|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 51/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 14-6-2024
V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Minh Nhựt.
Các Hội thẩm nhân dân:
- 1. Ông Phạm Hồng Thuận;
- 2. Bà Phạm Thùy Trang.
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Minh Cảnh - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Châu tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hoài – Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 6 năm 2024, tại Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 70/2024/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 3 năm 2024 về “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 83/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 09 tháng 5 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 81/2024/QĐST-HNGĐ ngày 28 tháng 5 năm 2024 và Thông báo số 13/TB-TA ngày 03 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Ông Nguyễn Thanh T, sinh năm 1992; Địa chỉ: Tổ A, khóm L, phường L, thị xã T, tỉnh An Giang. (có mặt)
- - Bị đơn: Bà Đoàn Nhựt T1, sinh năm 1992; Địa chỉ: Tổ F, ấp V, xã V, thị xã T, tỉnh An Giang. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nội dung đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Nguyễn Thanh T trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa ông và bà Đoàn Nhựt T1 do tự tìm hiểu, được gia đình đồng ý nên tiến đến hôn nhân, chung sống từ năm 2014 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V, thị xã T, tỉnh An Giang. Thời gian chung sống hạnh phúc đến năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là không hòa hợp tính tình, bất đồng quan điểm sống, kinh tế khó khăn, thường xuyên cự cải với nhau, bà T1 bỏ về nhà cha mẹ ruột sống. Cả hai làm giấy thuận tình ly hôn cùng ký tên, chấm dứt chung sống với nhau từ 2018 cho đến nay. Tình cảm vợ chồng không còn ông yêu cầu xin được ly hôn với bà Đoàn Nhựt T1.
- Về con chung: Có 01 con chung tên Nguyễn Đoàn Bảo T2, sinh ngày 18/6/2015. Con chung hiện sống cùng bà T1. Sau khi ly hôn, ông T đồng ý giao con chung cho bà T1 tiếp tục nuôi dưỡng, ông T không cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tống đạt thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và các văn bản tố tụng khác cho bà Đoàn Nhựt T1 nhưng bà T1 vắng mặt, không có văn bản ý kiến về nội dung yêu cầu khởi kiện, vụ án không tiến hành hòa giải được.
Tòa án tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải để hàn gắn tình cảm nhưng ông T không đồng ý đoàn tụ chung sống.
Tại phiên tòa, ông T vẫn giữ yêu cầu xin được ly hôn bà Đoàn Nhựt T1; đồng ý giao con cho bà T1 nuôi và không cấp dưỡng nuôi con; không yêu cầu giải quyết về tài sản chung, nợ chung.
Bà Đoàn Nhựt T1 được triệu tập lần thứ hai nhưng vắng mặt và không có đơn xin vắng mặt.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng và giải quyết vụ án:
Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực đúng hiện nhiệm vụ và quyền hạn theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự từ giai đoạn thụ lý cho đến khi giải quyết vụ án.
Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng từ giai đoạn thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, tuyên xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của ông Nguyễn Thanh T đối với bà Đoàn Nhựt T1; giao con chung Nguyễn Đoàn Bảo T2, sinh ngày 18/6/2015 cho bà Đoàn Nhựt T1 nuôi sau khi ly hôn, ông T không phải cấp dưỡng nuôi con; tài sản chung, nợ chung không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
Ông Nguyễn Thanh T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Ông Nguyễn Thanh T khởi kiện xin được ly hôn với bà Đoàn Nhựt T1 có nơi cư trú tại V, xã V, thị xã T, tỉnh An Giang nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu theo quy định tại các Điều 28, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, bà Đoàn Nhựt T1 được triệu tập lần thứ hai nhưng vắng mặt và không có đơn xin vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà Đoàn Nhựt T1 theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về hôn nhân: Hôn nhân giữa ông Nguyễn Thanh T và bà Đoàn Nhựt T1 do tự tìm hiểu, chung sống với nhau từ năm 2014 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V, thị xã T, tỉnh An Giang nên được xem là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật bảo vệ.
Thời gian chung sống hạnh phúc đến năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn; nguyên nhân là không hòa hợp tính tình, bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cự cãi nên không hạnh phúc, cả hai làm giấy thuận tình ly hôn vào năm 2018 và không còn liên lạc gì với nhau từ đó cho đến nay. Gia đình đã hàn gắn tình cảm nhưng cả hai không chấp nhận chung sống lại với nhau.
Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ, xác minh tại địa phương, người thân xác định nguyên nhân mâu thuẫn đúng như lời ông T đã trình bày.
Từ đó cho thấy mâu thuẫn vợ chồng ông T, bà T1 đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể tiếp tục kéo dài nên yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, ý kiến giải quyết vụ án của Kiểm sát viên là có căn cứ chấp nhận.
[2.2] Về con chung: Có 01 con chung tên Nguyễn Đoàn Bảo T2, sinh ngày 18/6/2015. Con chung hiện sống cùng bà T1. Sau khi ly hôn, ông T đồng ý giao con chung cho bà T1 tiếp tục nuôi dưỡng, ông T không cấp dưỡng nuôi con chung.
Xét thấy từ khi ông T, bà T1 không chung sống với nhau thì bà T1 trực tiếp nuôi dạy, chăm sóc, giáo dục con; cháu T2 có nguyện vọng sống chung với bà T1 sau khi cha mẹ ly hôn, ông T đồng ý giao cháu T2 cho bà T1 tiếp tục nuôi dạy. Nhằm đảm bảo sự phát triển bình thường của cháu T2, Hội đồng xét xử chấp nhận để bà T1 được tiếp tục nuôi dạy cháu T2.
Ông T không cấp dưỡng nuôi con, Hội đồng xét xử nhận thấy trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành thu thập chứng cứ ghi lời khai của bà T1; nhưng bà T1 vắng mặt và không gửi bản tự khai cho Tòa án nên không làm việc được với bà T1 về có yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con hay không. Do đó, nếu bà T1 có yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con thì sẽ khởi kiện bằng một vụ án khác; Tòa án sẽ xem xét giải quyết khi bà T1 có yêu cầu.
[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
[3] Về án phí: Theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, ông T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 51, khoản 1 Điều 56; Điều 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; các Điều 271, Điều 273; khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- - Về hôn nhân: Ông Nguyễn Thanh T được ly hôn bà Đoàn Nhựt T1.
- - Về con chung: Bà Đoàn Nhựt T1 được nuôi cháu Nguyễn Đoàn Bảo T2, sinh ngày 18/6/2015. Ông Nguyễn Thanh T không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.
Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
- - Về án phí: Ông Nguyễn Thanh T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm; được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0007733 ngày 08/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Tân Châu (ông T đã nộp đủ).
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- - Về quyền kháng cáo: Ông Nguyễn Thanh T có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 14/6/2024) để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử theo thủ tục phúc thẩm. Bà Đoàn Nhựt T1 có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Minh Nhựt |
Bản án số 51/2024/HNGĐ-ST ngày 14/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU, TỈNH AN GIANG về tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 51/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/06/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: NGUYỄN THANH T LY HÔN ĐOÀN NHỰT T1
