Hệ thống pháp luật

TAND HUYỆN LẠNG GIANG

TỈNH BẮC GIANG

 

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

 

Bản án số: 51/2024/DS-ST

Ngày 15-8-2024

V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Quỳnh Hoa

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đồng Văn Diện

Ông Đoàn Văn Cương

- Thư ký phiên tòa: Ông Hà Quý Đôn- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Ông Vi Đức Thứ- Kiểm sát viên

Ngày 15 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang tiến hành mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 55/2024/TLST-DS ngày 22 tháng 3 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 115/2024/QĐXXST-DS ngày 05 tháng 7 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 95/2024/QĐST-DS ngày 29/7/2024 giữa các đương sự:

-Nguyên đơn: Anh Phạm Văn T, sinh năm 1989 (có đơn xin vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn T1, sinh năm 1985 (vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

-Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

1. Chị Trần Thị D, sinh năm 1990 (vắng mặt)

2. Chị Trần Thị T2, sinh năm 1988 (vắng mặt)

Cùng địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

-Người làm chứng: Anh Trần Đình T3, sinh năm 1985 (có đơn xin vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang

NỘI DUNG VỤ ÁN:

*Tại đơn khởi kiện và đơn khởi kiện bổ sung, bản tự khai và các lời khai tiếp theo nguyên đơn anh Phạm Văn T trình bày: Anh và anh Nguyễn Văn T1 có quan hệ anh em cọc chèo với nhau. Khoảng đầu tháng 8/2022 anh T1 do làm ăn khó khăn nên đã đề nghị anh cho anh Nguyễn Văn T1 vay số tiền là 250.000.000 đồng để anh T1 đảo nợ Ngân hàng. Do có quan hệ anh em trong gia đình mặc dù không có tiền nhưng anh đã mượn tiền của anh Trần Đình T3, sinh năm 1985 ở thôn T, xã T, huyện L số tiền 250.000.000 đồng để cho anh T1 vay. Khi cho vay chỉ nói là vay nóng vài ngày để đảo nợ Ngân hàng, khi anh T1 đảo nợ xong Ngân hàng sẽ trả tiền cho anh, hai bên không thỏa thuận về lãi suất.

Ngày 05/08/2022, anh Trần Đình T3 có chuyển cho anh vay số tiền là 250.000.000 đồng. Sau khi nhận được tiền anh T3 cho vay, cùng ngày 05/08/2022 anh đã chuyển từ tài khoản số [...], mở tại Ngân hàng thương mại cổ phần C- chi nhánh B mang tên chủ tài khoản Phạm Văn T đến số tài khoản 109568999999 mở tại Ngân hàng TMCP C- chi nhánh B mang tên chủ tài khoản Nguyễn Văn T1 với nội dung: “Tiền vay anh T3 Huệ 7575”. số tiền 250.000.0000 đồng để cho anh T1 vay theo như thỏa thuận miệng giữa hai bên. Sau khi chuyển tiền cho anh T1 vay, anh thông báo lại cho anh T1 biết về số tiền đã chuyển khoản, anh T1 cũng đã nói với anh dùng số tiền trên để đảo nợ Ngân hàng, anh T1 hẹn khi nào đảo nợ xong sẽ trả cho anh ngay. Do tin tưởng anh T1 về việc cần gấp tiền để đảo nợ Ngân hàng một vài ngày anh T1 sẽ trả nên hai bên không viết giấy tờ vay mượn.

Việc anh cho anh T1 vay tiền có chị T2 là vợ anh T1 biết. Đến ngày 10/8/2022 anh T1 đã đảo nợ Ngân hàng xong, nhưng không trả tiền cho anh theo thỏa thuận miệng giữa hai bên. Anh đã nhiều lần đến gặp trực tiếp cũng như gọi điện để yêu cầu anh T1 trả nợ số tiền đã vay trên nhưng anh T1 không trả, cố tình trốn tránh không gặp mặt. Khoản tiền anh cho anh T1 vay không liên quan đến chị T2 là vợ của anh T1.

Do vậy anh làm đơn khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết buộc anh Nguyễn Văn T1 phải trả anh số tiền nợ gốc đã vay ngày 05/8/2022 là 250.000.000 đồng và yêu cầu tính tiền lãi chậm trả từ ngày 10/8/2022 đến ngày xét xử 15/8/2024 là 02 năm 05 ngày theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015 mức lãi suất là 10%/năm, số tiền lãi là 50.347.200 đồng. Tổng cộng gốc và lãi là 300.347.200 đồng.

Tại phiên tòa anh Phạm Văn T có đơn vẫn giữ nguyên quan điểm trên và xin xét xử vắng mặt.

*Bị đơn anh Nguyễn Văn T1: Được Tòa án giao thông báo thụ lý vụ án, yêu cầu cung cấp tài liệu chứng cứ, thông báo phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, giấy triệu tập phiên tòa, quyết định đưa vụ án ra xét xử và các văn bản tố tụng khác theo quy định cho người thân là chị Trần Thị T2 là vợ nhận thay và cam kết giao thông báo lại cho anh T1 theo quy định của pháp luật. Nhưng anh Nguyễn Văn T1 không đến Tòa án làm việc từ chối đưa ra ý kiến quan điểm đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại phiên tòa anh Nguyễn Văn T1 được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt lần hai không có lý do.

* Tại bản tự khai, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Trần Thị D trình bày: Chị là vợ anh Phạm Văn T, việc anh T cho anh Nguyễn Văn T1 vay tiền chị không biết và không liên quan gì. Số tiền anh T cho anh T1 vay không phải là tài sản chung của vợ chồng, chị đề nghị Tòa án không đưa chị vào tham gia tố tụng và xin vắng mặt tất cả quá trình giải quyết vụ án.

Tại phiên tòa chị Trần Thị D vắng mặt.

* Tại bản tự khai, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Trần Thị T2 trình bày: Chị là vợ anh Nguyễn Văn T1, năm 2017 anh Nguyễn Văn T1 có thành lập công ty TNHH một thành viên T4, chị có biết việc anh T1 vay của anh Phạm Văn T số tiền là 250.000.000 đồng, tuy nhiên anh T1 vay tiền vào thời điểm nào, số tiền này anh T1 sử dụng mục đích để làm gì chị không được biết. Sau khi vay tiền của anh T xong, chi được biết anh T1 có trả được một phần tiền gốc và lãi cho anh T, còn trả cụ thể số tiền là bao nhiêu, trả bằng hình thức nào chị không biết. Khoảng tháng 3/2023 giữa anh T và anh T1 có ngồi lại thống nhất số tiền anh T1 còn nợ của anh T, tuy nhiên chi tiết số nợ mà anh T và anh T1 thống nhất như thế nào chị không biết và cùng không có tài liệu chứng cứ gì để giao nộp cho Tòa án.

Việc Tòa án giải quyết vụ án theo đơn khởi kiện của anh T chị đã giao các văn bản tố tụng cho anh T1 nhận và được biết, nhưng do anh T1 làm nghề lái xe buổi tối thường về muộn anh T1 không có thời gian đến Tòa án làm việc. Đối với số tiền anh T khởi kiện đề nghị Tòa án buộc anh T1 trả chị không liên quan gì, do là chỗ người nhà chị mong muốn hai bên có thể hòa giải với nhau.

Tại phiên tòa chị Trần Thị T2 vắng mặt.

* Tại bản tự khai người làm chứng anh Trần Đình T3 trình bày: Ngày 05/08/2022 anh có cho anh Phạm Văn T vay số tiền là 250.000.000 đồng, trong đó có 50.000.000 đồng chuyển khoản thông qua tài khoản Ngân hàng và 200.000.000 đồng tiền mặt. Việc anh T sử dụng số tiền này cho anh Nguyễn Văn T1 vay anh không được biết, anh không liên quan đến khoản vay nợ giữa anh T và anh T1. Do không liên quan gì đến vụ án anh xin vắng mặt tất cả quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án.

Tại phiên tòa anh Trần Đình T3 vắng mặt.

*Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang tham gia phiên tòa xét xử sơ thẩm, phát biểu ý kiến: Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án đến trước khi mở phiên tòa Thẩm phán và Thư ký Tòa án tuân theo đúng trình tự tố tụng. Tại phiên tòa HĐXX sơ thẩm thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về phía các đương sự nguyên đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chấp hành nghiêm chỉnh, thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình. Bị anh Nguyễn Văn T1 không chấp hành quy định của Bộ luật tố tụng dân sự từ chối khai báo, tại phiên tòa vắng mặt lần hai không có lý do.

Đề nghị HĐXX căn cứ khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 272, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 463, Điều 466, khoản 2 Điều 470, Điều 357, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015; Khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Phạm Văn T.

Buộc anh Nguyễn Văn T1 phải trả cho anh Phạm Văn T số tiền gốc còn nợ là 250.000.000 đồng (Hai trăm năm mươi triệu đồng) và tiền lãi là 50.347.200 đồng (Năm mươi triệu, ba trăm bốn mươi bẩy nghìn, hai trăm đồng). Tổng cộng là 300.347.200 đồng (Ba trăm triệu, ba trăm bốn mươi bẩy nghìn, hai trăm đồng).

Ngoài ra đại diện Viện kiểm sát còn đề xuất giải quyết về nghĩa vụ chậm trả tiền, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra chứng cứ tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thẩm quyền: Ngày 22/3/2024, Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang thụ lý vụ án theo đơn khởi kiện tranh chấp hợp đồng vay tài sản của anh Phạm Văn T với bị đơn anh Nguyễn Văn T1 có địa chỉ hộ khẩu thường trú tại thôn T, xã T, huyện L là đúng quy định tại khoản 3 Điều 26 và điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Về tố tụng: Qúa trình thụ lý giải quyết vụ án tuân theo đúng trình tự thủ tục quy định của BLTTDS, tại phiên tòa nguyên đơn anh Phạm Văn T, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Trần Thị D có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn anh Nguyễn Văn T1, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Trần Thị T2 vắng mặt lần hai không có lý do. HĐXX căn cứ các Điều 227, Điều 228, Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự theo thủ tục chung.

Về quan hệ tranh chấp: Theo đơn khởi kiện và các tài liệu do canh Phạm Văn T cung cấp thì thấy: Ngày 05/8/2022 anh Phạm Văn T và anh Nguyễn Văn T1 có xác lập hợp đồng miệng vay tài sản bằng hình thức chuyển khoản số tiền gốc anh T đã chuyển khoản cho anh Nguyễn Văn T1 vay là 250.000.000 đồng, thời hạn thỏa thuận miệng cho vay để đảo sổ Ngân hàng, khi đảo sổ xong sẽ phải trả ngay, khi cho vay không thỏa thuận về lãi suất. Hội đồng xét xử xác định quan hệ tranh chấp liên quan đến số tiền trên là tranh chấp hợp đồng vay tài sản quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 463, Điều 466, khoản 2 Điều 470 của Bộ luật dân sự năm 2015.

[2] Về nội dung: Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Phạm Văn T, HĐXX xét thấy:

Căn cứ các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ, căn cứ các sao kê từ tài khoản số [...], mở tại Ngân hàng thương mại cổ phần C- chi nhánh B mang tên chủ tài khoản Phạm Văn T chuyển tiền đến số tài khoản 109568999999 mở tại Ngân hàng TMCP C- chi nhánh B mang tên chủ tài khoản Nguyễn Văn T1 có cơ sở xác định: Do có quan hệ là anh em cọc chèo, anh Phạm Văn T và anh Nguyễn Văn T1 có thống nhất thỏa thuận miệng anh T cho anh T1 vay số tiền là 250.000.000 đồng (Hai trăm năm mươi triệu đồng), mục đích vay để đảo sổ Ngân hàng, thời hạn thanh toán thỏa thuận miệng khi anh T1 đảo sổ Ngân hàng xong sẽ trả tiền cho anh T, hình thức cho vay bằng giao dịch điện tử thông qua tài khoản Ngân hàng.

Theo sự thống nhất thỏa thuận miệng giữa hai bên, ngày 05/8/2022 anh Phạm Văn T đã thực hiện hợp đồng vay tài sản bằng hình thức chuyển tiền từ tài khoản số [...], mở tại Ngân hàng TMCP C- chi nhánh B mang tên chủ tài khoản Phạm Văn T chuyển tiền đến số tài khoản 109568999999 mở tại Ngân hàng TMCP C- chi nhánh B mang tên chủ tài khoản Nguyễn Văn T1 số tiền là 250.000.000 đồng.

HĐXX xét thấy giao dịch dân sự hợp đồng vay tiền xác lập bằng miệng giữa hai bên hoàn toàn phù hợp với quy định tại Điều 116 của Bộ luật dân sự. Khi tham gia giao dịch dân sự anh T, anh T1 đều có đủ năng lực hành vi dân sự, mục đích và nội dung giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái với đạo đức xã hội, người tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện phù hợp với quy định tại Điều 117 của Bộ luật dân sự. Hình thức của giao dịch dân sự thể hiện bằng lời nói là hợp đồng miệng giữa anh T và anh T1, thể hiện thông qua phương tiện điện tử dưới hình thức thông điệp dữ liệu chuyển tiền và nhận tiền qua giao dịch sao kê từ tài khoản Ngân hàng I mang tên chủ tài khoản Phạm Văn T số tài khoản 102800228889, mở tại Ngân hàng TMCP C- chi nhánh B chuyển tiền đến số tài khoản 109568999999 mang tên chủ tài khoản Nguyễn Văn T1 mở tại Ngân hàng TMCP C- chi nhánh B phù hợp với Điều 119 của Bộ luật dân sự.

Quá trình vay tiền xong ngày 10/8/2022 anh T1 đã trả nợ Ngân hàng xong, nhưng không trả tiền cho anh T như hai bên thỏa thuận miệng là vay nóng để đáo hạn Ngân hàng. Anh T đã liên lạc với anh T1 đòi tiền nhiều lần, nhưng anh T1 chưa trả được anh T đồng nào tiền gốc theo thỏa thuận miệng giữa hai bên. Quá trình giải quyết vụ án phía anh Nguyễn Văn T1 được Tòa án triệu tập hợp lệ, nhưng cố tình trốn tránh nghĩa vụ thanh toán với anh T không đến Tòa án làm việc, từ chối không cung cấp lời khai, không đưa ra ý kiến quan điểm đối với khoản nợ anh T khởi kiện.

Xét thấy anh T1 không trả tiền đúng hạn theo thỏa thuận miệng giữa hai bên sau khi đáo hạn Ngân hàng xong là ngày 10/8/2022, đã xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của anh T. Anh Phạm Văn T đề nghị Tòa án giải quyết buộc anh Nguyễn Văn T1 phải trả số tiền gốc còn nợ là 250.000.000 đồng (Hai trăm năm mươi triệu đồng). HĐXX xét thấy yêu cầu khởi kiện của anh Phạm Văn T là có căn cứ phù hợp với quy định tại Điều 466, khoản 2 Điều 470 của Bộ luật dân sự năm 2015 cần chấp nhận.

*Về tiền lãi: Anh Phạm Văn T yêu cầu Tòa án giải quyết về số tiền lãi do anh T1 vi phạm nghĩa vụ chậm trả tiền từ ngày 10/8/2022. Nay anh T yêu cầu Tòa án tính tiền lãi do anh T1 vi phạm nghĩa vụ chậm trả tiền từ ngày 10/8/2022 đến ngày xét xử 15/8/2024 tính lãi là 10%/năm số tiền lãi là 02 năm 05 ngày bằng 50.347.200 đồng là có căn cứ chấp nhận theo Điều 357 và khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.

*Về nghĩa vụ trả tiền: Xét thấy việc anh Nguyễn Văn T1 vay tiền sử dụng mục đích cá nhân, khi vay tiền không bàn bạc với chị Trần Thị T2. Xét khoản nợ anh T1 vay của anh T phát sinh trong thời kỳ hôn nhân giữa anh T1 và chị T2, tuy nhiên phía anh T chỉ yêu cầu anh T1 có trách nhiệm trả khoản nợ này, chị T2 cũng không đồng ý trả nợ cùng anh T1. Do vậy HĐXX xác định đây là khoản nợ riêng của anh T1, cần buộc anh T1 phải trả cho anh T tổng số tiền gốc và lãi tính đến ngày xét xử 15/8/2024 là 300.347.200 đồng là phù hợp với quy định của pháp luật.

[3] Về lãi suất phát sinh do chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền: Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

[4] Về án phí: Căn cứ Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Do yêu cầu khởi kiện của anh Phạm Văn T được chấp nhận, nên anh T không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả anh Phạm Văn T số tiền 7.237.500 đồng ngày 22/3/2024 đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0007399 tại chi cục Thi hành án dân sự huyện Lạng Giang.

Buộc anh Nguyễn Văn T1 phải chịu 15.017.300 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.

[5] Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 271, Điều 272, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự. Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

[6] Đối với ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp với nhận định của HĐXX nên cần chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 272, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 357, Điều 463, Điều 466, khoản 2 Điều 470, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015; Khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1.Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Phạm Văn T.

Buộc anh Nguyễn Văn T1 phải trả cho anh Phạm Văn T số tiền gốc còn nợ là 250.000.000 đồng (Hai trăm năm mươi triệu đồng) và tiền lãi là 50.347.200 đồng (Năm mươi triệu, ba trăm bốn mươi bẩy nghìn, hai trăm đồng). Tổng cộng là 300.347.200 đồng (Ba trăm triệu, ba trăm bốn mươi bẩy nghìn, hai trăm đồng).

Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

2. Về án phí: Anh Phạm Văn T không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả anh Phạm Văn T số tiền 7.237.500 đồng (Bẩy triệu, hai trăm ba mươi bẩy nghìn, năm trăm đồng) ngày 22/3/2024 đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0007399 tại chi cục Thi hành án dân sự huyện Lạng Giang.

Buộc anh Nguyễn Văn T1 phải chịu 15.017.300 đồng (Mười lăm triệu, không trăm mười bẩy nghìn, ba trăm đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.

3.Về quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt hoặc niêm yết bản án.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND huyện Lạng Giang;
  • - Chi cục THADS huyện Lạng Giang;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đỗ Thị Quỳnh Hoa

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 51/2024/DS-ST ngày 15/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 51/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/08/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ông T, ông T2
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger