|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ V TỈNH P ---------- |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ---------- |
|
Bản án số: 51/2024/HS-ST Ngày 15/5/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ V - TỈNH P
- Với hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Cẩm V
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Ngọc C
2. Bà Đặng Hồng C
- Thư ký phiên tòa: Ông Vũ Đức M- Thư ký Tòa án nhân dân thành phố V, tỉnh P.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố V, tỉnh P tham gia phiên tòa: Bà Trần Khánh H - Kiểm sát viên
Ngày 15 tháng 5 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố V, tỉnh P xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 53/2024/HS-ST ngày 22/4/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 58/QĐXXST-HS ngày 26/4/2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lương Ngọc Q; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh năm 1995 tại huyện L, tỉnh P; Đăng ký hộ khẩu thường trú: Khu A, xã T, huyện L, tỉnh P; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 11/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Bố đẻ: Lương Quang T, sinh năm 1965; Mẹ đẻ: Nguyễn Thị C; sinh năm 1969; Bố, mẹ bị cáo hiện ở khu A, xã T, huyện L, tỉnh Phú Thọ; Gia đình bị cáo có 02 anh em, bị cáo là con thứ hai;Vợ: Đặng Thị M, sinh năm 1998; Con: Bị cáo có 03 con (con lớn sinh 2017, con nhỏ sinh năm 2020); Vợ, con bị cáo hiện ở khu A, xã T, huyện L, tỉnh P; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 30/01/2024 đến ngày 02/02/2024 chuyển tạm giam. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh P, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 20 giờ 10 phút ngày 30/01/2024, tổ công tác Công an phường D - Công an thành phố V đang làm nhiệm vụ tại khu vực thuộc tổ A, khu A, phường D, thành phố V, tỉnh P kiểm tra, phát hiện bắt quả tang Lương Ngọc Q đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Quá trình kiểm tra, Quyền tự giác giao nộp cho cơ quan công an 01 gói ma túy có đặc điểm là 01 gói giấy mặt ngoài và mặt trong đều màu trắng, bên trong có chứa chất bột cục màu trắng, Q khai nhận đây là ma tuý Heroine nhằm mục đích sử dụng cho bản thân. Ngoài ra, Cơ quan Công an còn thu giữ của Quyền: 230.000 tiền Việt Nam đồng. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ vật chứng và niêm phong số ma tuý có đặc điểm như trên theo đúng quy định của pháp luật.
Cùng ngày, Công an phường D đã chuyển toàn bộ hồ sơ, đối tượng đến Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an thành phố V để thụ lý giải quyết theo thẩm quyền.
Cơ quan điều tra tiến hành kiểm tra kết quả xét nghiệm ma tuý bằng que thử nước tiểu đối với Quyền. Kết quả dương tính với ma tuý.
Ngày 30/01/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố V đã ra Quyết định trưng cầu giám định đối với số chất bột cục màu trắng thu giữ của Lương Ngọc Q. Tại Bản kết luận giám định số 218/KL-KTHS ngày 02/02/2024 của Phòng K - Công an tỉnh P kết luận:
"Chất bột, cục màu trắng chứa bên trong 01 gói gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng 0,127 gam, loại Heroine, có tên khoa học là: Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính Phủ.
Hoàn trả lại 0,110 gam chất bột cục màu trắng là mẫu vật còn lại sau giám định cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định.
Tại cơ quan điều tra, Lương Ngọc Q khai nhận về nguồn gốc số ma tuý bị thu giữ khi bị bắt quả tang: Do có nhu cầu sử dụng ma túy nên khoảng 19 giờ ngày 30/01/2024, Lương Ngọc Q một mình từ nhà đi xe ôm của một người không quen biết đến khu vực thuộc xã Đ, huyện S, tỉnh V để tìm mua ma tuý. Tại đây Q gặp 01 người đàn ông không biết họ tên, địa chỉ cụ thể ở đâu, Q hỏi và mua được của người đàn ông này 01 gói ma tuý có đặc điểm là 01 gói giấy mặt ngoài và mặt trong đều màu trắng, bên trong có chứa chất bột cục màu trắng với giá 700.000đ. Sau khi mua được ma tuý, Q đi tìm mua xi lanh và nước cất để sử dụng thì bị tổ công tác Công an phường D – Công an thành phố V phát hiện và bắt quả tang.
Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho Q, do Q không biết họ tên, tuổi, địa chỉ cụ thể, ngoài lời khai của Q không có tài liệu nào khác chứng minh nên Cơ quan điều tra không xác định được.
Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Q ngày 28/01/2024 là Q mua ma tuý của một người không quen biết ở khu vực thị xã P và Q đã sử dụng hết, Cơ quan điều tra không thu hồi được. Cơ quan điều tra chuyển Công an thành phố V ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức cảnh cáo là phù hợp.
Tại cơ quan điều tra Q đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang và các tài liệu chứng cứ khác.
Tại bản cáo trạng số: 53/CT-VKS-VT ngày 19/4/2024 Viện kiểm sát nhân dân thành phố V đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân thành phố V để xét xử đối với bị cáo Lương Ngọc Q về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố V giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng: Khoản 1, khoản 5 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Lương Ngọc Q từ 21 (Hai mươi mốt) tháng tù đến 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 30/01/2024.
Hình phạt bổ sung: Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước của bị cáo Q số tiền 230.000₫ (Hai trăm ba mươi nghìn đồng).
*Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy 0,110 gam chất bột cục màu trắng là mẫu vật còn lại sau giám định được đựng trong 01 bì niêm phong số 218/KL-KTHS của Phòng K - Công an tỉnh P.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo rất hối hận về hành vi vi phạm pháp luật của bị cáo, bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo lấy đó làm bài học cho bản thân.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1]. Về tố tụng:
Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thành phố V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng theo quy định của pháp luật.
[2]. Đánh giá các chứng cứ buộc tội đối với bị cáo:
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Lương Ngọc Q đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu, thừa nhận nội dung cáo trạng truy tố là đúng, không có gì oan sai. Lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra phù hợp với lời khai của người chứng kiến, biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng, kết luận giám định của cơ quan giám định cũng như các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Hồi 20 giờ 10 phút ngày 30/01/2024, tại khu vực thuộc tổ A, khu A, phường D, thành phố V, tỉnh P, Lương Ngọc Q có hành vi tàng trữ trái phép khối lượng 0,127 gam ma túy loại Heroine nhằm mục đích để sử dụng bị tổ công tác Công an phường D – Công an thành phố V phát hiện bắt quả tang và thu giữ vật chứng.
Do vậy, hành vi phạm tội của bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự quy định:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a...
b...
c) Heroine, C1, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam.”
[3]. Về tính chất, mức độ hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo:
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước, gây hậu quả nghiêm trọng, ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự và an toàn xã hội tại địa phương. Bị cáo có năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp. Bị cáo nhận thức rõ hanh vi của mình la vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện nên bị cáo phải chịu hậu quả về hành vi vi phạm tội của mình.
[4]. Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thanh khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
[5] Về hình phạt:
Hình phat chính: Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là tương xứng so với tính chất, mức độ thực hiện hành vi phạm tội của bị cáo. Do đó, cần thiết phải xử phạt bị cáo nghiêm khắc bằng hình phạt tù, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhất định tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội do bị cáo gây ra mới có tác dụng cải tạo giáo dục bị cáo và đấu tranh phòng ngừa tội phạm.
Hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự thì bị cáo còn có thể phải chịu hình phạt bổ sung là hình phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000đồng, cấm đảm nhiệm...hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Xét thấy bị cáo Lương Ngọc Q không có tài sản riêng gì có giá trị ngoài số tiền 230.000 đồng nên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
[6]. Về xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp:
Đối với 0,110 gam chất bột cục màu trắng là mẫu vật còn lại sau giám định được đựng trong 01 bì niêm phong số 218/KL-KTHS của Phòng K - Công an tỉnh P là vật cấm tàng trữ cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của bị cáo Q vào ngày 28/01/2024, Công an thành phố V ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Q về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, hình thức phạt cảnh cáo xét thấy là phù hợp.
Đối với người đàn ông bán ma túy cho Lương Ngọc Q ở khu vực thuộc xã Đ, huyện S, tỉnh V, ngoài lời khai của Q không có tài liệu nào khác để chứng minh, do đó Cơ quan điều tra không đủ căn cứ xác định nguồn gốc số ma túy của Q và người đàn ông như Q đã khai xét thấy là phù hợp.
[7]. Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[8]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo thực hiện quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ: Điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38; Điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điểm a, c khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
- Tuyên bố bị cáo Lương Ngọc Q phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Về xử lý vật chứng:
- Về án phí: Buộc bị cáo Lương Ngọc Q phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh P xét xử phúc thẩm.
Xử phạt: Lương Ngọc Q 22 (Hai mươi hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 30/01/2024.
Về hình phạt bổ sung: Tịch thu vào ngân sách nhà nước số tiền 230.000 đồng (Hai trăm ba mươi nghìn đồng) của bị cáo Lương Ngọc Q.
Tịch thu tiêu hủy 0,110 gam chất bột cục màu trắng là mẫu vật còn lại sau giám định được đựng trong 01 bì niêm phong số 218/KL-KTHS của Phòng K - Công an tỉnh P.
Vật chứng là đồ vật được Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố V bàn giao cho Chi cục Thi hành án dân sự thành phố V theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 22/4/2024. Vật chứng là tiền được Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố V bàn giao cho Chi cục Thi hành án dân sự thành phố V theo biên lai số 0004640 ngày 23/4/2024.
|
Nơi nhân:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Cẩm V |
Bản án số 51/2024/HS-ST ngày 15/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ V - TỈNH P về tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Số bản án: 51/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ V - TỈNH P
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Anh Q phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy
