|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN THỤY THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 51/2024/HS-ST Ngày 15 - 8 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN THỤY THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Khúc Trọng Quang.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Phan Thị Minh Phương;
Bà Đặng Thị Đôi.
- Thư ký phiên toà: Bà Bùi Thị Hương – Thư ký Toà án nhân dân huyện Kiến Thụy thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Ông Đào Quang Hợp - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 8 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 35/2024/TLST-HS ngày 25 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 49/2024/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 11/2024/HSST-QĐ ngày 06 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:
Phạm Quang T, sinh ngày 03 tháng 4 năm 2000 tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Tổ C, phường H, quận D, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn D, sinh năm 1968 và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1972; có vợ là Vũ Thị Thu H1, sinh năm 2000, có 01 con sinh năm 2022; Tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt.
Bị hại:
- Anh Vũ Văn L, sinh năm 1982; địa chỉ: Thôn T, xã M, huyện K, thành phố Hải Phòng (đã chết).
Người đại diện hợp pháp của bị hại:
- Bà Ngô Thị Ả, sinh năm 1956; địa chỉ: Thôn T, xã M, huyện K, thành phố Hải Phòng, vắng mặt.
- Cháu Vũ Mai Y, sinh năm 2005; địa chỉ: Tổ G, phường H, quận D, thành phố Hải Phòng, vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- Cháu Vũ Quỳnh C, sinh ngày 29/01/2008; địa chỉ: Tổ G, phường H, quận D, thành phố Hải Phòng, vắng mặt.
- Cháu Vũ Thị Hà L1, sinh ngày 01/11/2018; địa chỉ: địa chỉ: Tổ G, phường H, quận D, thành phố Hải Phòng, vắng mặt.
Người đại diện theo pháp luật của cháu Vũ Quỳnh C, cháu Vũ Thị Hà L1:
Chị Nguyễn Thị H2, sinh năm 1987; địa chỉ: Tổ G, phường H, quận D, thành phố Hải Phòng, vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
Người đại diện theo ủy quyền của bà Ngô Thị Ả, cháu Vũ Mai Y:
Chị Vũ Hồng T1, sinh năm 1980; địa chỉ: Thôn X, xã T, huyện K, thành phố Hải Phòng, vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 21 giờ 15 phút ngày 05/02/2024, Phạm Quang T điều khiển xe mô tô BKS 15C1-273.65 đi trên đường C theo hướng quận D về huyện K. Khi đi qua khu vực nghĩa trang T2, xã M, huyện K khoảng 100 mét, phát hiện thấy xe mô tô BKS 16F1-4143 do anh Vũ Văn L, sinh năm 1982, trú tại thôn T, xã M, huyện K điều khiển đi cùng chiều phía trước, T tăng ga, điều khiển xe vượt lên bên phải xe của anh L dẫn đến xe của T va chạm vào bên phải xe mô tô của anh L khiến hai phương tiện đổ xuống đường. Hậu quả, bị cáo bị thương; anh Vũ Văn L bị chấn thương sọ não, gãy kín chân phải được đưa đi cấp cứu tại bệnh viện V, đến ngày 06/02/2024 tử vong tại gia đình.
Kết quả xét nghiệm trong máu của Phạm Quang T có nồng độ cồn là 87,3 mg/dl và âm tính với chất ma túy. Phạm Quang T có giấy phép lái xe theo quy định.
Kết luận giám định tử thi số 44 ngày 05 tháng 3 năm 2024 của Trung tâm P kết luận: Anh Vũ Văn Liêm chết do suy hô hấp, suy tuần hoàn cấp không hồi phục do chấn thương sọ não nặng. Định lượng Ethanol (cồn) trong máu là 242,1mg/dl. Không tìm thấy các chất ma túy trong mẫu máu.
Kết quả khám nghiệm hiện trường:
Hiện trường nơi xảy ra tai nạn thuộc đoạn đường đang thi công mở rộng của tuyến đường 362 khu vực thôn T, xã M, huyện K. Đường 362 rộng 11 mét; phần lòng đường cũ ở giữa rộng 07 mét được trải bê tông nhựa phẳng, thẳng, mặt đường có vạch kẻ sơn màu vàng dạng đứt đoạn chia hai chiều đường đi. Tiếp giáp với hai bên là phần đường mở rộng đang được thi công, mỗi bên rộng 02 mét và trên bề mặt được trải đá xanh (loại đá bê tông). Chiều quận D đi huyện K có biển báo số 207b “giao nhau với đường không ưu tiên”, chiều huyện K đi quận D có biển báo số 201a “chỗ ngoặt nguy hiểm”. Khu vực hiện trường có cột đèn điện chiếu sáng ở tình trạng tắt. Xác định chân cột biển báo 207b làm điểm mốc. Chọn mép đường bên phải hướng quận D đi huyện K làm chuẩn. Hiện trường để lại các dấu vết sau:
- Xe mô tô 16F1-4143 đổ nghiêng bên phải nằm trên mặt đường có trải bê tông nhựa. Đầu xe quay hướng huyện K, đuôi xe quay hướng quận D. Trục bánh trước, trục bánh sau lần lượt cách mép đường là 4,25 mét và 3,3 mét.
- Xe 15C1-273.65 đổ nghiêng bên phải trên mặt đường thuộc phần đường đang thi công phía bên phải theo chiều đi của xe, xung quanh xe có rải rác một số mảnh nhựa vỡ. Đầu xe quay hướng quận D, đuôi xe quay hướng huyện K. Trục bánh trước, trục bánh sau đều cách mép đường 0,6 mét và 0,6 mét. Trục bánh sau của xe cách điểm mốc 14,2 mét, cách tâm mảnh kim loại là 01 mét...
Kết quả khám phương tiện:
- Xe mô tô BKS 15C1-273.65: Cánh yếm bên trái dập vỡ, gãy khuyết đèn tín hiệu bên trái phía trước rơi rụng khỏi vị trí ban đầu bề mặt trượt xước mất sơn màu đen bám dính tạp chất màu xanh, màu trắng dạng đề can kích thước 75 x 45 cm, tâm vết cách mặt đất 55 cm, chiều hướng từ trước về sau.Tại các vị trí mặt ngoài bên trái lốp bánh xe phía trước, lốc máy bên trái, ốp nhựa bảo vệ phía trước lốc máy bị trượt xước, dập vỡ; bàn để chân bên trái phía trước, phía sau và cần số bị xô lệch, cong vênh, gãy khuyết, bề mặt trượt xước bám dính tạp chất màu đen dạng cao su. Trên yên xe có bám dính tạp chất màu nâu ghi máu.
- Xe mô tô 16F1-4143: Mặt ngoài ốp nhựa, thân xe bên phải trượt xước mất đề can màu xanh, màu trắng bám dính tạp chất màu đen dạng sơn theo chiều từ sau về trước kích thước trong diện (20 x 05) cm, tâm diện cao cách đất 63 cm. Đầu ngoài tay lái bên phải, núm tay phanh bên phải, cạnh ngoài chân phanh đều có vết mài vẹt, trượt xước kim loại bám dính tạp chất màu trắng dạng bột đá. Bàn để chân bên phải phía trước và phía sau, mặt ngoài cần khởi động và mặt ngoài ống xả bị xô lệch cong vênh, trượt xước, đều có chiều hướng từ sau về trước.
Kết luận giám định số 486 ngày 21 tháng 02 năm 2024 của Phòng K - Công an thành phố H kết luận: Dấu vết dập vỡ, gãy khuyết nhựa, bề mặt trượt xước mất sơn màu đen, bám dính tạp chất màu xanh, màu trắng (dạng đề can) theo chiều từ trước về sau tại mặt ngoài cánh yếm bên trái trên xe mô tô mang biển kiểm soát 15C1 - 273.65 phù hợp với dấu vết trượt xước mất đề can màu xanh, màu trắng, bám dính tạp chất màu đen (dạng sơn) theo chiều từ sau về trước tại mặt ngoài ốp nhựa thân xe bên phải trên xe mô tô mang BKS 16F1 - 4143. Các dấu vết này được hình thành khi hai phương tiện chuyển động cùng chiều va chạm với nhau.
Kết luận giám định số 1372 ngày 29/3/2024 của V1 Bộ C1 kết luận: Mẫu ghi tạp chất màu nâu nghi máu thu trên xe mô tô BKS 15C1- 273.65 gửi giám định là máu người và là máu của Phạm Quang T.
Tại bản cáo trạng số 39/CT-VKSKT ngày 25 tháng 6 năm 2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng đã truy tố bị cáo Phạm Quang T về tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ" theo điểm b khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.
Về vật chứng: Cơ quan điều tra đã trả lại 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA BKS 15C1-273.65, xe màu sơn đỏ đen; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 006640 của xe 15C1-273.65; 01 thanh kim loại (dạng bàn để chân); mảnh nhựa vỡ cho bị cáo Phạm Quang T; Trả lại 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA BKS16F1-4143, xe màu sơn đen cho chị Vũ Hồng T1, sinh năm 1980, trú tại thôn X, xã T, huyện K; 01 giấy phép lái xe hạng A1 số [...] của bị cáo Phạm Quang T chuyển Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kiến Thụy quản lý.
Trong vụ án này, anh Vũ Văn L điều khiển xe mô tô BKS 16F1-4143 trong tình trạng có sử dụng rượu, bia, chất kích thích và không có giấy phép lái xe mô tô theo quy định, vi phạm quy định tại khoản 8, khoản 9 Điều 8 Luật giao thông đường bộ. Tuy nhiên anh L đã tử vong nên không đặt ra vấn đề xử lý.
Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa: Giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Phạm Quang T về tội danh và điều luật áp dụng như nội dung bản cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65; Điều 54 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo từ 30- 36 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 60 tháng; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo và buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về dân sự: Đại diện gia đình bị hại đã nhận bồi thường đầy đủ, không có yêu cầu bồi thường nào khác nên đề nghị hội đồng xét xử không xem xét.
- Ý kiến của đại diện hợp pháp cho bị hại: Đại diện hợp pháp cho bị hại là bà Ngô Thị Ả và cháu Vũ Mai Y vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có giấy ủy quyền cho chị Vũ Hồng T1, chị Thanh vắng m tại phiên tòa nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt và lời khai có trong hồ sơ thể hiện gia đình bị hại đã nhận bồi thường, không còn yêu cầu nào khác đồng thời đề nghị hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt, khoan hồng cho bị cáo và cho bị cáo được cải tạo ngoài xã hội. Chị Nguyễn Thị H2 là đại diện theo pháp luật của cháu Vũ Quỳnh C và Vũ Thị Hà L1 vắng mặt nhưng cũng đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt thể hiện đã nhận bồi thường, không có yêu cầu đề nghị nào khác đồng thời xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
- Ý kiến của bị cáo Phạm Quang T: Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội và tội danh như Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Thụy đã truy tố là đúng; bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và cho bị cáo được cải tạo ngoài xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện K, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện K, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là hợp pháp.
[2] Về tội danh và điều luật Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Thụy truy tố đối với bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo Phạm Quang T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng, người đại diện hợp pháp cho bị hại, biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản dựng lại hiện trường, biên bản khám nghiệm tử thi, kết luận giám định, vật chứng thu giữ cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra và công bố công khai tại phiên toà thể hiện: Khoảng 21 giờ 15 phút ngày 05/02/2024, Phạm Quang T điều khiển xe mô tô BKS15C1-273.65 đi trên đường C theo hướng quận D về huyện K. Khi đi qua khu vực nghĩa trang T2, xã M, huyện K khoảng 100 mét, phát hiện thấy xe mô tô BKS 16F1-4143 do anh Vũ Văn L điều khiển đi cùng chiều phía trước, T tăng ga, điều khiển xe vượt lên bên phải xe của anh L dẫn đến xe của T va chạm vào bên phải xe mô tô của anh L khiến hai phương tiện đổ xuống đường. Hậu quả, anh Vũ Văn L bị chấn thương sọ não, gãy kín chân, đến ngày 06/02/2024 tử vong tại gia đình. Hành vi của bị cáo đã vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 35 Luật phòng, chống tác hại của rượu, bia và khoản 2 Điều 14 Luật giao thông đường bộ nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại Điều 260 Bộ luật Hình sự.
[3] Về tình tiết định khung hình phạt: Bị cáo điều khiển phương tiện tham gia giao thông trong khi trong máu có nồng độ cồn và gây tai nạn hậu quả là người bị hại là anh Vũ Văn L bị chết nên bị cáo bị xét xử theo điểm b khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự như kết luận của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ, đúng pháp luật.
[4] Về tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không vi phạm các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho gia đình bị hại, gia đình bị hại không có yêu cầu gì khác đồng thời đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt và khoan hồng cho bị cáo. Gia đình bị cáo là gia đình chính sách, bác ruột bị cáo là liệt sĩ, bố bị cáo tham gia chiến tranh bảo vệ tổ quốc, là hội viên hội cựu chiến binh phường H quận D, bị cáo cũng có thời gian tham gia nghĩa vụ quân sự từ năm 2019 đến năm 2021. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự cần áp dụng cho bị cáo để xem xét khi quyết định hình phạt.
Xét hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm vào những quy định của Nhà nước về an toàn giao thông đường bộ nhằm đảm bảo an toàn giao thông vận tải, đảm bảo cho hoạt động giao thông vận tải đường bộ được thông suốt, được tiến hành bình thường qua đó bảo vệ an toàn tính mạng, sức khỏe của công dân, bảo vệ tài sản của nhà nước, của các tổ chức và tài sản của công dân. Do vậy cần có mức hình phạt tương xứng với nhân thân, tính chất và mức độ phạm tội của bị cáo mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Tuy nhiên hội đồng xét xử xét thấy bị cáo phạm tội với lỗi vô ý, có nơi cư trú rõ ràng và đang được cơ quan pháp luật cho tại ngoại, trong thời gian tại ngoại bị cáo không phạm tội nào khác. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đồng thời gia đình bị cáo có đơn đề nghị bảo lãnh cho bị cáo được cải tạo ngoài xã hội để có cơ hội cải tạo tốt trở thành người công dân có ích cho xã hội có xác nhận của chính quyền địa phương và Hội cựu chiến binh phường H. Mặt khác người bị hại là anh Vũ Văn L khi điều khiển xe máy tham gia giao thông trong máu cũng có nồng độ cồn và không có giấy phép lái xe theo quy định. Do đó có thể xem xét khoan hồng cho bị cáo, áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự cho bị cáo cải tạo ngoài xã hội, tạo điều kiện để bị cáo cải tạo, tu dưỡng tốt trở thành người công dân lương thiện cũng là thể hiện chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước đối với gia đình có công với cách mạng.
Khoản 5 Điều 260 Bộ luật Hình sự còn quy định bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung nhưng xét hiện bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp.
[5] Về dân sự: Đại diện hợp pháp cho người bị hại khai đã nhận bồi thường đầy đủ và không có yêu cầu nào khác nên hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Về vật chứng: Cơ quan điều tra thu giữ 01 giấy phép lái xe hạng A1, số [...] của bị cáo Phạm Quang T, xét đây là giấy tờ tùy thân của bị cáo cần thiết trả lại cho bị cáo.
[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự,
Tuyên bố bị cáo Phạm Quang T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”;
Xử phạt bị cáo Phạm Quang T 36 (Ba mươi sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 60 tháng tính từ ngày tuyên án.
Giao bị cáo Phạm Quang T cho Ủy ban nhân dân phường H, quận D, thành phố Hải Phòng giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.
Huỷ bỏ biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú số 73/2024/QĐ-TA ngày 08 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Kiến Thuỵ đối với bị cáo Phạm Quang T
Trong trường hợp bị cáo Phạm Quang T thay đổi nơi cư trú thì phải thực hiện theo Điều 92 Luật Thi hành án hình sự như sau:
Người được hưởng án treo có thể vắng mặt tại nơi cư trú nếu có lý do chính đáng và phải xin phép theo quy định tại khoản 2 Điều này, phải thực hiện khai báo tạm vắng theo quy định của pháp luật về cư trú. Thời gian vắng mặt tại nơi cư trú mỗi lần không quá 60 ngày và tổng số thời gian vắng mặt tại nơi cư trú không được vượt quá một phần ba thời gian thử thách, trừ trường hợp bị bệnh phải điều trị tại cơ sở y tế theo chỉ định của bác sỹ và phải có xác nhận điều trị của cơ sở y tế đó.
Người được hưởng án treo khi vắng mặt tại nơi cư trú phải có đơn xin phép và được sự đồng ý của Uỷ ban nhân dân cấp xã; trường hợp không đồng ý thì Uỷ ban nhân dân cấp xã phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do. Người được hưởng án treo khi đến nơi cư trú mới phải trình báo với Công an cấp xã nơi mình đến tạm trú, lưu trú; hết thời hạn tạm trú, lưu trú phải có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc Công an cấp xã nơi tạm trú, lưu trú. Trường hợp người được hưởng án treo vi phạm pháp luật, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó đến tạm trú, lưu trú phải thông báo cho Ủy ban nhân dân cấp xã được giao giám sát, giáo dục kèm theo tài liệu có liên quan.
Việc giải quyết trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú hoặc nơi làm việc thực hiện theo quy định tại Điều 68 của Luật này.
Người được hưởng án treo không được xuất cảnh trong thời gian thử thách.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
* Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, xử: Trả lại cho bị cáo Phạm Quang T 01 giấy phép lái xe hạng A1, số [...].
(Theo biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 25 tháng 6 năm 2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng)
* Về án phí: Áp dụng Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTV-QH14 ngày 30/12/2016 của Quốc hội, bị cáo Phạm Quang T phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
* Về quyền kháng cáo bản án: Bị cáo có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Đại diện hợp pháp cho bị hại, đại diện theo ủy quyền của người đại diện hợp pháp cho bị hại và đại diện theo pháp luật của người đại diện hợp pháp cho bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Khúc Trọng Quang |
Bản án số 51/2024/HS-ST ngày 15/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN THỤY THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Số bản án: 51/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN THỤY THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: xử
