|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 51/2024/HS-ST Ngày: 17 - 4-2024 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lương Thị Ngọc Hà.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Xuân Kiệm.
Ông Lãnh Văn Việt.
- Thư ký phiên tòa: Bà La Thị Xuân, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Mai, Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 4 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 39/2024/TLST-HS ngày 22 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 55/2024/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lăng Văn B; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh năm 1982 tại huyện L, tỉnh Bắc Giang; Nơi thường trú và chỗ ở: Thôn T, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang; Dân tộc: Nùng; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: Lớp 4/12; Chức vụ, đoàn thể, đảng phái: Không; Bố đẻ: Lăng Văn P, đã chết; Mẹ đẻ: Triệu Thị D, sinh năm 1944; Vợ: Phạm Thị H, sinh năm 1984; Con: có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2005, con nhỏ sinh năm 2021
Tiền án: Không
Tiền sự: Tại quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 40 ngày 16/3/2023, của Công an huyện L xử phạt Lăng Văn B số tiền là 1.500.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma tuý”. Đến nay, Lăng Văn B chưa nộp phạt.
Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 10/10/2023 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện L. Có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Nịnh Văn H1, sinh năm 1998. Vắng mặt.
- Chung Văn C, sinh năm 2001. Vắng mặt.
- Dương Văn T, sinh năm 1998. Vắng mặt.
- Nịnh Thị S, sinh năm 1977. Vắng mặt.
- Nịnh Văn H2, sinh năm 2000. Vắng mặt.
Nơi cư trú: Thôn Đ, xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
Nơi cư trú: Thôn Đ, xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
Nơi cư trú: Thôn Đ, xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
Nơi cư trú: Thôn Đ, xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
Nơi cư trú: Thôn V, xã P, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 08 giờ 30 phút giờ ngày 02/10/2023, Nịnh Văn H1, sinh năm 1998, trú tại thôn Đ, xã Đ, huyện L dùng điện thoại di động OPPOA3S, số thuê bao điện thoại 0373.225.xxx gọi điện đến số thuê bao điện thoại 0397.472.xxx của Chung Văn C, sinh năm 2001 ở cùng thôn nhờ C đi mua hộ 200.000 đồng tiền ma tuý về để H1 sử dụng. C đồng ý và sử dụng tài khoản zalo là “Chuyên” nhắn số tài khoản ngân hàng của C vào tài khoản zalo của H1 là “Hùng Bá” để H1 chuyển tiền mua ma túy. Sau đó H1 đến quán tạp hoá của chị Nguyễn Thị M, sinh năm 1991, trú tại thôn X, xã Đ, huyện L đưa cho chị M số tiền 220.000 đồng và nhờ chị M chuyển số tiền trên vào số tài khoản ngân hàng của C, trong đó có 200.000 đồng là tiền mua ma túy, còn 20.000 đồng để cho C đổ xăng. Khi tài khoản của C nhận được tiền, Chuyên nhắn tin qua ứng dụng Messenger rủ Dương Văn T, sinh năm 1998, trú tại thôn Đ, xã Đ, huyện L đi mua ma tuý cùng. Do lúc này T đang ngủ nên Nịnh Văn H2, sinh năm 2000, trú tại thôn V, xã P, huyện L đang chơi ở nhà T đã nhắn tin cho C về việc H2 sẽ đi mua ma túy cùng C. Sau đó H2 mượn chiếc xe mô tô nhãn hiệu INTIMEX, BKS 98L8-5838 của T nói là đi có việc rồi điều khiển xe đến ngã tư thôn Đ, xã Đ, huyện L đón C. C bảo Hồng điều khiển xe mô tô đến nhà Lăng Văn B, sinh năm 1982, trú tại thôn T, xã B, huyện L để mua ma tuý. Trên đường đi, C và H2 đến cửa hàng tạp hoá “LA TRUNG” của gia đình anh La Văn T1, sinh năm 1991, tại thôn T, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang, với mục đích để rút tiền mà H1 đã chuyển khoản để đi mua ma túy. Tại đây C chuyển số tiền 200.000 đồng từ tài khoản ngân hàng của mình vào tài khoản ngân hàng của anh T1, anh T1 đưa lại cho C 190.000 đồng tiền mặt, còn 10.000 đồng là phí rút tiền. Khoảng 09 giờ cùng ngày, C và H2 đi đến nhà B ở thôn T, xã B, khi đến nơi H2 đứng ở ngoài cổng đợi, còn C đi bộ vào nhà B mua ma túy. Khi vào nhà B thì C đứng dưới sân nhà gọi hỏi mua ma túy heroin của B. Do trước đó B có mua ma túy heroin sử dụng và còn một ít nên đã đồng ý bán cho C. Lúc này B đang ở trên
tầng hai nên B lấy một đoạn dây dùng để buộc giầy nối với một đoạn dây điện buộc vào một ống nhựa rồi một tay cầm dây thả phần ống nhựa từ trên tầng hai xuống sân, C để 190.000 đồng vào ống nhựa thì B kéo lên lấy tiền, B cho số ma tuý còn thừa vào 01 đoạn ống nhựa màu cam (loại ống hút nước), lấy bật lửa hàn kín hai đầu lại rồi vứt xuống sân cho C. C cầm đoạn ống nhựa có chứa ma tuý rồi đi ra cổng cùng H2 đi xe máy ra khu vực vườn vải gần nhà B để sử dụng ma túy. Tại đây C lấy một ít ma túy từ trong ống nhựa ra cùng H2 sử dụng, số ma túy còn lại Chuyên vẫn để trong ống nhựa màu cam. Sau khi sử dụng ma túy xong, khoảng 09 giờ 30 phút cùng ngày C gọi điện thoại cho H1 bảo H1 ra nhà Dương Văn T gặp H2 để lấy ma tuý, đồng thời C đưa đoạn ống nhựa màu cam chứa số ma tuý còn lại cho H2 để H2 mang về cho H1, còn C đi về nhà. Sau khi nhận được điện thoại của C, H1 đã đến nhà T thì gặp H2 đang đứng ở sân nhà T, H2 đưa cho H1 01 đoạn ống nhựa màu cam, bên trong chứa ma tuý Heroin. H1 cầm ống nhựa chứa ma tuý mang về nhà, giấu vào chậu hoa ở cửa nhà. Khoảng 10 giờ 10 phút cùng ngày, nghi ngờ H1 tàng trữ ma tuý tại nhà nên bố đẻ của H1 là ông Nịnh Văn T2, sinh năm 1979, trú tại thôn Đ, xã Đ, huyện L đã trình báo Công an xã Đ Công an xã Đ đã đến nhà ông T2, yêu cầu được kiểm tra hành chính đối với Nịnh Văn H1. Khi được yêu cầu kiểm tra, H1 thừa nhận đang cất giấu ma túy tại chậu cây trước sân nhà. Tổ công tác tiến hành kiểm tra chậu cây phát hiện 01 đoạn ống nhựa màu cam, bên trong chứa chất cục bột màu trắng nghi là ma tuý, tổ công tác đã tiến hành thu giữ, niêm phong trong phong bì ký hiệu “QT1”; ngoài ra còn tạm giữ của H1 01 điện thoại OPPOA3S.
Cùng ngày 02/10/2023, Công an xã Đ đã bàn giao tài liệu cho Cơ quan CSĐT Công an huyện L giải quyết theo thẩm quyền. Ngay sau khi tiếp nhận, Cơ quan điều tra đã tiến hành kiểm tra việc sử dụng chất ma tuý của Nịnh Văn H1, Nịnh Văn H2, Chung Văn C, Dương Văn T, đồng thời tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Nịnh Văn H1, Chung Văn C, Nịnh Văn H2. Kết quả kiểm tra ma túy xác định H1, H2, C, T đều dương tính với ma tuý heroine; kết quả khám xét đều không thu giữ đồ vật, tài liệu gì.
Ngày 02/10/2023, Chung Văn C đã giao nộp cho Cơ quan điều tra 01 điện thoại di động Iphone 6plus, mầu xám, đã cũ; Ngày 03/10/2023, Dương Văn T giao nộp cho Cơ quan điều tra 01 xe mô tô BKS 98L8-5838, mẹ Dương Văn T là bà Nịnh Thị S, sinh năm 1977, trú tại thôn Đ, xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang giao nộp 01 điện thoại di động Redmi 9A màu xanh đen.
Ngày 02/10/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L ra Quyết định trưng cầu giám định chất cục bột màu trắng nghi là ma túy được niêm phong trong bì thư ký hiệu QT1. Tại Kết luận giám định số 1885 ngày 10/10/2023 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận: “Trong 01 phong bì thư ký hiệu “QT1” được niêm phong gửi giám định: Chất cục bột màu trắng đựng trong 01 đoạn ống nhựa màu cam được hàn kín hai đầu là ma tuý, loại Heroine, khối lượng 0,043gam”.
Ngày 10/10/2023, Lăng Văn B đến Công an huyện L đầu thú khai nhận hành vi bán trái phép chất ma túy của bản thân cho Chung Văn C vào ngày 02/10/2023.
Cùng ngày, Cơ quan điều tra tiến hành khám xét nơi ở của Lăng Văn B ở thôn T, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Kết quả khám xét thu giữ: trong ngăn tủ đựng đồ đựng sát tường sát cửa sổ trong phòng ngủ của Lăng Văn B ở trên tầng 2: 01 túi nilon màu trắng có chữ “Flexible” đựng nhiều ống hút nhựa (loại ống hút nước) nhiều màu sắc khác nhau; 01 túi nilon màu trắng có chữ “Flexible” đựng nhiều đoạn ống hút nhựa (loại ống hút nước) nhiều màu sắc khác nhau đều đã bị cắt ngắn. Lăng Văn B tự nguyện giao nộp 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA, màu đen, loại bàn phím cơ, loại 105, cũ, đã qua sử dụng. Cơ quan điều tra đã tiến hành kiểm tra việc sử dụng chất ma tuý đối với Lăng Văn B, kết quả Bắc dương tính với ma tuý heroine.
Ngày 10/10/2023, Cơ quan điều tra đã tiến hành cho Chung Văn C nhận dạng đối tượng bán ma tuý cho C vào ngày 02/10/2023. Kết quả Chung Văn C nhận ra Lăng Văn B là người đã bán ma tuý cho mình vào ngày 02/10/2023.
Ngày 11/10/2024, Cơ quan điều tra tiến hành xác định hiện trường tại nhà ở của Lăng Văn B, thu giữ 01 (một) đoạn dây vải màu trắng có kẻ sọc màu đen tại phòng ngủ của B.
Ngày 11/10/2023, Cơ quan điều tra tiến hành cho Lăng Văn B thực nghiệm hành vi bán ma tuý cho Chung Văn C. Kết quả thực nghiệm điều tra phù hợp với lời khai của Lăng Văn B, Chung Văn C, Nịnh Văn H2, phù hợp với hiện trường vụ án.
Trong các ngày 02,10/10/2023 cơ quan điều tra đã tiến hành kiểm tra điện thoại của Lăng Văn B, Chung Văn C, Nịnh Văn H2, Dương Văn T. Kết quả: Tại điện thoại của C, xác định có cuộc gọi liên quan đến việc mua bán ma túy; kiểm tra điện thoại của H1 không thu giữ được thông tin gì liên quan do H1 xác định đã xoá các cuộc gọi cho C; kiểm tra điện thoại của T do T quên mật khẩu zalo, facebook nên Cơ quan điều tra không kiểm tra được; điện thoại của B không thu giữ được thông tin gì có liên quan đến hành vi phạm tội. Ngày 01/11/2024, Cơ quan điều tra đã ra Lệnh thu giữ điện tín đối với hai số thuê bao điện thoại 0397.472.xxx và 0373.225.198 của Chung Văn C và Nịnh Văn H1 từ ngày 29/9/2023 đến 02/10/2023. Kết quả xác định tại thời điểm 08 giờ 26 phút ngày 02/10/2023, Nịnh Văn H1 có gọi điện cho Chung Văn C.
Ngày 14/11/2023, Cơ quan điều tra ra Quyết định trưng cầu giám định kỹ thuật số điện tử đối với 03 (ba) chiếc điện thoại đã tạm giữ của Nịnh Văn H1, Chung Văn C và Lăng Văn B. Tại Kết luận giám định số 2388/KL-KTHS ngày 08/12/2023 của Phòng K Công an tỉnh B xác định tại điện thoại Iphone6 plus của Chung Văn C vào ngày 02/10/2023 có cuộc gọi đến số điện thoại của Nịnh Văn H1, tin nhắn với H2 hỏi xe (T) và có tin nhắn báo thể hiện chị M chuyển 220.000đ cho C. Kiểm tra dữ liệu
điện thoại OPPOA3S của Nịnh Văn H1 và điện thoại di động Redmi 9A của T không có nội dung nào liên quan đến hành vi phạm tội.
Từ những nội dung nêu trên, bản Cáo trạng số 50/CT-VKS-HS ngày 22 tháng 3 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang đã truy tố bị cáo Lăng Văn B về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Lăng Văn B đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản Cáo trạng đã truy tố, về chiếc điện thoại Nokia bị thu giữ bị cáo xác định không xử dụng vào việc phạm tội, nhưng bị cáo không đề nghị được nhận lại.
Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã công bố lời khai của những người này trong quá trình điều tra. Bị cáo không có ý kiến gì về lời khai của những người này.
Sau phần xét hỏi, tại phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang vẫn giữ nguyên quan điểm như bản Cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo Lăng Văn B, đề nghị Hội đồng xét xử:
1. Về hình phạt: Căn cứ khoản 1, 5 Điều 251; điểm s khoản 1, 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Lăng Văn B từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam (ngày 10/10/2023). Phạt bổ sung đối với bị cáo từ 5 đến 6 triệu đồng để sung công quỹ Nhà nước.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự để xử lý vật chứng như sau:
- - Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì ký hiệu “QT1” (do Phòng K Công an tỉnh B hoàn lại sau giám định); 01 túi nilon màu trắng có chữ “Flexible” đựng nhiều ống hút nhựa nhiều màu sắc khác nhau, số lượng nhiều không kiểm đếm; 01 túi nilon màu trắng có chữ “Flexible” đựng nhiều đoạn ống nhựa nhiều màu sắc khác nhau đều đã bị cắt ngắn, số lượng nhiều không kiểm đếm; 01 đoạn dây vải màu trắng có kẻ sọc màu đen.
- - Tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 điện thoại di động NOKIA 105, mầu đen loại bàn phím cơ, số seri 35768106157847.
3. Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Lăng Văn B phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo không tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát.
Thực hiện lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện L, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt. Hội đồng xét xử thấy trong hồ sơ đã có đầy đủ lời khai thể hiện quan điểm của họ và sự vắng mặt của họ không gây ảnh hưởng đến việc xét xử. Căn cứ vào các Điều 292, 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt những người này.
[3] Về những chứng cứ xác định bị cáo có tội: Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ, kết luận giám định cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ cơ sở kết luận khoảng 09 giờ ngày 02/10/2023, tại nơi ở của Lăng Văn B ở thôn T, xã B, huyện L, B đã có hành vi bán trái phép 0,043gam ma tuý heroin, được đựng trong 01 ống nhựa màu cam (loại ống hút nước) với giá 190.000 đồng cho Chung Văn C. Sau khi mua được ma tuý, C đã đưa cho Nịnh Văn H1, H1 đã giấu số ma tuý trên ở chậu cây trước cửa nhà của mình ở thôn Đ, xã Đ, huyện L thì bị tổ công tác Công an xã Đ phát hiện thu giữ.
[4] Về áp dụng pháp luật hình sự đối với các bị cáo: Hành vi nêu trên của bị cáo Lăng Văn B đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang truy tố bị cáo Lăng Văn B về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội và đúng quy định pháp luật.
[5] Về tính chất của vụ án: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến việc độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nước, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an ở địa phương và đời sống xã hội. Ma tuý là hiểm hoạ của loài người, làm sói mòn nếp sống văn minh và đạo đức xã hội. Ma tuý còn làm lây lan các loại dịch bệnh xã hội, ngoài ra ma túy còn là nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm nguy hiểm khác. Trong lúc toàn Đảng, toàn dân ta và cả nhân loại trên thế giới đang kịch liệt đấu tranh để phòng chống các loại tội phạm này, bị cáo vẫn liều lĩnh thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy để thu lợi bất chính. Do đó cần phải xử lý nghiêm đối với bị cáo nhằm giáo dục riêng cũng như để đấu tranh phòng ngừa đối với loại tội phạm này nói chung. Tuy nhiên khi lượng
hình, Hội đồng xét xử cũng xem xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để quyết định mức án phù hợp với hành vi phạm tội của bị cáo.
[6] Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy:
Về nhân thân: Bị cáo Lăng Văn B đã bị xử phạt hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy và chưa nộp phạt nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học mà còn tiếp tục mua bán trái phép chất ma túy. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử tại phiên tòa hôm nay, thấy rằng bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Khi bị phát hiện đã ra đầu thú, có bố tham gia cách mạng được tặng thưởng huy chương nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[7] Về mức hình phạt đối với bị cáo: Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm tới độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy nên Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát mới đủ điều kiện để cải tạo bị cáo thành công dân có ích cho xã hội.
[8] Về hình phạt bổ sung, bị cáo phạm tội với mục đích thu lời bất chính nên cần áp dụng khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ.
[9] Đối với nguồn gốc số ma tuý trên, Lăng Văn B khai là do B mua của một người phụ nữ không quen biết vào sáng ngày 01/10/2023 với số tiền 200.000đồng tại gần khu vực cây xăng xã B, huyện L, mục đích để sử dụng. Sau khi mua được ma tuý, B đã đem về nhà sử dụng một phần, phần còn lại ngày 02/10/2023 B bán cho Chung Văn C. Do B khai không biết tên, tuổi, địa chỉ của người phụ nữ bán ma tuý nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý.
Quá trình điều tra Dương Văn T khai: Ngày 02/10/2023 T không biết việc C nhắn tin rủ đi mua ma túy và không biết việc C, H2 đi mua ma túy của B. Tuy nhiên trước đó T đã từng mua ma túy tại nhà Lăng Văn B 01 lần, cụ thể vào đêm ngày 29/9/2023 T cùng H2 đến nhà B mua ma túy về để sử dụng. Khi đến nơi thì H2 đứng ngoài cổng đợi, còn T trực tiếp vào sân mua ma túy, tuy nhiên do trời tối nên T không nhìn rõ người bán ma tuý cho T là ai; H2 khai đứng ngoài cổng, không biết T mua ma tuý của ai. Lăng Văn B không thừa nhận bán ma túy cho T. Chung Văn C khai ngoài mua ma túy của Bắc ngày 02/10/2023, thì cách đó khoảng 2 đến 3 tháng, C đã mua ma tuý của B khoảng 7 đến 8 lần để sử dụng, mỗi lần mua khoảng từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng. Cơ quan điều tra đã tiến hành cho Dương Văn T; Chung Văn C đối chất với Lăng Văn B nhưng các bên vẫn giữ nguyên lời khai của mình. Ngoài lời khai của T, C không có tài liệu, chứng cứ nào khác chứng minh trước đó B bán ma tuý cho T, C như lời khai của T, C, do đó không có căn cứ để xử lý đối với Lăng Văn B về hành
vi bán ma túy cho T, C trước đó. Ngoài ra Dương Văn T còn khai nhận ngày 01/10/2023 T mua ma tuý của một người đàn ông không rõ tên, tuổi, địa chỉ ở khu vực thôn B, xã B, huyện L với giá 100.000 đồng về sử dụng; Chung Văn C và Nịnh Văn H1 khai ngoài ngày 02/10/2023, C còn mua ma tuý hộ H1 khoảng 1 đến 2 lần của người đàn ông lạ mặt ở khu vực xã B, huyện L nhưng cả T, C không biết người bán ma túy là ai, ở đâu nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý đối với những người này.
Đối với Nịnh Văn H1 có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy với khối lượng 0,043gam, loại Heroine, mục đích để sử dụng; Chung Văn C và Nịnh Văn H2 có hành vi giúp sức đi mua ma tuý hộ mang về cho Nịnh Văn H1 sử dụng; bản thân Nịnh Văn H1, Chung Văn C, Nịnh Văn H2 đều không có tiền án, tiền sự về các tội liên quan đến ma túy. Do vậy, hành vi trên của H1, C, H2 chưa đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại Điều 249 Bộ luật hình sự. Ngày 06/3/2024, Công an huyện L đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với H1, C, H2 về hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý là có căn cứ.
Đối với chị Nguyễn Thị M, anh La Văn C1 không biết việc H1, C nhờ chuyển tiền để đi mua ma tuý nên Cơ quan điều tra không xem xét xử lý đối với chị M, anh C1 là có căn cứ.
Đối với 01 túi nilon màu trắng có chữ “Flexible” đựng nhiều ống hút nhựa nhiều màu sắc khác nhau và 01 túi nilon màu trắng có chữ “Flexible” đựng nhiều đoạn ống nhựa nhiều màu sắc khác nhau (đều đã bị cắt ngắn được thu giữ trong phòng ngủ của Lăng Văn B, quá trình điều tra B khai toàn bộ số ống hút trên đều là của B, B mua về để đựng ma túy sử dụng dần và dùng để uống nước; 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA, màu đen thu giữ của B là tài sản cá nhân của B, không liên quan đến hành vi phạm tội; đối với 01 đoạn dây vải màu trắng có kẻ sọc màu đen, thu giữ tại phòng ngủ của B là dây giầy của B, B sử dụng đoạn dây trên để buộc với đoạn dây điện buộc vào 01 lọ nhựa màu trắng dùng để lấy tiền mua ma tuý của C. Sau khi bán ma tuý cho C xong, B tháo lấy đoạn dây vải trên vứt ở trong phòng ngủ của B, còn đoạn dây điện buộc lọ nhựa B đã vứt xuống dưới sân nhà B, Cơ quan điều tra đã tiến hành truy tìm để thu giữ nhưng không thu giữ được.
[10] Về xử lý vật chứng:
+ Đối với các đồ vật tài liệu không liên quan đến hành vi phạm tội của Lăng Văn B, ngày 06/3/2024, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng, trả lại tài sản cho chủ sở hữu. Cùng ngày, Nịnh Văn H1 đã nhận lại 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A3S; Chung Văn C, nhận lại 01 điện thoại di động nhãn hiệu iPhone, loại iPhone 6 Plus; bà Nịnh Thị S, sinh năm 1977, trú tại thôn Đ, xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang (là mẹ đẻ của Dương Văn T - chủ sở hữu điện thoại) đã nhận lại 01 điện thoại
Redmi 9A; Dương Văn T đã nhận lại 01 xe mô tô BKS 98L8-5838. Nên Hội đồng xét xử không đặt ra xe xét.
+ Đối với số vật chứng còn lại gồm: 01 phong bì ký hiệu “QT1” (do Phòng K Công an tỉnh B hoàn lại sau giám định) là vật cấm; 01 túi nilon màu trắng có chữ “Flexible” đựng nhiều ống hút nhựa nhiều màu sắc khác nhau, số lượng nhiều không kiểm đếm; 01 túi nilon màu trắng có chữ “Flexible” đựng nhiều đoạn ống nhựa nhiều màu sắc khác nhau đều đã bị cắt ngắn, số lượng nhiều không kiểm đếm là vật ít giá trị; 01 đoạn dây vải màu trắng có kẻ sọc màu đen là vật phạm tội ít giá trị nên cần tịch thu tiêu hủy.
- 01 điện thoại di động NOKIA 105, mầu đen loại bàn phím cơ, số seri 35768106157847 không sử dụng vào việc phạm tội nhưng bị cáo không đề nghị được nhận lại nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.
[11] Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, cần buộc bị cáo Lăng Văn B phải chịu án phí hình sự sơ thẩm như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ.
[12] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1, 5 Điều 251; điểm s khoản 1, 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Lăng Văn B 02 năm 09 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam (ngày 10/10/2023). Phạt bổ sung đối với bị cáo 5.000.0000đồng để sung quỹ Nhà nước.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự để xử lý vật chứng như sau:
- - Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì ký hiệu “QT1” (do Phòng K Công an tỉnh B hoàn lại sau giám định); 01 túi nilon màu trắng có chữ “Flexible” đựng nhiều ống hút nhựa nhiều màu sắc khác nhau, số lượng nhiều không kiểm đếm; 01 túi nilon màu trắng có chữ “Flexible” đựng nhiều đoạn ống nhựa nhiều màu sắc khác nhau đều đã bị cắt ngắn, số lượng nhiều không kiểm đếm; 01 đoạn dây vải màu trắng có kẻ sọc màu đen.
- - Tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 điện thoại di động NOKIA 105, mầu đen loại bàn phím cơ, số seri 35768106157847.
- Về án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Lăng Văn B phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
T. M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Lương Thị Ngọc Hà |
Bản án số 51/2024/HS-ST ngày 17/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 51/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: khoảng 09 giờ ngày 02/10/2023, tại nơi ở của Lăng Văn Bắc ở thôn Thùng Thình, xã Biển Động, huyện Lục Ngạn, Bắc đã có hành vi bán trái phép 0,043gam ma tuý heroin, được đựng trong 01 ống nhựa màu cam (loại ống hút nước) với giá 190.000 đồng cho Chung Văn Chuyên. Sau khi mua được ma tuý, Chuyên đã đưa cho Nịnh Văn Hùng, Hùng đã giấu số ma tuý trên ở chậu cây trước cửa nhà của mình ở thôn Đèo Gia, xã Đèo Gia, huyện Lục Ngạn thì bị tổ công tác Công an xã Đèo Gia phát hiện thu giữ
