NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAM RANH, TỈNH KHÁNH HOÀ |
-
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Thúy Nga
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Cao Nho Dũng
- Bà Phan Thị Hồng
- Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Hoài Phương - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cam Ranh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Nhật Hoàng T - Kiểm sát viên
Trong ngày 17 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cam Ranh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 58/2024/TLST-HS ngày 17 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 44/2024/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 5 năm 2024, đối với các bị cáo:
1/ Kiều Duy T1, sinh ngày 15 tháng 02 năm 2004 tại tỉnh Khánh Hòa.
Nơi cư trú: Thôn B, xã C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa.
Nghề nghiệp: Làm biển; Trình độ văn hóa: 08/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Kiều Duy N (chết) và bà: Nguyễn Thị Kim O, sinh năm 1986; Vợ: C sống như vợ chồng với Lê Thị Thu H, sinh năm: 2004 và con: 01 con chung sinh năm 2023.
Tiền án; Tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 23/10/2023, bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C khởi tố bị can về tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự. Đến ngày 26/02/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Cam Ranh đình chỉ điều tra do bị hại rút đơn yêu cầu khởi tố.
Bị cáo bị tạm giam từ ngày 27 tháng 11 năm 2023.
2
(Có mặt tại phiên tòa)
2/ Trần Hoài A, sinh ngày 30 tháng 6 năm 2007 tại tỉnh Khánh Hòa.
Nơi cư trú: Thôn H, xã C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa.; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Trần Đức T2, sinh năm 1982 và bà: Lê Thị Thu S, sinh năm 1985; Vợ, con: Chưa có
Tiền án, Tiền sự: Không
Nhân thân: Không
Bị cáo bị tạm giam từ ngày 08 tháng 01 năm 2024.
Có mặt tại phiên tòa.
3/ Nguyễn Tuấn V, sinh ngày 27 tháng 7 năm 2007 tại tỉnh Khánh Hòa.
Nơi cư trú: Thôn G, xã C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 10/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Thiên chúa giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Minh Q, sinh năm 1985 và bà: Nguyễn Thị Thanh T3, sinh năm 1983; Vợ, con: Chưa có
Tiền án, Tiền sự: Không
Nhân thân: Không
Bị cáo bị tạm giam từ ngày 06 tháng 02 năm 2024.
Có mặt tại phiên tòa.
Người đại diện hợp pháp của bị cáo Trần Hoài A: Ông Trần Đức T2, sinh năm: 1982 và bà Lê Thị Thu S, sinh năm 1985. Cùng nơi cư trú: Thôn H, xã C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa. (Bà S có mặt tại phiên tòa)
Người đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Tuấn V: Ông Nguyễn Minh Q, sinh năm: 1985 và bà Nguyễn Thị Thanh T3, sinh năm 1983. Cùng nơi cư trú: Thôn G, xã C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa. (Bà T3 có mặt tại phiên tòa)
Người bào chữa cho bị cáo Trần Hoài A và Nguyễn Tuấn V: Bà Đàm Thị Thu L là trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh K. (Có mặt tại phiên tòa)
2.2. Bị hại: Trương Nguyễn Trọng K, sinh ngày 16 tháng 10 năm 2004; Nơi cư trú: Thôn T, xã C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa. (Có mặt tại phiên tòa)
2.3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Lê Thị Thu H, sinh năm: 2004; Nơi cư trú: Thôn V, xã C, huyện C, tỉnh Khánh Hòa. (Vắng mặt tại phiên tòa)
2.4. Người làm chứng:
3
2.4.1. Nguyễn Minh K1, sinh ngày: 09 tháng 5 năm 2008; Nơi cư trú: Tổ dân phố P, phường C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa. (Có mặt tại phiên tòa)
Người chứng kiến của Nguyễn Minh K1: Ông Nguyễn Văn H1, sinh năm: 1979 và bà Đặng Thị Kim Đ, sinh năm: 1982. Cùng nơi cư trú: Tổ dân phố P, phường C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa. (Vắng mặt tại phiên tòa)
2.4.2. Nguyễn Trọng L1, sinh ngày: 14 tháng 6 năm 2007; Nơi cư trú: Tổ dân phố L, phường C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa. (Vắng mặt tại phiên tòa)
Người chứng kiến của Nguyễn Trọng L1: Bà Nguyễn Thị S1, sinh năm: 1972. Nơi cư trú: Tổ dân phố L, phường C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa. (Vắng mặt tại phiên tòa)
2.4.3. Trần Văn V1, sinh ngày: 04 tháng 3 năm 2008; Nơi cư trú: Thôn H, xã C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa. (Vắng mặt tại phiên tòa)
Người chứng kiến của Trần Văn V1: Bà Võ Thị H2, sinh năm: 1986. Nơi cư trú: Thôn H, xã C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa. (Vắng mặt tại phiên tòa)
2.4.4. Phan Minh N1, sinh năm: 2004, Nơi cư trú: Thôn S, xã C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa. (Vắng mặt tại phiên tòa)
2.4.5. Phạm Tiến Đ1, sinh năm: 2002, Nơi cư trú: Thôn V, xã C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa. (Vắng mặt tại phiên tòa)
2.4.6. Phạm Thị Kim O1, sinh năm: 1977, Nơi cư trú: Tổ dân phố L, phường C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa. (Vắng mặt tại phiên tòa)
2.4.7. Nguyễn Anh K2, sinh ngày: 18 tháng 10 năm 2007; Nơi cư trú: Tổ dân phố L, phường C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa. (Vắng mặt tại phiên tòa)
Người chứng kiến của Nguyễn Anh K2: Bà Nguyễn Thị Kim T4, sinh năm: 1984. Nơi cư trú: Tổ dân phố L, phường C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa. (Vắng mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Giữa Nguyễn Trọng L1 và Trương Việt T5 có mâu thuẫn với nhau. T5 là em của Trương Nguyễn Trọng K và chơi chung với Phan Minh N1.
Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 26/11/2023, tại tiệm I ở số B đại lộ H, tổ dân phố L, phường C, thành phố C; L1 và Trần Văn V1 chơi điện tử tại đây thì thấy N1 và K cũng đang chơi điện tử. Lúc này, L1 ngồi gần bàn với N1 nên nhìn thấy N1 đang nhắn tin với người khác có nội dung đánh nhau. Lượng nghĩ N1 đang kêu người đánh mình nên L1 nhắn tin thông qua ứng dụng M cho Nguyễn Tuấn V với nội dung: “có thằng anh Việt T5 (tức là K) đánh tao, xuống đây giúp tao, tao đang ở quán 231".
4
Cùng lúc này, Nguyễn Tuấn V (sinh ngày 27/7/2007), Trần Hoài A (sinh ngày 30/6/2007), Nguyễn Minh K1 (sinh ngày 09/5/2008) và Kiều Duy T1 đang ngồi uống cà phê tại quán A1 thuộc phường C, thành phố C. Khi V nhận được tin nhắn của L1 thì V kể lại cho cả nhóm nghe rồi rủ cả nhóm đi đánh nhau giúp L1. Tất cả đồng ý. Sau đó, Hoài A điều khiển xe mô tô chở T1; K1 điều khiển xe mô tô chở V đi đến tiệm I (tổng cộng 04 người).
Đến khoảng 16 giờ 06 phút cùng ngày, nhóm của V đi đến tiệm Il rồi dừng xe dựng trước quán và tất cả đi bộ vào bên trong quán. Thấy nhóm của V đến thì L1 đi đến nói “hai thằng ngồi ghế cuối” (là vị trí K và N1 đang ngồi chơi điện tử). Hoài A đi đến sau lưng N1 rồi dùng tay đánh 01 cái vào mặt và 02 cái vào lưng của N1, 02 cái vào mặt của K. T1 dùng tay đánh 02 cái vào mặt của K.
Thấy vậy chị Phạm Thị Kim O1 (chủ tiệm internet 213) nói: “đừng quậy quán”. Nghe vậy, T1 nói: “đừng đánh nó trong quán, dẫn nó đi chỗ khác, đừng quậy quán” rồi dùng tay kẹp cổ rồi kéo K ra khỏi quán. K không đồng ý đi và vùng vẫy thì T1 tiếp tục kẹp mạnh và kéo K đi. V, Hoài A, K1 áp sát T1 đưa K ra vị trí đang dựng xe trước quán. Hoài A nói: “chở nó đi” rồi đi đến vị trí xe mô tô đang dựng và ngồi ở vị trí lái. T1 kéo K ngồi lên xe nhưng K không đồng ý thì Hoài A dùng tay trỏ 01 cái ra phía sau trúng vào mặt K. T1 ép K ngồi lên xe. Sau đó, Hoài A điều khiển xe chở K ngồi giữa, T1 ngồi sau dùng tay nắm lấy tóc và tay phải của K để giữ lại; V điều khiển xe mô tô chở K1 đi theo sau.
Sau khi nhóm của V bỏ đi thì chỉ còn L1, V1, N1 ở tại tiệm internet. Lúc này, V1 dùng tay đánh 01 cái trúng vào mặt của N1 rồi đi vào bên trong quán tiếp tục chơi điện tử; còn N1 đi về nhà.
Về phía nhóm V: sau khi bắt K đưa lên xe thì cả nhóm điều khiển xe đi đến khu vực bãi đất trống phía sau Ủy ban nhân dân thành phố C thuộc phường C, thành phố C. Đến khoảng 16 giờ 30 phút cùng ngày, tại khu vực bãi đất trống nêu trên, Hoài A nói K bước xuống xe. Sau đó, Hoài A và K1 đánh K như sau: Hoài A dùng tay đánh 01 cái vào mặt, dùng chân đạp 01 cái vào hông và đá nhiều cái vào mặt và đầu (khi K bị té ngã xuống đất), nhặt cây gỗ đánh 02 cái vào vùng đầu và người, nhặt tấm kính đánh 01 cái vào đầu, nhặt 01 mũ bảo hộ đánh 03 đến 04 cái vào đầu; K1 nhặt cây gỗ đánh nhiều cái vào vùng đầu và người, dùng chân đá nhiều cái vào mặt, đầu (khi K bị té ngã xuống đất); còn T1 và Hoài A không tham gia đánh K nhưng cũng không can ngăn.
Sau khi đánh K xong thì K1 nói với K: “mày phải cho ăn cứt” rồi nói Hoài A và V đi tìm phân bò. Nghe vậy, Hoài A và V đi tìm phân bò; còn K1 và T1 đứng giữ K để không cho K bỏ chạy. Sau đó, Hoài A và V tìm thấy bãi phân
5
bò nên lấy mũ bảo hộ (đã dùng để đánh K trước đó) đưa cho V. Vũ nhặt đoạn cây lấy phân bò cho vào bên trong mũ rồi đưa mũ chứa phân bò đến trước mặt của K. Lúc này, K đang ngồi trên đất; còn Hoài A, K1, V, T1 đứng xung quanh canh giữ K. K1 nói: “bây giờ mày có ăn không”; Hoài A nói: “mày biết ăn không hay tao đút cho mày ăn”. Vì sợ bị đánh nên K dùng tay lấy phân bò cho vào miệng rồi ói ra ngoài. Lúc này, T1 dùng điện thoại ghi hình lại sự việc trên; K1 và Hoài A nói K phải ngước mặt lên nhìn vào điện thoại của T1 đang ghi hình. Đến khoảng 16 giờ 45 phút cùng ngày, Hoài A điều khiển xe chở T1 đi về trước; còn V điều khiển xe chở K ngồi giữa, K1 ngồi sau đến khu vực quán A1 để K xuống xe rồi cả hai bỏ đi về.
Đến tối ngày 26/11/2023, T1 gửi đoạn ghi hình việc bắt ép K ăn phân bò thông qua ứng dụng messenger cho Hoài A và K1. Đến trưa ngày 29/11/2023, Hoài A tiếp tục gửi đoạn ghi hình trên thông qua ứng dụng messenger cho Nguyễn Anh K2 để xem.
Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 784/23/KLTTCT-PYKH ngày 11/12/2023 của Trung tâm Pháp y tỉnh K kết luận: tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Trương Nguyễn Trọng K tại thời điểm giám định là 01%; kết luận khác: vết thương do vật tày gây. Ngày 20/12/2023, Trương Nguyễn Trọng K không yêu cầu khởi tố về hành vi cố ý gây thương tích do thương tích nhẹ, đã hồi phục sức khỏe.
Tại Kết luận giám định độ tuổi trên người sống số 845/KLGĐĐT-C09B ngày 18/01/2024 của V2 Bộ C1-Phân viện khoa học hình sự tại thành phố Hồ Chí Minh kết luận: qua quá trình khám giám định, kết quả cận lâm sàng, xác định tại thời điểm giám định (tháng 01/2024) Nguyễn Tuấn V có độ tuổi là 16 năm 03 tháng đến 16 năm 09 tháng.
Vật chứng vụ án:
- - 01 xe mô tô 79Z-701.71: trả lại cho chủ sở hữu Lê Thị Thu H.
- - 01 điện thoại di động hiệu Iphone XS Max (thu giữ của Kiều Duy T1);
- - 01 mũ nhựa (loại mũ bảo hộ) bên trong mũ có chứa tạp chất màu vàng-nâu: đang tạm giữ.
Phần dân sự: Bị hại Trương Nguyễn Trọng K yêu cầu bồi thường số tiền 100.000.000 đồng.
Tại Bản cáo trạng số 56/CT-VKSCR-HS ngày 17 tháng 4 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cam Ranh đã truy tố các bị cáo Kiều Duy T1, Trần Hoài A, Nguyễn Tuấn V về tội: “Bắt giữ người trái pháp luật” theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 157 Bộ luật hình sự.
6
Đối với Nguyễn Minh K1 (sinh ngày 09/5/2008) có hành vi cùng với Kiều Duy T1, Trần Hoài A, Nguyễn Tuấn V bắt, giữ Trương Nguyễn Trọng K và ép K ăn phân bò. Tuy nhiên, tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội, Nguyễn Minh K1 chưa đủ tuổi truy cứu trách nhiệm hình sự về hành vi này (15 tuổi 06 tháng). Hiện nay, Ủy ban nhân dân phường C, thành phố C đang áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn đối với K.
Đối với Nguyễn Trọng L1 có hành vi rủ Nguyễn Tuấn V đánh Trương Nguyễn Trọng K. Sau đó, Kiều Duy T1, Trần Hoài A, Nguyễn Minh K1 có hành vi đánh Trương Nguyễn Trọng K gây thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 01%. K không yêu cầu khởi tố vụ án nên không truy cứu trách nhiệm hình sự về hành vi này. Công an thành phố C đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với T1, A, V, K1, L1.
Đối với Nguyễn Trọng L1 không có ý thức, không tham gia bắt, giữ trái pháp luật Trương Nguyễn Trọng K nên không truy cứu trách nhiệm hình sự về hành vi này.
Tại phiên tòa:
- - Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo theo tội danh, khung hình phạt như trên và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố các bị cáo Kiều Duy T1, Trần Hoài A, Nguyễn Tuấn V phạm tội “Bắt giữ người trái pháp luật”, áp dụng điểm b khoản 3 Điều 157; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo, áp dụng thêm điểm o khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Kiều Duy T1, áp dụng thêm khoản 6 điều 91 và khoản 1 điều 101 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Trần Hoài A và bị cáo Nguyễn Tuấn V.
Xử phạt bị cáo Kiều Duy T1 mức án từ 05 năm 06 tháng đến 06 năm tù,
Xử phạt bị cáo Trần Hoài A và bị cáo Nguyễn Tuấn V mức án từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm tháng tù.
- - Vật chứng vụ án: Tịch thu xung quỹ
- + 01 điện thoại di động hiệu Iphone XS Max (thu giữ của Kiều Duy T1);
- + Tịch thu tiêu hủy: 01 mũ nhựa (loại mũ bảo hộ) bên trong mũ có chứa tạp chất màu vàng - nâu: đang tạm giữ.
Phần dân sự: Ghi nhận các bị cáo liên đới bồi thường cho bị hại số tiền 40.000.000 đồng.
Tại phiên tòa, các bị cáo Kiều Duy T1, Trần Hoài A, Nguyễn Tuấn V thừa nhận hành vi phạm tội.
7
Người bào chữa cho bị cáo Trần Hoài A và Nguyễn Tuấn V: đồng ý với bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát, đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng: điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 91, Điều 101 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Trần Hoài A và bị cáo Nguyễn Tuấn V.
Xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Trần Hoài A, Nguyễn Tuấn V vì các lý do sau: các bị cáo phạm tội khi dưới 18 tuổi, các bị cáo có nhân thân tốt, ăn năn hối cải, đã đồng ý bồi thường thiệt hại cho bị hại.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan điều tra Công an thành phố C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố C, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[2] Về thủ tụng tố tụng: Tại phiên tòa vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng. Xét thấy, sự vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt họ theo quy định tại Điều 292, 293 của Bộ luật tố tụng hình sự.
[3] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Trong hồ sơ và tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của các bị cáo. Lời khai nhận của các bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Như vậy đủ căn cứ để kết luận:
Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 26/11/2023, tại tiệm I ở số B đại lộ H, tổ dân phố L, phường C, thành phố C, các bị cáo Kiều Duy T1, Trần Hoài A, Nguyễn Tuấn V có hành vi bắt Trương Nguyễn Trọng K trái pháp luật, đi từ tiệm I thuộc tổ dân phố L, phường C, thành phố C đến khu vực bãi đất trống phía sau Ủy ban nhân dân thành phố C thuộc phường C, thành phố C.
Đến khoảng 16 giờ 30 phút cùng ngày, tại khu vực bãi đất trống phía sau Ủy ban nhân dân thành phố C thuộc phường C, thành phố C; Kiều Duy T1, Trần Hoài A, Nguyễn Tuấn V có hành vi giữ K và bắt ép K ăn phân bò.
Hành vi của các bị cáo Kiều Duy T1, Trần Hoài A, Nguyễn Tuấn V đủ cơ sở cấu thành tội “Bắt, giữ người trái pháp luật” với tình tiết định khung tại điểm b khoản 3 Điều 157 Bộ luật hình sự là: “b) ... hạ nhục nhân phẩm của người bị bắt, giữ...". Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cam Ranh đã
8
truy tố các bị cáo Kiều Duy T1, Trần Hoài A, Nguyễn Tuấn V là có căn cứ, đúng pháp luật.
[4] Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội:
Hành vi của các bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm nghiêm trọng đến quyền tự do thân thể, danh dự nhân phẩm của công dân, là một trong những khách thể được luật hình sự bảo vệ, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội ở địa phương, gây mất an ninh trật tự an toàn xã hội, gây hoang mang lo lắng trong cộng đồng dân cư. Do đó, cần phải xử lý các bị cáo thật nghiêm khắc, cần cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
Xét về vai trò của từng bị cáo:
Bị cáo Kiều Duy T1: Bị cáo đồng phạm với các bị cáo trong việc bắt, giữ bị hại Trương Nguyễn Trọng K với vai trò chủ mưu, là người khởi xướng, thực hành tích cực, trực tiếp đánh, dẫn bị hại K ra xe để chở đi, trực tiếp quay video cảnh bị hại K bị ép ăn phân bò nên hành vi có tính nguy hiểm cao hơn so với các bị cáo khác.
Bị cáo Trần Hoài A: Bị cáo là người đồng phạm với các bị cáo trong việc bắt, giữ bị hại Trương Nguyễn Trọng K với vai trò người thực hành tích cực, thực hiện hành vi cùng bị cáo Kiều Duy T1 đưa Trương Nguyễn Trọng K đưa lên xe, trực tiếp điều khiển xe chở K đến khu vực bãi đất trống phía sau Ủy ban nhân dân thành phố C, cùng với V đi tìm phân bò và chứng kiến cảnh K bị ép ăn phân bò nên mức nguy hiểm của hành vi hạn chế hơn so với bị cáo Kiều Duy T1 và bằng bị cáo Nguyễn Tuấn V.
Bị cáo Nguyễn Tuấn V: Bị cáo là đồng phạm với các bị cáo trong việc bắt Trương Nguyễn Trọng K với vai trò người thực hành tích cực, đi cùng bị cáo T1 và bị cáo A, đưa bị hại K đến bãi đất trống phía sau Ủy ban nhân dân thành phố C, sau đó chứng kiến cảnh K bị ép ăn phân bò nên mức nguy hiểm của hành vi hạn chế hơn so với bị cáo Kiều Duy T1 và bằng với bị cáo Trần Hoài A.
[5] Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân bị cáo:
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015. Các bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015. Do các bị cáo có từ 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 trở lên
9
nên áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự năm 2015 để xử dưới khung hình phạt đối với các bị cáo.
Về nhân thân: Các bị cáo đều có nhân thân tốt, các bị cáo phạm tội lần đầu. Bị cáo Trần Hoài A, Nguyễn Tuấn V là người dưới 18 tuổi phạm tội. Do vậy, Hội đồng xét xử sẽ áp dụng quy định tại Điều 91 và Điều 101 Bộ luật hình sự để lượng một hình phạt phù hợp đối với các bị cáo. Vì vậy, cần giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo, để các bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật mà an tâm cải tạo trở thành người công dân tốt.
Bị cáo Trần Hoài A, Nguyễn Tuấn V không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự
Bị cáo Kiều Duy T1 xúi giục bị cáo Trần Hoài A, Nguyễn Tuấn V (là người dưới 18 tuổi) phạm tội nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm o khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
[6] Về vật chứng vụ án:
- - 01 xe mô tô 79Z-701.71: đã trả lại cho chủ sở hữu Lê Thị Thu H.
- - 01 điện thoại di động hiệu Iphone XS Max (thu giữ của Kiều Duy T1): vật chứng dùng vào việc phạm tội nên tịch thu xung công quỹ Nhà Nước.
- - 01 mũ nhựa (loại mũ bảo hộ) bên trong mũ có chứa tạp chất màu vàng-nâu không còn giá trị sử dụng nên tịch thu và tiêu hủy.
[7] Về trách nhiệm dân sự: Trước phiên tòa các bị cáo đã bồi thường thiệt hại cho bị hại số tiền 5.000.000 đồng.
Tại phiên toà, các bị cáo và bị hại đã thoả thuận các bị cáo tiếp tục liên đới bồi thường cho bị hại số tiền 40.000.000 đồng.
Tại phiên tòa, bị cáo Kiều Duy T1 và bị cáo Nguyễn Tuấn V đã bồi thường cho bị hại số tiền 15.000.000 đồng (Trong đó bị cáo T1 bồi thường cho bị hại 10.000.000 đồng, bị cáo V bồi thường cho bị hại 5.000.000 đồng). Các bị cáo còn phải tiếp tục liên đới bồi thường cho bị hại số tiền 25.000.000 đồng. Xét thấy, sự thoả thuận này là tự nguyện, không trái luật, không trái đạo đức xã hội nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
[8] Về án phí: Các bị cáo Kiều Duy T1, Trần Hoài A, Nguyễn Tuấn V phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
* Căn cứ:
10
- - Điểm b khoản 3 Điều 157; Điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm o khoản 1 Điều 52, Điều 54 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Kiều Duy T1.
- - Điểm b khoản 3 Điều 157; Điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 91, Điều 101, Điều 54 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Trần Hoài A, Nguyễn Tuấn V.
- - Điều 292, 293, 106 Bộ luật tố tụng hình sự;
- - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Tuyên bố các bị cáo Kiều Duy T1, Trần Hoài A, Nguyễn Tuấn V phạm tội “Bắt, giữ người trái pháp luật”.
Xử phạt:
- - Bị cáo Kiều Duy T1 04 (B) năm tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày 27 tháng 11 năm 2023.
- - Bị cáo Trần Hoài A 03 (Ba) năm tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày 08 tháng 01 năm 2024.
- - Bị cáo Nguyễn Tuấn V 03 (Ba) năm tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày 06 tháng 02 năm 2024.
2. Về vật chứng vụ án:
- - Tịch thu và tiêu hủy: 01 (một) mũ nhựa (loại mũ bảo hộ) màu trắng, kích thước (30x22x20) cm, loại mũ có quai nhựa màu xanh, bên trong mũ có chứa tạp chất màu vàng - nâu.
- - Xung công quỹ Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone XS Max màu vàng, số Imei 1: 353097101462074, số Imei 2: 353097101405685, số S: F2LYM2QNKPHJ (tại thời điểm giao nhận điện thoại đã cũ và đã qua sử dụng, máy không khởi động được nên không kiểm tra tình trạng bên trong máy, số I và số S).
Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 09 tháng 5 năm 2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố C và Chi cục thi hành án thành phố C.
3. Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự tự nguyện của các bị cáo về tiếp tục liên đới bồi thường cho bị hại số tiền 25.000.000 đồng.
Cụ thể như sau:
Bị cáo Kiều Duy T1 tiếp tục bồi thường cho bị hại số tiền 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng).
11
Bị cáo Trần Hoài A và bà Lê Thị Thu S tiếp tục liên đới bồi thường cho bị hại số tiền 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng).
Bị cáo Nguyễn Tuấn V và bà Nguyễn Thị Thanh T3 tiếp tục liên đới bồi thường cho bị hại số tiền 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng).
4. Về án phí:
Các bị cáo Kiều Duy T1, Trần Hoài A, Nguyễn Tuấn V mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.
Bị cáo Kiều Duy T1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng).
Bị cáo Trần Hoài A và bà Lê Thị Thu S phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng).
Bị cáo Nguyễn Tuấn V và bà Nguyễn Thị Thanh T3 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 250.000 đồng (Hai trăm năm mươi nghìn đồng).
Quy định: Kể từ khi bên được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án; quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
4. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo Kiều Duy T1, Trần Hoài A, Nguyễn Tuấn V; bị hại Trương Nguyễn Trọng K được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| HỘI THẨM NHÂN DÂN | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
12
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Thúy Nga |
13
Bản án số 58/2024/TLST-HS ngày 17/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAM RANH, TỈNH KHÁNH HOÀ về bắt, giữ người trái pháp luật
- Số bản án: 58/2024/TLST-HS
- Quan hệ pháp luật: Bắt, giữ người trái pháp luật
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAM RANH, TỈNH KHÁNH HOÀ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Kiều Duy TH +ĐP
