TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA TỈNH SƠN LA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 51/2024/HS-ST Ngày 15/8/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm và những người tiến hành tố tụng tại điểm cầu Trung tâm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: ông Lê Lương Anh.
Các Hội thẩm nhân dân:
- bà Nguyễn Thị Kim Cúc.
- bà Nguyễn Thị Ngọc Lan.
- Thư ký phiên toà: ông Hà Văn Tía - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La tham gia phiên toà: bà Nguyễn Thị Quỳnh Lan - Kiểm sát viên.
Tại điểm cầu thành phần Nhà tạm giữ Công an thành phố S:
- Ông Đỗ Anh T – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La.
- Người tham gia tố tụng khác: Cán bộ Công an dẫn giải gồm có Thiếu tá Trần Hùng V và Đại úy Lò Văn M – Cán bộ Đội hỗ trợ tư pháp và thi hành án hình sự Công an thành phố S.
Ngày 15 tháng 08 năm 2024 tại điểm cầu Trung tâm trụ sở Toà án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La và điểm cầu thành phần Nhà tạm giữ Công an thành phố S xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 54/2024/TLST-HS, ngày 29/7/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 54/2024/QĐXXST-HS, ngày 04/8/2024 đối với bị cáo:
Trần Văn L (tên gọi khác: Không), sinh ngày 04 tháng 01 năm 1975 tại huyện V, tỉnh Nam Định. Thường trú tại tổ C, phường C, thành phố S; Tạm trú tại tổ E, phường Q, thành phố S, tỉnh Sơn La; Trình độ học vấn: 8/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo, đảng phái, đoàn thể: Không. Con ông Trần Đức L1 (đã chết) và con bà Lê Thị C, sinh năm 1952, có vợ là Bùi Thị H, sinh năm 1979 và có 02 con (con lớn sinh năm 2010, con nhỏ sinh năm 2017). Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Bị Tòa án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La xử phạt 24 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo bản án số 30/2010/HSST, ngày 17/12/2010 (bị cáo đã được xóa án tích). Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 19 tháng 12 năm 2023 đến nay, bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi liên quan: bà Bùi Thị H, sinh năm 1979, trú tại tổ C, phường C, thành phố S, tỉnh Sơn La, có mặt tại phiên tòa tại điểm cầu Trung tâm.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 10 giờ 20 phút, ngày 19/12/2023, tổ công tác phường C, công an thành phố S làm nhiệm vụ tại khu vực tổ E, phường Q, thành phố S phát hiện bắt quả tang Trần Văn L đang có hành vi cất giữ trái phép chất ma túy.
Vật chứng thu giữ gồm:01 gói bằng 03 lớp nilon màu trắng, bên trong có chứa các cục bột màu trắng (L khai đây là ma túy heroine của bản thân); 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda loại Wave, màu sơn xanh, BKS 35B1 509.20, xe đã cũ, qua sử dụng.
Ngày 19/12/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố S đã thành lập Hội đồng bóc mở niêm phong, cân tịnh và lấy mẫu giám định vật chứng, kết quả cân tịnh: Số cục bột màu trắng ghi là ma túy thu giữ của Trần Văn L có khối lượng 0,15 gam; lấy 0,06 gam làm mẫu gửi giám định, ký hiệu T, còn lại 0,09 gam cho vào túi ni lon màu trắng dán kín lại làm mẫu lưu kho ký hiệu L.
Cùng ngày, cơ quan cảnh sát điều tra công an thành phố S ra quyết định trưng cầu giám định số 319/QĐ – ĐCSKT – MT, trưng cầu Phòng PC 09 – Công an tỉnh S để giám định chất ma túy.
Tại bản kết luận giám định số 65/KL-KTHS, ngày 21/12/2023 của phòng K Công an tỉnh S kết luận: "Mẫuký hiệu T gửi giám định là ma túy; loại Heroine; khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,06 gam.Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,15 gam, loại Heroine".
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Trần Văn L khai nhận hành vi phạm tội như sau:Bị cáo sử dụng chất ma túy từ năn 2009.Khoảng 9 giờ 15 phút ngày 18/12/2023, bị cáo điều khiển xe máy nhãn hiệu Honđa Wave, BKS 35B1 509.20 đi từ khu vực tổ C phường C đến khu vực tổ C, phường C tìm mua ma túy để sử dụng. Khi đến khu vực trước cổng nhà máy G, bị cáo gặp một người đàn ông không quen biết đang đứng ở lề đường, qua trao đổi, bị cáo hỏi và mua được của người đàn ông này 01 gói ma túy với giá là 200.000,đ. Sau khi mua được ma túy bị cáo cất giấu vào túi quần bên phải đang mặc rồi điều khiển xe máy đi tìm nơi để sử dụng, khi đi đến khu vực tổ E, phường Q, bị cáo dừng xe thì gặp tổ công tác công an phường C, kiểm tra, phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng.
Người có quyền lợi liên quan bà Bùi Thị H trình bày: Bà là vợ của bị cáo Trần Văn L, trong thời gian chung sống hai vợ chồng có tiết kiệm được một khoản tiền và đưa cho chồng là bị cáo L đi mua một chiếc xe máy cũ đã qua sử dụng để làm phương tiện đi lại cho gia đình, sau khi mua được chiếc xe máy thì hai vợ chồng vẫn chưa làm thủ tục sang tên, chuyển đổi quyền sở hữu, chiếc xe máy trên vẫn giữ nguyên giấy đăng ký xe của người chủ xe đầu tiên. Việc bị cáo sử dụng chiếc xe máy trên vào hành vi phạm tội thì bà không được biết. Từ khi chồng của bà là bị cáo L bị bắt giam và bị tạm giữ chiếc xe máy thì bà phải đi làm bằng xe đạp.Gia đình chỉ có duy nhất một chiếc xe máy đó để làm phương tiện đi lại. Do gia đình có hoàn cảnh khó khăn nên bà có nguyện vọng xin lại chiếc xe máy để phục vụ việc đi lại của gia đình.
Do có hành vi nêu trên tại bản Cáo trạng số 72/CT-VKSTP, ngày 29/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La truy tố bị cáo Trần Văn L về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tại phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La giữ quyền công tố tại phiên toà trình bày lời luận tội, sau khi phân tích đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, cũng như qua xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử:
- Tuyên bố bị cáo Trần Văn L phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
- Áp dụng điểm c khoản 1điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51 Bộ luật Hình sự:
- -Xử phạt bị cáo Trần Văn L từ 16 đến 20tháng tù.
- Vật chứng vụ án: Áp dụng điểm c khoản 1, khoản 2điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2, điểm b khoản 3 điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:
- - Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì công văn do công an thành phố S phát hành bên trong có 0,09 gam Heroine ký hiệu L; 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở; 03mảnh nilon màu trắng.
- - Trả lại cho bà Bùi Thị H quản lý, sử dụng chiếc xe máy nhãn hiệu Honđa Wave, BKS 35B1 509.20, đã cũ, qua sử dụng.
- - Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, bị cáo Trần Văn L nhận tội và không có ý kiến tranh luận gì với vị đại diện Viện kiểm sát, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố S, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Bị cáo, người có quyền lợi liên quan không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
[2] Xét hành vi phạm tội của bị cáo: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, qua xét hỏi bị cáo Trần Văn L khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng mà Viện kiểm sát thành phố S đã truy tố đối với bị cáo. Căn cứ lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác mà Cơ quan điều tra đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở pháp lý kết luận: Ngày 19/12/2023, Trần Văn L đã có hành vi cất giấu trái phép 0,15 gam Heroine với mục đích sử dụng thì bị phát hiện, bắt quả tang.
Hành vi phạm tội của bị cáo được chứng minh bằng các căn cứ: Lời khai nhận tội của bị cáo; Biên bản bắt người phạm tội quả tang cùng vật chứng thu giữ là 0,15 gam loại Heroine; Biên bản niêm phong vật chứng; Biên bản mở niêm phong kiểm tra vật chứng và niêm phong lại; Kết luận giám định số 65/KL-KTHS, ngày 21/12/2023 của phòng K Công an tỉnh S; Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người chứng kiến việc bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với kết luận điều tra.
Như vậy có đủ cơ sở kết luận bị cáo Trần Văn L đã phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1điều 249 Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La truy tố và Tòa án nhân dân thành phố Sơn La xét xử bị cáo về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự, khung hình phạt có mức hình phạt tù từ 01 năm đến 05 năm và thuộc trường hợp nghiêm trọng là chính xác, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan sai.
[3] Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo Hội đồng xét xử thấy rằng: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ chính sách quản lý chất ma túy của Nhà nước. Bị cáo nhận thức rõ tác hại của ma túy và hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện. Xét cần xử phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhằm trừng trị, giáo dục bị cáo và nhằm răn đe phòng ngừa chung.
Tuy nhiên khi áp dụng hình phạt cần cân nhắc về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo.
Về nhân thân:Bị cáo có nhân thân xấu. Trước đó bị cáo đã bị Tòa án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La xử phạt 24 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo bản án số 30/2010/HSST, ngày 17/12/2010 (bị cáo đã được xóa án tích).
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 điều 52 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo có bố đẻ là ông Trần Đức L1 là thương binh trong cuộc kháng chiến bảo vệ Tổ quốc, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2điều 51 Bộ luật Hình sự, do đó cần xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt để thể hiện tính khoan hồng, nhân đạo của pháp luật.
Căn cứ vào các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, cần lên mức án tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo, bị cáo đã một lần bị xét xử về tội phạm hình sự và đã phải đi chấp hành hình phạt tù xong, đáng lẽ ra lần đi chấp hành hình phạt tù của bản án trước đây phải là bài học cho bị cáo để sửa chữa sai lầm, khuyết điểm của mình nhưng bị cáo không chịu khó rèn luyện, tu dưỡng bản thân, nay lại tiếp tục phạm tội, do đó cần phải có một bản án nghiêm khắc đối với bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm đảm bảo biện pháp cải tạo giáo dục riêng đối với bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung, thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật.
[4] Về vật chứng vụ án: Đối với 0,09 gam Heroine còn lại sau khi trừ giám định, ký hiệu L; 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở; 03mảnh nilon màu trắng, xét là vật Nhà nước cấm lưu hành và không có giá trị sử dụng, do đó cần tịch thu, tiêu hủy là phù hợp với quy định tại điều 47 Bộ luật hình sự và điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Honđa Wave, BKS 35B1 509.20, đã cũ, qua sử dụng, xác định là tài sản chung của vợ chồng bị cáo, được hình thành trong thời kỳ hôn nhân, đây là phương tiện, công cụ mà bị cáo đã sử dụng vào hành vi phạm tội do vậy cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước, tuy nhiên khi bị cáo sử dụng chiếc xe máy này vào việc phạm tội, vợ bị cáo không biết việc bị cáo đã sử dụng chiếc xe máy trên vào hành vi phạm tội, gia đình bị cáo chỉ có duy nhất chiếc xe máy trên làm phương tiện đi lại, để làm phương tiện góp phần nuôi sống gia đình, chiếc xe còn giá trị sử dụng thấp, do đó không cần thiết phải tịch thu mà xem xét trả lại chiếc xe máy trên cho vợ bị cáo là Bùi Thị H quản lý, sử dụng.
[5] Đối với người đàn ông bán ma túy cho bị cáo,do bị cáo không biết rõ tên tuổi, địa chỉ. Ngoài lời khai của bị cáo không còn chứng cứ nào khác chứng minh, nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố S không có căn cứ điều tra mở rộng vụ án. Do đó, buộc bị cáo phải chịu trách nhiệm về toàn bộ số ma tuý bị thu giữ.
[6] Về án phí: Do hành vi phạm tội của mình nên cần buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm c khoản 1điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2điều 51; điều 38 Bộ luật Hình sự:
Tuyên bố bị cáo Trần Văn L phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- - Xử phạt bị cáo Trần Văn L (Mười sáu tháng) tù giam. Thời hạn tù tính từ ngày 19/12/2023.
- - Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
2. Về vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1, khoản 2điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2, điểm b khoản 3điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:
- - Tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) chiếc phong bì công văn do Công an thành phố S phát hành, mặt trước phong bì ghi: “Vật chứng lưu kho vụ Trần Văn L, sinh năm 1975 – Tàng trữ trái phép chất ma túy, bắt ngày 19/12/2023. Gồm: 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở; 03 mảnh ni lon màu trắng; mẫu lưu kho L = 0,09 gam”, mặt sau đã được niêm phong, đóng dấu tròn đỏ của cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố S và có chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong.
- - Trả lại 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honđa Wave, màu sơn xanh, BKS 35B1 509.20, số máy: 0431390, số khung: 431222, yên xe rách, cánh yếm bên phải bị vỡ. phanh trước đứt, xe đã cũ, qua sử dụng cho bà Bùi Thị H quản lý, sử dụng.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 12/4/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố S, tỉnh Sơn La và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La).
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 và khoản 1 điều 21, điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Trần Văn L phải chịu 200.000,đ (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: áp dụng điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo Trần Văn L, người có quyền lợi liên quan bà Bùi Thị H quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 25/8/2024)./.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa
Nơi nhận:
| Lê Lương Anh |
Bản án số 51/2024/HS-ST ngày 15/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 51/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trân Văn Luận - Tàng trữ trải phép chất ma túy
