|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TỊNH BIÊN TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 51A/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 14 - 6 - 2024
“V/v tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TỊNH BIÊN TỈNH AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Mai Văn Khánh.
Hội thẩm nhân dân:
- - Ông Nguyễn Lâm Tới.
- - Bà Trần Thị Thúy Hằng.
Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Văn Tâm - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Tịnh Biên.
Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tịnh Biên tham gia phiên toà: Đặng Phương Nam – Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Tịnh Biên, xét xử sơ thẩm công khai vụ án tranh chấp hôn nhân và gia đình thụ lý số: 60/2024/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 3 năm 2024 về việc “ Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 76/2024/QÐST-HNGĐ ngày 24 tháng 4 năm 2024 và thông báo mở lại phiên tòa số: 167/TB-TA ngày 05/6/2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Đoàn Thị T, sinh năm 1990;
- Nơi cư trú: Tổ E, ấp V, xã V, thị xã T, tỉnh An Giang.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn T1, sinh năm 1988;
- Nơi cư trú: Tổ E, ấp V, xã V, thị xã T, tỉnh An Giang.
- ( Chị T có đơn xin xét xử vắng mặt, anh T1 vắng mặt mặt lần 2 không lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện ly hôn bản tự khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Đoàn Thị T trình bày:
- Chị và anh Nguyễn Văn T1 tự tìm hiểu, quen biết và được sự đồng ý của hai gia đình tổ chức lễ cưới vào năm 2009 và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V, thị xã T, An Giang. Trong khoảng thời gian chung sống vợ chồng hạnh phúc, chỉ được có thời gian ngăn, khoảng tháng 8 năm 2023 giữa chị và anh T1 xảy ra nhiều mâu thuẫn, do bất đồng trong quan điểm sống, chị và anh T1 thường cải vã và sống ly thân cho đến nay. Trong khoảng thời gian sống ly thân, chị và anh T1 không có gặp nhau nói chuyện hàn gắn tình cảm vợ chồng. Nhận thấy tình cảm vợ chồng đã không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu ly hôn với ông T1.
- Về con chung: Chị và anh T1 có 02 con chung tên Nguyễn Đoàn Hữu Đ, sinh ngày 18/3/2010 và Nguyễn Đoàn Hữu L, sinh ngày 12/10/2019 hiện anh T1 đang trực tiếp nuôi. Khi ly hôn chị yêu cầu được nuôi 02 con, không yêu cầu anh T1 phải cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không có.
Trong quá trình giải quyết vụ án, biên bản lấy lời khai ngày 22/3/2024 bị đơn anh Nguyễn Văn T1 trình bày:
Anh T1 thống nhất ý kiến trình bày của chị T về điều kiện đi đến hôn nhân là anh và chị T tự tìm hiểu và được sự đồng ý của hai gia đình tổ chức lễ cưới vào năm 2009 và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V, thị xã T, An Giang. Trong khoảng thời gian chung sống vợ chồng thường hay xảy ra mâu thuẫn do chị T ghen tuông vô cớ đỉnh điểm là khoảng tháng 8/2023 anh và chị T sống ly thân cho đến nay. Trong khoảng thời gian sống ly thân, anh và chị T không có gặp nhau nói chuyện hàn gắn tình cảm vợ chồng, nay chị T yêu cầu ly hôn với anh, anh đồng ý ly hôn với chị T.
- Về con chung: Anh và chị T có 02 con chung tên Nguyễn Đoàn Hữu Đ, sinh ngày 18/3/2010 và Nguyễn Đoàn Hữu L, sinh ngày 12/10/2019 hiện anh đang trực tiếp nuôi. Khi ly hôn anh yêu cầu được tiếp tục nuôi 02 con, không yêu cầu chị T phải cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không có.
Tại phiên toà Kiểm sát viên phát biểu về việc tuân theo pháp luật, quan điểm giải quyết vụ án:
Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký về việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng:
- Thẩm phán: Được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng thẩm quyền, xác định đúng quan hệ tranh chấp, tổ chức hòa giải, thu thập chứng cứ đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa: Hội đồng xét xử tiến hành phiên tòa sơ thẩm đúng trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về việc xét xử; thư ký ghi biên bản phiên tòa đúng chức năng nhiệm vụ.
- Người tham gia tố tụng: Nguyên đơn, thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình bị đơn chấp hành chưa đảm bảo theo quy định của pháp luật.
Về nội dung: Căn cứ hồ sơ vụ án, các tài liệu chứng cứ đã được Hội đồng xét xử xem xét và tại phiên tòa, nhận thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở chấp nhận.
Ý kiến về việc giải quyết vụ án:
+ Về hôn nhân: Đề nghị chấp nhận cho chị T được ly hôn với anh T1.
+ Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Đoàn Hữu Đ cho chị T được nuôi dạy và chăm sóc do cháu Đ có nguyện vọng được sống với mẹ là chị T. Đối với cháu Nguyễn Đoàn Hữu L hiện anh T1 đang trực tiếp nuôi dạy, nhằm đảm bảo tâm, sinh lý và cuộc sống bình thường cho trẻ, nên đề cháu L cho anh T1 được tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp.
+ Về tài sản chung, nợ chung: Chị T, anh T1 xác nhận là không có nên không xem xét.
+ Về án phí: Chị T khởi kiện ly hôn nên phải chịu án phí theo theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã thẩm tra tại phiên Tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Anh Nguyễn Văn T1 là bị đơn, thường trú: Tổ E, ấp V, xã V, thị xã T, An Giang. Căn cứ vào các Điều 28, 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Toà án nhân dân thị xã Tịnh Biên thụ lý và giải quyết là đúng thẩm quyền.
Về việc vắng mặt của các đương sự: Chị Đoàn Thị T có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt; nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về nội dung: Chị Đoàn Thị T cho rằng năm 2009 chị và anh T1 được hai gia đình tổ chức lễ cưới, sau đó đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V, thị xã T, An Giang; theo giấy chứng nhận kết hôn số:70 ngày 17/6/2009. Tại thời điểm kết hôn chị T và anh T1 đã đủ độ tuổi và có đăng ký kết hôn tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, do vậy đây là hôn nhân hợp pháp theo qui định tại Điều 8 và 9 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014.
Theo chị T cho rằng cuộc sống vợ chồng thời gian đầu hạnh phúc, khoảng tháng 8/2023 thì chị và anh T1 phát sinh mâu thuẫn và sống ly thân cho đến nay. Trong quá trình giải quyết cũng như trong hòa giải, công bố chứng cứ Tòa án cũng đã phân tích hậu quả của việc ly hôn, tuy nhiên chị T cương quyết giữ nguyên yêu cầu là ly hôn với anh T1, đồng anh T1 cũng đồng ý ly hôn với chị T, chứng tỏ mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trở nên trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt, nếu tiếp tục duy trì cuộc hôn nhân thì cũng không đem lại hạnh phúc, nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị T được ly hôn với anh T1 là phù hợp với quy định tại Điều 51, 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014
[4] Về con chung: Chị T và anh T1 có 02 con chung tên Nguyễn Đoàn Hữu Đ, sinh ngày 18/3/2010 và Nguyễn Đoàn Hữu L, sinh ngày 12/10/2019 hiện anh đang trực tiếp nuôi. Khi ly hôn anh yêu cầu được tiếp tục nuôi 02 con không yêu cầu chị T phải cấp dưỡng nuôi con. Tuy nhiên tại biên bản lấy lời khai cháu Nguyễn Đoàn Hữu Đ ngày 15/3/2024 có sự chứng kiến của anh T1, chị T cháu Đ có nguyện vọng được sống với mẹ là chị T, nhằm đảm bảo nguyện vọng của cháu Đ, nên giao cháu Đ cho chị T trực tiếp nuôi dạy là phù hợp với khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
Đối với cháu Nguyễn Đoàn Hữu L, sinh ngày 12/10/2019 hiện anh T1 đang trực tiếp nuôi, qua xác minh tại địa phương cháu L hiện đang học Trường M, chứng tỏ việc chăm sóc, nuôi con của anh T1 đảm bảo và để đảm bảo tâm sinh lý và cuộc sống bình thường cho trẻ nên giao cháu L cho anh T1 được tiếp tục nuôi dạy là phù hợp với các Điều 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Chị T, anh T1 không yêu cầu ai phải cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[5] Về tài sản chung, nợ chung: Chị T và anh T1 xác nhận là không có nên không xem xét giải quyết.
[6] Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Đoàn Thị T khởi kiện ly hôn nên phải chịu án phí theo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào các Điều 51, 56, 57 Điều 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
Điều 28, Điều 35, Điều 147, khoản 1 Điều 228 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị Đoàn Thị T đối với anh Nguyễn Văn T1.
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Đoàn Thị T được ly hôn với anh Nguyễn Văn T1.
2. Về con chung:
+ Chị Đoàn Thị T được trực tiếp nuôi con tên Nguyễn Đoàn Hữu Đ, sinh ngày 18/3/2010 anh T1 không phải cấp dưỡng nuôi con.
Anh Nguyễn Văn T1 được trực tiếp nuôi con tên Nguyễn Đoàn Hữu L, sinh ngày 12/10/2019, chị T không phải cấp dưỡng nuôi con
Chị T, anh T1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Trên cơ sở lợi ích của con, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con thì Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.
3. Về án phí: Chị T chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí hôn nhân, gia đình sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 00010736 ngày 07/3/2024 của Chi Cục Thi hành án dân sự thị xã Tịnh Biên.
4. Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được nhận bản án hoặc niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Mai Văn Khánh |
Bản án số 51A/2024/HNGĐ-ST ngày 14/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TỊNH BIÊN TỈNH AN GIANG về tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn
- Số bản án: 51A/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/06/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TỊNH BIÊN TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
