Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ LONG KHÁNH

TỈNH ĐỒNG NAI

Bản án số: 51/2024/HSST.

Ngày: 16/4/2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH TỈNH ĐỒNG NAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Bà Trương Thị Mỹ Lệ.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Đinh Văn Thông

2. Hoàng Thanh Tâm

Thư ký phiên tòa: Bà Dương Bùi Minh Thư, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh tham gia phiên tòa: Bà Trần Huỳnh Như Thuỷ - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 4 năm 2024, Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 58/2024/TLST-HS ngày 01 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 44/2024/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:

NGUYỄN ANH H

(tên gọi khác: không), sinh năm 1992 tại Đồng Nai; nơi thường trú: ấp Đ, xã X, huyện C, Đồng Nai; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên chúa; Nghề nghiệp: Thợ sửa xe máy; Trình độ văn hóa: 7/12; con ông Nguyễn Hữu T, sinh năm 1969 (đã chết) và bà Trần Thị Kim H1, sinh năm 1973 (đã chết); Vợ, con: chưa có; Tiền án, tiền sự: không

Nhân thân:

  • + Ngày 24/02/2009, bị Toà án nhân dân huyện Cẩm Mỹ xử phạt 10 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 05/2009/HSST.
  • + Ngày 18/9/2009, bị Toà án nhân dân huyện Cẩm Mỹ xử phạt 08 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 43/2009/HSST, tổng hợp hình phạt với Bản án số 05/2009/HSST, buộc bị cáo Nguyễn Anh H2 chấp hành hình phạt chung 01 năm 06 tháng tù giam, chấp hành xong ngày 30/08/2010.
  • + Ngày 08/5/2012, bị Toà án nhân dân huyện Cẩm Mỹ xử phạt 03 năm tù giam về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 16/2012/HSST.
  • + Ngày 24/7/2012, Toà án nhân dân huyện Cẩm Mỹ, Đồng Nai xử phạt 03 năm 06 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 32/2012/HSST. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Nguyễn Anh H2 chấp hành hình phạt chung 06 năm 06 tháng tù giam. Chấp hành xong ngày 25/06/2018.

Bị cáo H2 bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/10/2023 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: bà Trần Thị Ánh T1, sinh năm 1984. Địa chỉ: khu phố S, phường S, thành phố L, tỉnh Đồng Nai. (Vắng mặt tại phiên tòa)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Hoàng Thị T2, sinh năm 1995. Địa chỉ: ấp G, xã L, huyện L, tỉnh Bình Phước. (Vắng mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 12 giờ, ngày 10/10/2023, Nguyễn Anh H2 điều khiển xe môtô nhãn hiệu Yamaha Exiter 150, màu xanh đen, biển số: 59E1- 92427 đi từ phòng trọ ở tỉnh Bình Dương đến xã X, huyện C, Đồng Nai để thăm bà nội. Đến nơi thì H2 đổi ý nên không ghé thăm bà nội mà quay về lại Bình Dương. Trên đường đi tới ngã ba đèn xanh, đèn đỏ giao nhau giữa tuyến đường Q và Quốc lộ E, thuộc khu phố C, phường X, thành phố L, H2 nhìn thấy chị Trần Thị Ánh T1 điều khiển xe môtô và đang dừng đèn đỏ nghe điện thoại, nghe xong chị T1 để điện thoại vào túi quần bên trái và bị hở ra một nửa. Lúc này, H2 nảy sinh ý định chiếm đoạt điện thoại của chị T1 nên điều khiển xe môtô đi theo phía sau xe của chị T1, được khoảng 500 mét thì H2 thấy xung quanh không có người nên đã tăng ga đi lên và áp sát phía bên trái xe của chị T1, dùng tay phải giật chiếc điện thoại trong túi quần trái của chị T1, bỏ vào ngăn đựng đồ trên xe của mình rồi nhanh chóng tăng ga bỏ chạy theo Quốc lộ A hướng về Thành phố Hồ Chí Minh. Khi đi đến tượng đài L, H2 rẽ phải đi vào trung tâm thành phố L, chạy vòng qua nhiều tuyến đường khác nhau thuộc huyện X, huyện C, ra đến Quốc lộ B về lại nhà trọ ở Bình Dương.

Sau khi lấy được điện thoại, H2 lên mạng xã hội Facebook tìm người mua. Có một tài khoản Facebook để lại số điện thoại cho H2 kết bạn và trao đổi qua mạng xã hội Telegram. Người mua hướng dẫn cho H2 đi qua nhiều con hẻm ở Thành phố Hồ Chí Minh (không nhớ được cụ thể địa điểm) và gặp nhau tại một con hẻm, H2 bán chiếc điện thoại trên với giá 7.000.000 đồng. Sau khi mua bán thì người mua xóa luôn tài khoản cá nhân Telegram nên H2 không còn liên lạc được nữa, H2 sử dụng 7.000.000 đồng vào việc tiêu xài cá nhân. Đến ngày 20/10/2023, H2 bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L phát hiện, bắt giữ.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 125 ngày 04/12/2023, Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thành phố L, kết luận: Một điện thoại hiệu Iphone 14 Promax-128G, màu tím, đã qua sử dụng, chưa thu hồi được tang vật (tại thời điểm ngày 10/10/2023), có giá trị là 22.547.200 đồng.

Vật chứng của vụ án:

  • - 01 xe môtô nhãn hiệu Yamaha Exiter 150, màu đen xanh, bánh xe mâm màu trắng, biển số: 59E1-92427; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe biển số: 59E1-92427 mang tên Đỗ Hoàng Đ và 01 giấy bán xe của cửa hàng mua bán xe P, địa chỉ: H - H Â, phường T, quận T, TP., qua xác minh là xe môtô của H2.
  • - 01 điện thoại di động Iphone XS max, màu vàng Gold, số máy: MT732ZA/A, H2 sử dụng để truy cập vào ứng dụng mạng xã hội Facebook và T3 tìm người và tiêu thụ tài sản cướp giật được.
  • - 01 áo sơ mi dài tay màu xanh bạc; 01 áo khoác vải màu đỏ trắng đen, trên áo có ghi chữ Honda Racing (đã chụp hình lưu hồ sơ), 01 điện thoại di động Samsung A12, màu xanh, số Sêri: R58RC3PYSLR, Cơ quan điều tra đã trả lại cho H2.

Về dân sự: chị T1 đã nhận số tiền bồi thường 22.000.000 đồng, không yêu cầu gì thêm về dân sự.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận định giá tài sản số 125/HĐĐGTTTHS ngày 04/12/2023.

Tại bản cáo trạng số 55/CT-VKSLK ngày 31/3/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh truy tố bị cáo Nguyễn Anh H2 về tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 của Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị áp dụng điểm d khoản 2 điều 171; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Nguyễn Anh H2 từ 05 năm đến 06 năm tù.

Đề nghị tịch thu sung công 01 xe môtô nhãn hiệu Yamaha Exiter 150, màu đen xanh, bánh xe mâm màu trắng, biển số: 59E1-92427 và 01 điện thoại di động Iphone XS max, màu vàng Gold, số máy: MT732ZA/A.

Những người tham gia tố tụng đồng ý đối với quyết định truy tố của Viện kiểm sát.

Trước khi Hội đồng xét xử nghị án, bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo đã biết hành vi của mình là sai, gửi lời xin lỗi đến chị T1, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt dể bị cáo có cơ hội làm lại cuộc đời.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo H2 thừa nhận vào khoảng 12 giờ ngày 10/10/2023, tại đoạn đường Q thuộc khu phố C, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai, H2 đã điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exiter 150, biển số 59E1-92427 của mình tăng tốc, áp sát, giật điện thoại Iphone 14 Promax của chị T1 và nhanh chóng tẩu thoát.

Lời khai của bị cáo phù hợp với nội dung các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cướp giật tài sản” với tình tiết định khung tăng nặng “Dùng thủ đoạn nguy hiểm” được quy định tại điểm d khoản 2 điều 171 Bộ luật hình sự năm 2015.

[3] Đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội: Bị cáo là công dân đã trưởng thành, có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình, do lười lao động nhưng muốn có tiền tiêu xài nên đã cướp giật tài sản của người khác. Hành vi của bị cáo gây nguy hiểm cao cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác. Bị cáo có nhân thân xấu do có 04 lần bị kết án về tội trộm cắp tài sản đã được xoá án tích vì vậy cần áp dụng mức hình phạt tù nghiêm tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

[4] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tặng nặng. Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo đã tự nguyện bồi thường toàn bộ thiệt hại, người bị hại có đơn bãi nại và giảm nhẹ cho bị cáo là những tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự nên xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

[5] Về trách nhiệm dân sự: chị T1 đã nhận số tiền bồi thường 22.000.000 đồng, không yêu cầu gì về dân sự nên không xem xét.

[6] Về vật chứng: 01 xe môtô nhãn hiệu Yamaha Exiter 150, màu đen xanh, bánh xe mâm màu trắng, biển số: 59E1-92427 và 01 điện thoại di động Iphone XS max, màu vàng Gold, số máy: MT732ZA/A là các phương tiện mà bị cáo đã sử dụng vào việc phạm tội, tiêu thụ tài sản cướp giật nên tịch thu sung quỹ nhà nước.

01 áo sơ mi dài tay màu xanh bạc; 01 áo khoác vải màu đỏ trắng đen, trên áo có ghi chữ Honda Racing (đã chụp hình lưu hồ sơ), 01 điện thoại di động Samsung A12, màu xanh, số Sêri: R58RC3PYSLR không liên quan đến hành vi phạm tội nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho H2 là phù hợp.

[7] Các vấn đề khác: Đối với người mua điện thoại của H2, H2 không lưu số điện thoại và xoá tài khoản Telegram nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố L không truy tìm được, không xử lý là phù hợp.

Chị Hoàng Thị T2 là người thay bị cáo bồi thường cho bị hại số tiền 22.000.000 đồng, chị T2 không có ý kiến yêu cầu bị cáo phải hoàn trả số tiền trên nên không xem xét.

[8] Về án phí: bị cáo Nguyễn Anh H2 phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

[9] Quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh được chấp nhận với những phần phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Áp dụng điểm d khoản 2 điều 171, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
  • Tuyên bố bị cáo Nguyễn Anh H2 phạm tội “Cướp giật tài sản”.
  • Xử phạt bị cáo Nguyễn Anh H2 03 (ba) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 20 tháng 10 năm 2023.
  • - Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
  • Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 xe môtô nhãn hiệu Yamaha Exiter 150, màu đen xanh, bánh xe mâm màu trắng, biển số: 59E1-92427 (kèm theo xe là 01 giấy chứng nhận đăng ký xe bản sao công chứng biển số 59 E1-92427 mnag tên Đỗ Hoàng Đ, 01 giấy bán xe của cửa hàng mua bán xe P, địa chỉ 8 Â, phường T, quận T, thành phố Hồ Chí Minh) và 01 điện thoại di động Iphone XS max, màu vàng Gold, số máy: MT732ZA/A (Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 11/4/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Khánh).
  • - Áp dụng nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Nguyễn Anh H2 phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tính kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Đồng Nai;
  • - VKSND tỉnh Đồng Nai;
  • - Công an TP. Long Khánh;
  • - VKSND TP. Long Khánh;
  • - Thi hành án TP. Long Khánh;
  • - Bị cáo;
  • - Hồ sơ thi hành án;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu án văn;
  • - Hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa

Trương Thị Mỹ Lệ

5

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 51/2024/HSST ngày 16/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH TỈNH ĐỒNG NAI về hình sự sơ thẩm về tội cướp giật tài sản

  • Số bản án: 51/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Cướp giật tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: nguyễn anh h
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger