TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT TỈNH LÂM ĐỒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 51/2023/DS-ST
Ngày: 16-11-2023.
V/v: “Tranh chấp hợp đồng
vay tài sản”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT, TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Thanh Thủy
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Minh Sơn
Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Ngọc Hoàng Anh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà Cao Thị Bích Hợp – Kiểm sát viên
Ngày 16 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 67/2023/TLST-DS ngày 20/3/2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 103/2023/QĐXX-DS ngày 22 tháng 9 năm 2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Vợ chồng ông Phạm Văn T, sinh năm: 1967
Bà Nguyễn Thị N, sinh năm: 1974
Địa chỉ: thôn D, xã T, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng. - Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Bà Lê Thị Kim Á, sinh năm: 1979, địa chỉ: số B đường T, phường D, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng. Là người đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền ngày 20/3/2023).
- Bị đơn:
1. Bà Trần Thị D, sinh năm: 1975
Địa chỉ: tổ A, thôn F, xã T, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng.
2. Anh Triệu Quang C, sinh năm: 1997
Địa chỉ: tổ A, thôn F, xã T, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng.
Ông T, bà N, bà Á, bà D có mặt; anh C có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn ông Phạm Văn T, bà Nguyễn Thị N, và tại biên bản đối chất, hòa giải bà Lê Thị Kim Á là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Phạm Văn T, bà Nguyễn Thị N trình bày: Ngày 01/8/2019, bà Trần Thị D và anh Triệu Quang C có vay của ông T, bà N số tiền 700.000.000đ. Bà D, anh C có viết giấy vay tiền và hẹn đến ngày 01/12/2019 sẽ trả tiền gốc, còn tiền lãi trả hàng tháng. Sau đó, bà D và anh C có trả tiền gốc là 350.000.000đ, cụ thể: 50.000.000đ tháng 8/2020, 50.000.000đ tháng 8/2021, 100.000.000₫ ngày 20/4/2022, 100.000.000₫ ngày 24/4/2022, 3.500.000₫ vào ngày 23/4/2022, 30.000.000đ ngày 30/6/2022 và 16.500.000₫ trả trong nhiều lần, không trả lãi. Do đó, bà D, anh C còn nợ: 700.000.000đ gốc – 350.000.000₫ (đã trả) = 350.000.000đ gốc và lãi cụ thể:
- - Số tiền 350.000.000đ tiền gốc đã trả kể từ ngày 01/12/2019 đến ngày 30/6/2022: 350.000.000₫ x 1,4% x 30 tháng = 147.000.000₫.
- - Số tiền 350.000.000đ tiền gốc chưa trả: 350.000.000₫ x 1,4% x 39 tháng = 191.100.000₫.
Tổng cộng: 350.000.000đ + 147.000.000đ + 191.100.000₫ = 688.100.000₫ và lãi của số tiền 350.000.000đ tiền gốc chưa trả đến khi xét xử sơ thẩm.
Bà Trần Thị D trình bày: vào ngày 01/8/2019, bà và anh Triệu Quang C (con trai của bà D) có vay của ông T, bà N số tiền 700.000.000đ, bà và anh C có viết giấy vay, thỏa thuận thời gian trả là ngày 01/12/2019. Trong thực tế, bà đã trả cho bà N 600.000.000đ, cụ thể: 50.000.000đ tháng 8/2020, 50.000.000₫ tháng 8/2021, 100.000.000₫ ngày 20/4/2022, 100.000.000₫ ngày 24/4/2022, 300.000.000đ ngày 30/6/2022 và 3.500.000đ tiền lãi vào ngày 23/4/2022. Do đó, bà chỉ còn nợ bà N, ông T số tiền 100.000.000đ.
Anh Triệu Quang C trình bày: anh thừa nhận có ký vào giấy vay tiền ngày 01/8/2019 với số tiền 700.000.000đ của ông T, bà N. Tuy nhiên, do anh là con trai của bà Trần Thị D nên bà D bảo ký vào giấy chứ thực tế anh không nhận số tiền này đây là số tiền của mẹ anh là bà D vay. Do đó, việc bà D trả tiền vay như thế nào thì anh không biết.
Tòa án đã tiến hành hòa giải nhưng không tiến hành hòa giải được.
Tại phiên tòa hôm nay,
Ông T, bà N yêu cầu bà Trần Thị D và anh Triệu Quang C liên đới trả số tiền 350.000.000đ gốc và tiền lãi là từ ngày 01/01/2022 đến ngày xét xử với lãi suất 10%/tháng trừ 10.500.000đ tiền lãi đã trả. Xin rút yêu cầu khởi kiện về số tiền lãi từ ngày 01/9/2019 đến ngày 31/12/2021 và số tiền lãi của số tiền 350.000.000đ gốc đã trả là 147.000.000đ.
Bị đơn bà Trần Thị D đồng ý thanh toán cho ông T, bà N số tiền 350.000.000đ gốc và tiền lãi từ ngày 01/01/2022 đến ngày xét xử, với lãi suất 10%/tháng nhưng trừ 10.500.000đ tiền lãi đã trả.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của các đương sự trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án; Và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án: đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bà D và anh C phải có trách nhiệm liên đới trả cho bà N, ông T số tiền nợ gốc là 350.000.000₫ và tiền lãi với mức lãi suất 10%/tháng kể từ ngày 01/01/2022 đến 16/11/2023; Đình chỉ yêu cầu khởi kiện về lãi từ ngày 01/9/2019 đến ngày 31/12/2021; Đình chỉ yêu cầu khởi kiện về số tiền lãi 147.000.000đ của số tiền 350.000.000₫ gốc đã trả.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Bị đơn anh Triệu Quang C có đơn xin xét xử vắng mặt. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh C là đúng quy định của pháp luật. Xuất phát từ việc giữa ông T, bà N và bà D, anh C có hợp đồng vay tiền, song do bà D và anh C vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ nên phát sinh tranh chấp. Do vậy, có cơ sở xác định quan hệ tranh chấp là “Tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản”. Bị đơn có nơi cư trú tại thành phố Đ nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt.
[2] Xét yêu cầu của nguyên đơn: ông Phạm Văn T, bà Nguyễn Thị N yêu cầu bà D, anh C liên đới trả số tiền 350.000.000₫ gốc và tiền lãi từ ngày 01/01/2022 đến ngày xét xử. Quá trình giải quyết vụ án, bà D thừa nhận vào ngày 01/8/2019 có vay của vợ chồng ông T, bà N số tiền 700.000.000đ, bà D và anh C có viết và ký vào giấy vay tiền, thời hạn trả vào ngày 01/12/2019. Tại phiên tòa, ông T, bà N và bà D đều xác định bà D đã trả 350.000.000đ tiền gốc và 10.500.000đ tiền lãi nên còn nợ: 350.000.000₫ gốc và tiền lãi từ ngày 01/01/2022 đến ngày 16/11/2023 (ngày xét xử sơ thẩm) với lãi 10%/năm trừ 10.500.000đ tiền lãi đã trả là (350.000.000₫ x 01 năm 10 tháng 15 ngày x 10%/năm) - 10.500.000đ = 55.124.999đ làm tròn là 55.125.000đ. Như vậy, ông T, bà N và bà D đã thống nhất về số tiền nợ gốc 350.000.000đ và tiền lãi là 55.125.000đ, tổng cộng là 405.125.000đ. Riêng đối với anh C, tại bản tự khai và đơn xin xét xử vắng mặt anh C xác định tuy có ký vào giấy vay tiền nhưng toàn bộ số tiền trên mẹ anh là bà D sử dụng nên không liên quan gì đến anh. Xét thấy, anh C là người ký vào giấy vay cùng với bà D, tại thời điểm ký vào giấy vay ngày 01/8/2019 thì anh C là người đã thành niên. Do vậy, việc ông T, bà N yêu cầu bà D và anh C liên đới trả số tiền 405.125.000₫ là có căn cứ nên cần chấp nhận.
Ông T, bà N xin rút 1 phần yêu cầu khởi kiện về số tiền lãi từ ngày 01/9/2019 đến ngày 31/12/2021 và số tiền lãi của số tiền 350.000.000₫ gốc đã trả là 147.000.000đ. Do đó, đình chỉ yêu cầu khởi kiện của ông T, bà N về số tiền lãi từ ngày 01/9/2019 đến ngày 31/12/2021 và số tiền lãi của số tiền 350.000.000đ gốc đã trả là 147.000.000đ.
[3] Về án phí: Buộc bà D, anh C phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trên số tiền phải thanh toán cho ông T, bà N theo quy định Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, Điều 36, khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;
Căn cứ các Điều 463, 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, án phí và lệ phí Tòa án.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Phạm Văn T, bà Nguyễn Thị N về việc: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” đối với bà Trần Thị D, anh Triệu Quang C.
Buộc bà Trần Thị D và anh Triệu Quang C có trách nhiệm liên đới thanh toán cho ông Phạm Văn T, bà Nguyễn Thị N số tiền 405.125.000₫ (350.000.000đ tiền gốc và 55.125.000đ tiền lãi)
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
- Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Văn T, bà Nguyễn Thị N về số tiền lãi từ ngày 01/9/2019 đến ngày 31/12/2021 và số tiền lãi của số tiền 350.000.000₫ gốc đã trả là 147.000.000đ.
- Về án phí: Buộc bà Trần Thị D, anh Triệu Quang C mỗi người phải chịu số tiền 10.102.500đ (mười triệu một trăm linh hai ngàn năm trăm đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Ông Phạm Văn T, bà Nguyễn Thị N được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 15.762.000đ (mười lăm triệu bảy trăm sáu hai ngàn đồng) theo biên lai thu số 0011539 ngày 20/3/2023 của Cơ quan Thi hành án dân sự thành phố Đ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự .
Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, các đương sự được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng để yêu cầu xét xử phúc thẩm. Riêng đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc tống đạt, niêm yết hợp lệ./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Thị Thanh Thủy |
Bản án số 51/2023/DS-ST ngày 16/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT, TỈNH LÂM ĐỒNG về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 51/2023/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/11/2023
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT, TỈNH LÂM ĐỒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
