Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN YÊN THÀNH

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 51/2024/HSST

Ngày 17/06/2024

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THÀNH - TỈNH NGHỆ AN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Xuân Thọ.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Bá Tấn và bà Đồng Thị Lý.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Nhật Thanh - Thư ký tòa án nhân dân huyện Yên Thành - tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thành tham gia phiên tòa:

Bà Dương Thị Kim Tình - chức vụ: Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 52/2024/TLST-HS ngày 24 tháng 05 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 51/2024/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:

Bị cáo Đặng Quang H, tên gọi khác: không; sinh ngày 07 tháng 12 năm 1993 tại huyện Y, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: xóm G, xã B, huyện Y, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Quang V và bà Phan Thị T; vợ, con: chưa có.

Tiền án: Ngày 30/5/2023, bị Tòa án nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số 63/2023/HSST. Chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 13/9/2023;

Tiền sự: Không;

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/3/2024 đến ngày nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Chị Trần Thị O, sinh năm 1976.

Nơi cư trú: Xóm V, xã V, huyện Y, tỉnh Nghệ An ( có mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  1. Anh Phan Đình C, sinh năm 2004. Nơi cư trú: Xóm Đ, xã Đ, huyện Y, tỉnh Nghệ An ( vắng mặt).
  2. Anh Nguyễn Kim T1, sinh năm 1991 ( vắng mặt). Nơi cư trú: Xóm Đ, xã Đ, huyện T, tỉnh Nghệ An.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 09 giờ 00 phút ngày 13/3/2024, Đặng Quang H điều khiển xe mô tô nhãn hiệu HONDA Lead màu trắng, biển kiểm soát 37P1 - 194.91 (xe của Phan Đình C, sinh năm 2005, trú tại xóm Đ, xã Đ, huyện Y, tỉnh Nghệ An), đi từ quán B1-a 1990, thuộc xóm E, xã B, huyện Y, tỉnh Nghệ An, đến nhà của anh Ngô Đ, sinh năm 1973, trú tại xóm V, xã V, huyện Y, tỉnh Nghệ An để chơi. Khi đến nơi, H gặp cháu Ngô Thừa Â, sinh năm 2017, là con trai của anh Đ đang ở nhà, H hỏi cháu  "Bố có ở nhà không", cháu  trả lời là bố không có ở nhà. Lúc này, H nhìn thấy trên giường ngủ tại phòng khách của nhà anh Đ có 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Realme loại C21 Y màu đen, đã qua sử dụng. Thấy cháu  còn nhỏ, không có ai khác ở nhà, cháu  đang chơi game trên một chiếc điện thoại khác, nên H nảy sinh ý định trộm cắp chiếc điện thoại nói trên. H đi đến canh giường, cầm chiếc điện thoại lên và đi đến bên cạnh cháu  đang ngồi, rồi nói cháu  bày mở mật khẩu của chiếc điện thoại mà H đang cầm. Sau khi cháu  bày cho H mở được mật khẩu, H bỏ chiếc điện thoại vào túi quần rồi ra về. Sau khi trộm cắp được chiếc điện thoại nói trên, H đi đến cửa hàng mua bán điện thoại tại xóm G, xã B, huyện Y, gặp anh Nguyễn Kim T1, sinh năm 1991, trú tại xóm Đ, xã Đ, huyện T, tỉnh Nghệ An, đưa chiếc điện thoại vừa trộm cắp được ra và nói "cho em cầm có việc cần, chiều em chuộc". Anh T1 kiểm tra điện thoại và hỏi mật khẩu mở máy thì H chỉ mật khẩu cho anh T1. Sau đó, anh T1 đồng ý cầm chiếc điện thoại trong vòng một tuần với giá 500.000đ (năm trăm nghìn đồng). Số tiền này, H đã tiêu xài hết.

Ngày 13/3/2024, chị Trần Thị O, sinh năm 1976 (là vợ của anh Đ) đã làm đơn trình báo gửi đến Công an xã V, huyện Y, tỉnh Nghệ An để trình báo vụ việc.

Ngày 14/3/2024, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nên Đặng Quang H đã đến Công an xã V, huyện Y, tỉnh Nghệ An để xin đầu thú về hành vi của mình.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 06/KL-HĐĐGTS ngày 19/3/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự - Ủy ban nhân dân huyện Y kết luận:

"- 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Realme, loại C2/Y màu đen, số Imeil: 869677050074157, số Imei2: 869677050074140, đã qua sử dụng, vẫn sử dụng bình thường, tại thời điểm ngày 13/3/2024 có giá trị 1.450.000đ (một triệu bốn trăm năm mươi nghìn đồng)".

Đặng Quang H đang có 01 tiền án về tội "Trộm cắp tài sản", cụ thể: Ngày 30/5/2023 bị Tòa án nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An xử phạt 06 tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản" tại Bản án số 63/2023/HSST. Chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 13/9/2023;

* Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật: xử lý vật chứng:

  • - Ngày 14/3/2024, anh Nguyễn Kim T1 đã tự nguyện giao nộp cho Công an xã V, huyện Y, tỉnh Nghệ An 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Realme, loại C21Y màu đen, số Imeil: 869677050074157, số I: 869677050074140, điện thoại đã qua sử dụng. Vật chứng hiện đã được trả lại cho chị Trần Thị O theo quy định;
  • - Ngày 14/3/2024, anh Phan Đình C đã tự nguyện giao nộp cho Công xã V1, huyện Y 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA Lead màu trắng, biển kiểm soát 37P1 - 194.91. Vật chứng hiện đã được trả lại cho anh Phan Đình C theo quy định;

* Về phần dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu gì về phần dân sự. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là anh Nguyễn Kim T1 yêu cầu Đặng Quang H bồi thường số tiền 500.000đ (năm trăm nghìn đồng). Bị cáo chưa bồi thường cho anh Nguyễn Kim T1.

Cáo trạng số: 54/CT-VKS-HS ngày 22/5/2024 của VKSND huyện Yên Thành, Nghệ An truy tố bị can Đặng Quang H về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thành giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Đặng Quang H từ 07 tháng tù đến 09 tháng tù về tội “ Trộm cắp tài sản”.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 30 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điều 584 của Bộ luật Dân sự.

Buộc Đặng Quang H bồi thường thiệt hại cho anh Nguyễn Kim T1 số tiền 500.000đ ( Năm trăm nghìn đồng).

- Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng Hình sự; điểm a, c khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc Đặng Quang H phải nộp 200.000đ ( Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 300.000đ ( Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Bị cáo không tranh luận gì với bản luận tội của Viện kiểm sát, bị cáo đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Bị hại không tranh luận gì về mức hình phạt đối với bị cáo và việc bồi thường thiệt hại tài sản.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Xét về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, điều tra viên; Viện kiểm sát trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên toà hôm nay, bị cáo Đặng Quang H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra và các tài liệu chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Có cơ sở kết luận:

Vào khoảng 09 giờ 30 phút ngày 13/3/2024, tại nhà ở của anh Ngô Đ, sinh năm 1973, tại xóm V, xã V, huyện Y, Đặng Quang H đã trộm cắp của chị Trần Thị O (là vợ của anh Đ) 01 chiếc điện thoại di dộng nhãn hiệu Realme, loại C21Y màu đen, trị giá 1.450.000 đồng (Một triệu bốn trăm năm mươi nghìn đồng). Do Đặng Quang H đang có 01 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 63/2023/HSST ngày 30/5/2023 của Tòa án nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An nên bị truy cứu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội của mình trong vụ án này.

Hành vi phạm tội của bị cáo có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội không lớn, đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu riêng về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an xã hội, hoang mang lo lắng bất bình trong nhân dân. Bị cáo nhận thức rõ hành vi của mình vi phạm pháp luật hình sự. Do đó, HĐXX thấy cần thiết phải áp dụng hình thức phạt tù, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục, cải tạo bị cáo cũng như đáp ứng yêu cầu đấu tranh và phòng ngừa loại tội phạm này nói chung.

[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Đặng Quang H trong quá trình điều tra, xét xử thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đồng thời khi nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo đã chủ động đến cơ quan công an đầu thú. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[4] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo nghiện ma túy, không có tài sản và không có thu nhập nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[5]Về xử lý vật chứng:

  • - 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Realme, loại C21Y màu đen, số Imeil: 869677050074157, số I: 869677050074140, điện thoại đã qua sử dụng đã được trả lại cho bị hại chị Trần Thị O là có căn cứ, đúng pháp luật.
  • - 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA Lead màu trắng, biển kiểm soát 37P1 - 194.91 đã được trả lại cho anh Phan Đình C là có căn cứ, đúng pháp luật.

[6] Về trách nhiệm dân sự:

Bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu gì thêm.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là anh Nguyễn Kim T1 yêu cầu Đặng Quang H bồi thường số tiền 500.000đ (năm trăm nghìn đồng). Tại phiên tòa bị cáo tự nguyện bồi thường 500.000 đồng cho anh T1 nên Hội đồng xét xử chấp nhận và buộc bị cáo phải hoàn trả cho anh Nguyễn Kim T1 số tiền 500.000đ (năm trăm nghìn đồng).

[7] Đối với anh Nguyễn Kim T1 cần cố chiếc điện thoại do Đặng Quang H trộm cắp mà có nhưng T1 không biết nên không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với anh T1 là có căn cứ, đúng pháp luật.

Đối với anh Phan Đình C cho Đặng Quang H mượn xe máy nhưng không biết H dùng xe máy để đi trộm cắp tài sản nên không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với anh C là có căn cứ, đúng pháp luật.

[8] Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự và dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
  • Xử phạt: Đặng Quang H 07 ( B ) tháng tù về tội “ Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 14/03/2024.
  • - Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 của Bộ luật Hình sự; Điều 124, 131, 132 của Bộ luật Dân sự.
  • Chấp nhận yêu cầu của anh Nguyễn Kim T1.
  • Buộc Đặng Quang H có nghĩa vụ hoàn trả cho anh Nguyễn Kim T1 số tiền 500.000đ ( Năm trăm nghìn đồng) bán điện thoại.
  • - Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng Hình sự; điểm a, c khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về án phí và lệ phí Tòa án.
  • Buộc Đặng Quang H phải nộp 200.000đ ( Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 300.000đ ( Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
  • Buộc Đặng Quang H phải nộp 200.000đ ( Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 300.000đ ( Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
  • - Quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
  • - Thi hành án và nghĩa vụ chậm thi hành án:
  • Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án ( đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
  • Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo, bị hại; NCQLNVLQ;
  • - Viện kiểm sát cùng cấp;
  • - Viện kiểm sát tỉnh Nghệ An;
  • - Cơ quan điều tra cùng cấp;
  • - Cơ quan THA hình sự;
  • - UBND xã nơi b/c cư trú;
  • - Chi cục THADS cùng cấp;
  • - TAND tỉnh Nghệ An
  • - Lưu hồ sơ vụ án;
  • - Lưu kết quả.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Phan Xuân Thọ

6

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 51/2024/HSST ngày 17/06/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THÀNH - TỈNH NGHỆ AN về hình sự sơ thẩm về tội trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 51/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THÀNH - TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đặng Quang H phạm tội "Trộm cắp tài sản"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger