TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MANG THÍT TỈNH VĨNH LONG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 51/2024/HNGĐ-ST Ngày: 18/7/2024 V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MANG THÍT, TỈNH VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Bích
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Đinh Cường
2. Ông Lê Thành Tam
- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Kim Liên – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mang Thít: Không tham gia phiên tòa.
Ngày 18 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mang Thít xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 82/2024/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 4 năm 2024 về “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 46/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 21 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Bích T, sinh năm 1987 (có mặt)
Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện M, tỉnh Vĩnh Long
- Bị đơn: Ông Phạm Tiền G, sinh năm 1989 (xin vắng mặt)
Nơi thường trú: ấp T, xã T, huyện M, tỉnh Vĩnh Long
Chỗ ở hiện nay: Số D, đường D, Khu phố A, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 09/4/2024 và trong quá trình giải quyết vụ án, cũng như tại phiên tòa sơ thẩm nguyên đơn bà Nguyễn Thị Bích T trình bày:
Vào năm 2011 bà Nguyễn Thị Bích T và ông Phạm Tiền G qua quen biết nên đã kết hôn có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán, có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện M, tỉnh Vĩnh Long vào ngày 20/10/2018, theo giấy chứng nhận kết hôn số 54. Vợ chồng chung sống có 02 con chung tên Nguyễn Phạm Tấn S, sinh ngày 14/3/2012 và Phạm Nguyễn Mỹ T1, sinh ngày 02/4/2019, hiện 02 cháu đang sống chung với bà T.
Sau khi cưới vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian. Đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp nhau, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng kéo dài mục đích hôn nhân không đạt được, nên đã ly thân từ năm 2020 cho đến nay không có đoàn tụ trở lại.
Nay bà T cảm thấy mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, ly thân đã lâu, không thể hàn gắn lại được nên yêu cầu Tòa án giải quyết:
- - Về quan hệ hôn nhân: Bà T yêu cầu được ly hôn với ông Phạm Tiền G.
- - Về con chung: Bà T yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng 02 con chung tên Nguyễn Phạm Tấn S, sinh ngày 14/3/2012 và Phạm Nguyễn Mỹ T1, sinh ngày 02/4/2019, không yêu cầu ông G phải cấp dưỡng nuôi con.
- - Về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại Đơn đề nghị xét xử vắng mặt ngày 03/5/2024 của bị đơn ông Phạm Tiền G trình bày:
Ông G và bà Nguyễn Thị Bích T cưới nhau năm 2011. Đến năm 2018 có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện M.
Ông G và bà Nguyễn Thị Bích T chung sống với nhau có 02 con chung tên Nguyễn Phạm Tấn S, sinh ngày 14/3/2012 và Phạm Nguyễn Mỹ T1, sinh ngày 02/4/2019, hiện 02 con đang sống chung với bà T.
Nay qua cầu xin ly hôn của bà T, ông G có ý kiến như sau:
- - Về hôn nhân: Ông G đồng ý ly hôn với bà Nguyễn Thị Bích T.
- - Về con chung: Ông G tự nguyện giao 02 con chung tên Nguyễn Phạm Tấn S, sinh ngày 14/3/2012 và Phạm Nguyễn Mỹ T1, sinh ngày 02/4/2019 cho bà T tiếp tục nuôi dưỡng, ông G không phải cấp dưỡng nuôi con.
- - Về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ông G xin đề nghị xét xử vắng mặt.
Trong quá trình giải quyết vụ án con chung trên 07 tuổi của nguyên đơn và bị đơn cháu Nguyễn Phạm Tấn S, sinh ngày 14/3/2012 trình bày: Cha của cháu là ông Phạm Tiền G và mẹ là bà Nguyễn Thị Bích T, khi cha mẹ ly hôn cháu có nguyện vọng được tiếp tục sống chung với mẹ. Cháu xin được vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án; bị đơn có nơi cư trú tại xã T, huyện M, tỉnh Vĩnh Long. Vì vậy, Tòa án nhân dân huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt, do đó Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn là đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về hôn nhân: Xét, giữa bà T và ông G chung sống có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện M. Do đó, quan hệ hôn nhân giữa bà T và ông G là hợp pháp. Bà T cho rằng trong quá trình vợ chồng chung sống có nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính tình hai người không hợp dẫn đến bất đồng quan điểm sống. Từ đó mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, không khắc phục được nên bà T và ông G đã ly thân từ năm 2020 cho đến nay, không ai quan tâm đến ai. Tòa án cũng đã tiến hành hòa giải để vợ chồng đoàn tụ nhưng ông G có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, ông G cũng đồng ý ly hôn với bà T. Điều này cũng chứng tỏ tình cảm vợ chồng không còn, khả năng đoàn tụ là không có, tình trạng hôn nhân giữa bà T và ông G đã mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, xét việc bà T yêu cầu được ly hôn với ông G là có căn cứ, phù hợp theo quy định tại các Điều 9, 51 và Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[2.2] Về nuôi con chung: Bà T yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng 02 con chung tên Nguyễn Phạm Tấn S, sinh ngày 14/3/2012 và Phạm Nguyễn Mỹ T1, sinh ngày 02/4/2019. Xét cháu cháu S và cháu T1 hiện do bà T nuôi dưỡng, các cháu vẫn phát triển tốt về mọi mặt, cháu S cũng có nguyện vọng được sống chung với bà T, ông G cũng tự nguyện giao cháu S và cháu T1 cho bà T nuôi dưỡng. Do đó, để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của các cháu sau khi ly hôn và tránh thay đổi môi trường sống của các cháu, Hội đồng xét xử giao cháu S và cháu T1 cho bà T nuôi dưỡng, là phù hợp theo quy định tại các Điều 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
[2.3] Về cấp dưỡng nuôi con chung: Nguyên đơn chưa yêu cầu, nên không giải quyết.
[2.4] Về quyền, nghĩa vụ về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xét.
[3] Về án phí sơ thẩm: Nguyên đơn phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Căn cứ vào các Điều 9, 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
Căn cứ vào Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Bích T.
1. Về quan hệ hôn nhân: Cho nguyên đơn bà Nguyễn Thị Bích T được ly hôn với bị đơn ông Phạm Tiền G.
2. Về nuôi con chung: Giao 02 con chung tên Nguyễn Phạm Tấn S, sinh ngày 14/3/2012 và Phạm Nguyễn Mỹ T1, sinh ngày 02/4/2019 cho nguyên đơn bà Nguyễn Thị Bích T nuôi dưỡng.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
3. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Nguyên đơn chưa yêu cầu, nên không giải quyết.
4. Về quyền, nghĩa vụ về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không giải quyết.
5. Về án phí: Nguyên đơn phải chịu tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng), số tiền này được khấu trừ từ 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí mà nguyên đơn đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mang Thít theo lai thu số: 0005750 n gày 12/4/2024. Nguyên đơn không phải nộp thêm tiền án phí.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014; thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014.
Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo là mười lăm ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Ngọc Bích |
Bản án số 51/2024/HNGĐ-ST ngày 18/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MANG THÍT, TỈNH VĨNH LONG về tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 51/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MANG THÍT, TỈNH VĨNH LONG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ly hôn
