tượng nghiện ma túy, khoảng 10 giờ ngày 31/7/2023, khi T đang điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 98B3- 777.33 đi từ khu chợ thuộc Tổ dân phố Đ, thị trấn T, huyện S để về nhà thuộc Tổ dân phố T, thị trấn T thì gặp một thanh niên tên T1 (không rõ họ, năm sinh cùng thị trấn T) đang đi bộ theo hướng ngược chiều, T1 gọi T lại nói chuyện và rủ T đi đến xã B, huyện L để mua ma túy về sử dụng, T đồng ý. Sau đó T điều khiển xe mô tô có đặc điểm trên chở T1 đến khu vực cánh đồng (cách trạm soát vé xe Buýt khoảng 100m, bên phải Quốc lộ C theo hướng từ huyện S đi huyện L) thuộc thôn B, xã B, huyện L thì dừng xe lại, T1 đưa cho T số tiền 500.000 đồng, T cầm tiền đi bộ lên phía trước để mua ma túy, còn T1 ngồi ở xe đợi. Khi T đi được khoảng 50m thì gặp một người đàn ông (không rõ họ, tên, tuổi, địa chỉ cụ thể ở đâu) tầm khoảng 40 tuổi, đeo khẩu trang, đầu đội mũ lưỡi trai, che kín mặt, T hỏi “Anh ơi cho em lấy hàng”, người đàn ông hỏi “Lấy bao nhiêu” T bảo “Cho em lấy năm trăm trắng” (tức là mua 500.000 đồng, loại ma túy Heroine) người đàn ông đó gật đầu. T đưa cho người đàn ông này số tiền 500.000 đồng, người đàn ông đưa cho T 01(một) túi nilon mầu trắng, được hàn kín và 01 (một) tờ tiền Việt Nam mệnh giá 1.000đ được gói kín, bên trong đều đựng chất cục bột mầu trắng. T cất tờ tiền Việt Nam mệnh giá 1.000₫ vào trong túi áo trước ngực bên phải và cho túi nilon mầu trắng được hàn kín vào trong vỏ bao thuốc lá Thăng Long mầu vàng rồi cho vào túi áo trước ngực bên trái đang mặc. Sau đó, T đi bộ quay lại chỗ T1 và điều khiển xe mô tô chở T1 ngồi sau về huyện S, khi T và T1 về đến cửa hàng bán lẻ xăng dầu số A thuộc thôn T, xã C, huyện S để mua xăng thì bị Tổ công tác của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện S tiếp cận kiểm tra. Đối tượng T1 nhảy xuống xe bỏ chạy. Kiểm tra trên người Bàn Văn T phát hiện 01 (một) tờ tiền Việt Nam, mệnh giá 1.000đ (một nghìn đồng) được gói lại, bên trong đựng chất cục bột mầu trắng nghi là ma túy, trong túi áo ngực bên phải T đang mặc; 01 (một) túi nilon mầu trắng, được hàn kín bên trong đựng chất cục bột mầu trắng nghi ma túy đựng trong 01 (một) vỏ bao thuốc lá T, mầu vàng trong túi ngực áo bên trái của T đang mặc. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện S đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Bàn Văn T và lập biên bản niêm phong, thu giữ tại chỗ đối với số đồ vật tài liệu nêu trên vào phong bì thư ký hiệu số “01” có hình dấu của Công an xã C và chữ ký của những người có mặt tại nơi bắt giữ. Sau đó đưa Bàn Văn T về Công an huyện S để điều tra làm rõ.

Cùng ngày, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện S tiến hành khám xét khẩn cấp tại chỗ ở của Bàn Văn T tại Tổ dân phố T, thị trấn T, huyện S. Kết quả khám xét không thu giữ đồ vật, tài liệu gì liên quan đến vụ án.

Ngày 01/8/2023, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện S đã ra Quyết định trưng cầu Phòng K Công an tỉnh B giám định chất nghi là ma túy thu giữ trong quá trình bắt người phạm tội quả tang đối với Bàn Văn T.

Tại Kết luận giám định số 1425/KL- KTHS, ngày 04/8/2023 của Phòng K Công an tỉnh B, tại mục V kết luận: Trong 01(một) phong bì có ký hiệu “01” được niêm phong gửi giám định.

  • Chất cục bột mầu trắng đựng trong 01 (một) túi ni lon mầu trắng được hàn kín là ma túy, có khối lượng 0,146 gam, loại Heroine.
  • Chất cục bột mầu trắng đựng trong 01 (một) tờ tiền mệnh giá 1000 đồng được gói lại là ma túy, có khối lượng 0,122 gam, loại Heroine.

Tại bản cáo trạng số bản Cáo trạng số 48/CT-VKS-HS ngày 25 tháng 10 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang đã truy tố Bàn Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Động trình bày luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt: Bị cáo Bàn Văn T từ 15-18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày 31/7/2023.

Về xử lý vật chứng: áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy chất cục bột mầu trắng đựng trong 01 túi nilon mầu trắng được hàn kín là chất ma túy loại Heroine và tiền chất còn lại sau giám định 0,129 gam; chất cục bột màu trắng đựng trong 01 (một) tờ tiền mệnh giá 1.000₫ được gói lại là chất ma túy Heroine tiền chất còn lại sau giám định là 0,092 gam. Đều được niêm phong trong phong bì thư ký hiệu số “01”, có hình dấu của Phòng K Công an tỉnh B và chữ ký của Giám định viên và cơ quan trưng cầu hoàn lại sau giám định.

Tịch thu sung quỹ nhà nước tờ tiền mệnh giá 1000 đồng.

Trả lại chị Triệu Thị Ngọc Á 01(một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave, mẫu sơn đen, bạc, biển kiểm soát 98B3- 777.33,

Về án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Sau khi đại diện Viện kiểm sát luận tội, bị cáo không tranh luận.

Lời nói sau cùng: Bị cáo không nói gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Tại các bản tự khai, biên bản lấy lời khai, biên bản hỏi cung bị cáo đã trình bày nội dung lời khai là hoàn toàn tự nguyện. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.

[2] Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại Cơ quan cảnh sát điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy đã có đủ cơ sở kết luận: Hồi 12 giờ 15 phút ngày 31/7/2023, tại trước cửa hàng B1 số A thuộc thôn T, xã C, huyện S, tỉnh Bắc Giang, khi Bàn Văn T đang có hành vi Tàng trữ trái phép 0,268 gam ma túy loại Heroine thì bị Tổ công tác của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện S phát hiện kiểm tra, bắt quả tang thu giữ toàn bộ vật chứng.

Hành vi của Bàn Văn T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chế độ quản lý độc quyền các chất ma tuý của Nhà nước, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an ở địa phương và đời sống xã hội. Ma tuý là hiểm hoạ của loài người, làm xói mòn nếp sống văn minh và đạo đức xã hội. Ma tuý còn làm lây lan các loại dịch bệnh xã hội, ngoài ra ma túy còn là nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm nguy hiểm khác. Do đó cần phải xử lý nghiêm minh đối với bị cáo nhằm giáo dục riêng cũng như để đấu tranh phòng ngừa đối với loại tội phạm này nói chung.

Như vậy Cáo trạng của Viện Kiểm sát truy tố bị cáo Bàn Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c, khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là có căn cứ.

[3] Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy:

  • Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân tốt.
  • Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.
  • Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[4] Xét tính chất vụ án, mức độ và hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát mới đủ điều kiện để cải tạo bị cáo thành công dân tốt, có ích cho xã hội. Do vậy, đề nghị của đại diện viện kiểm sát về áp dụng pháp luật, hình phạt và các vấn đề khác liên quan đến vụ án là có căn cứ.

Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự, ngoài hình phạt chính, bị cáo còn có thể bị phạt tiền từ 5 triệu đồng đến 500 triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Tuy nhiên HĐXX xét thấy bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có nghề nghiệp ổn định, là người dân tộc thiểu số thường xuyên sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn, nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[5] Đối với người đàn ông tên là T1 (không rõ, họ và địa chỉ cụ thể cùng ở thị trấn T, huyện S) mà T khai là người cùng với T đi đến xã B, huyện L và cho T 500.000 đồng để mua ma túy, Cơ quan điều tra xác minh tại thị trấn Tây Yên T có người tên là Nguyễn Duy T1, sinh năm 1989 tại xã Đ, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc. Nơi ở hiện tại. Tổ dân phố Đ, thị trấn T, huyện S, tỉnh Bắc Giang, T1 khai nhận ngày 31/7/2023, T1 ở nhà làm vườn, không đi đâu, không gặp và không đưa 500.000 đồng cho Bàn Văn T. Cơ quan điều tra đã tiến hành cho Bàn Văn T và Nguyễn Duy T1 đối chất, kết quả đối chất T và T1 vẫn giữ nguyên lời khai của mình, ngoài lời khai của T ra không có tài liệu, chứng cứ nào khác chứng minh T1 có liên quan đến hành vi phạm tội của Bàn Văn T nên Cơ quan điều tra không xử lý đối với Nguyễn Duy T1 là có căn cứ.

Đối với người đàn ông do T khai đã bán ma túy cho T tại xã B, huyện L, do T khai không biết rõ họ, tên, tuổi và địa chỉ cụ thể của người này nên Cơ quan điều tra không xác định được nhân thân, lai lịch nên không có căn cứ để xác minh và xử lý.

Đối với chị Triệu Thị Ngọc Á, sinh năm 1999, trú tại Tổ dân phố T, thị trấn T, huyện S. Quá trình điều tra xác định Á là chủ sở hữu hợp pháp của chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave, mầu sơn đen, bạc, biển kiểm soát 98B3 - 777.33 (được bố mẹ đẻ mua lại tặng cho chị Á dịp sinh nhật). Khi T sử dụng xe mô tô của chị Á đi mua ma túy tại xã B, huyện L, chị Á không biết nên Cơ quan điều tra không xem xét xử lý là có căn cứ.

[6] Về xử lý vật chứng:

Đối với chất cục bột mầu trắng đựng trong 01 túi nilon mầu trắng được hàn kín là chất ma túy loại Heroine và tiền chất còn lại sau giám định 0,129 gam và chất cục bột màu trắng đựng trong 01 (một) tờ tiền mệnh giá 1.000đ được gói lại là chất ma túy Heroine tiền chất còn lại sau giám định là 0,092 gam. Đều được niêm phong trong phòng bì thư ký hiệu số “01”, có hình dấu của Phòng K Công an tỉnh B và chữ ký của Giám định viên và cơ quan trung cầu hoàn lại sau giám định là chất cấm cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 bao thuốc lá Thăng Long màu vàng, cũ đã qua sử dụng được niêm phong trong phong bì thư ký hiệu “02” không có giá trị cần tịch thu, tiêu hủy.

Đối với tờ tiền mệnh giá 1000 đồng là tiền do Ngân hàng N phát hành là vật dùng để gói ma túy cần tịch thu sung quỹ nhà nước.

Đối với: 01(một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave, mầu sơn đen, bạc, biển kiểm soát 98B3- 777.33 là tài sản của chị Triệu Thị Ngọc Á, Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay xác định Á là chủ sở hữu hợp pháp của chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave, mầu sơn đen, bạc, biển kiểm soát 98B3 - 777.33 (được bố mẹ đẻ mua lại tặng cho chị Á dịp sinh nhật). Khi T sử dụng xe mô tô đi mua ma túy tại xã B, huyện L, chị Á không biết nên cần trả lại chị Á là có căn cứ.

[7] Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống tại vùng kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn nên cần áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

[8] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 106, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm đ khoản 1 Điều12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Xử phạt bị cáo Bàn Văn T 01 (Một) năm 04 (B) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày 31/7/2023. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
  2. Về xử lý vật chứng:
    1. Tịch thu tiêu hủy chất cục bột mầu trắng đựng trong 01 túi nilon mầu trắng được hàn kín là chất ma túy loại Heroine và tiền chất còn lại sau giám định 0,129 gam và chất cục bột màu trắng đựng trong 01 (một) tờ tiền mệnh giá 1.000₫ được gói lại là chất ma túy Heroine tiền chất còn lại sau giám định là 0,092 gam được niêm phong trong phòng bì thư ký hiệu số “01", có hình dấu của Phòng K Công an tỉnh B và chữ ký của Giám định viên và cơ quan trưng cầu hoàn lại sau giám định.

      Tịch thu tiêu hủy 01 bao thuốc lá Thăng Long màu vàng, cũ đã qua sử dụng được niêm phong trong phong bì thư ký hiệu “02”.

    2. Tịch thu sung công quỹ nhà nước tờ tiền mệnh giá 1000 đồng.
    3. Trả lại chị Triệu Thị Ngọc Á 01(một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave, mầu sơn đen, bạc, biển kiểm soát 98B3- 777.33.
  3. Về án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Bàn Văn T.
  4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc 15 ngày kể từ ngày bản án được niêm yết công khai theo quy định pháp luật.

Án xử công khai sơ thẩm./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND huyện Sơn Động;
  • - Công an huyện Sơn Động;
  • - Chi cục THADS huyện Sơn Động;
  • - Bị cáo;
  • - UBND thị trấn Tây Yên Tử, huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang;
  • - Lưu: VP và hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hoàng Thị Hằng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 51/2023/HS-ST ngày 21/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN ĐỘNG, TỈNH BẮC GIANG về tàng trữ trái phép chất ma túy (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 51/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/11/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN ĐỘNG, TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bàn Văn T tàng trữ ma túy bị bắt quả tạng, bị xử phạt 01 năm 4 tháng tù
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger