|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG PHÚ TỈNH BÌNH PHƯỚC |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh Phúc |
|
Bản án số: 51/2024/HS-ST Ngày: 14/6/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG PHÚ, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Xuân Tư
Ông Nguyễn Đăng Thường;
- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Hồ Thị Bình – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Phước Nhân - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 54/2024/TLST-HS ngày 22 tháng 5 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 43/2024/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 5 năm 2024, đối với bị cáo:
Họ và tên: Lã Quốc B; sinh năm 1995, tại Đ; Nơi thường trú: Thôn 6, xã M, huyện Đ, tỉnh B. Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 12/12; con ông Lã Văn H, sinh năm 1960 và bà Lại Thị H1, sinh năm 1966; có 01 anh ruột sinh năm 1986; Tiền án, Tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 05/9/2023 cho đến nay. (bị cáo có mặt tại phiên tòa).
* Người đại diện hợp pháp của bị hại: Ông Nguyễn Phong Đ, sinh năm 1982; bà Chúc Thị Mỹ H2, sinh năm 1984. Cùng trú tại: Khu phố B, thị trấn T, huyện Đ, tỉnh B. (vắng mặt);
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: bà Lê Thị Thanh H3, sinh năm 1971, địa chỉ Thôn 8, xã N, huyện Đ, tỉnh B.(vắng mặt)
1
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Bị cáo Lã Quốc B bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước truy tố về hành vi phạm tội như sau:
Khoảng 21 giờ 00 phút ngày 28/4/2021, Nguyễn Vĩnh P, sinh năm 2005, trú tại khu phố B, thị trấn T, huyện Đ, tỉnh B điều khiển xe mô tô biển kiểm soát (BKS) 93P1 – 795.52 lưu thông trên đường ĐT 741 (theo hướng huyện Đ đi thành phố Đ), khi đang lưu thông trên đoạn đường thuộc khu phố B, thị trấn T thì đụng vào Lã Quốc B, sinh năm 1995 đang đi bộ từ lề đường bên phải qua lề bên trái (theo hướng huyện Đ đi thành phố Đ). Sau khi vụ tai nạn xảy ra, Phong và B bị thương được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Hoàn Mỹ rồi chuyển đến Bệnh viện Chợ Rẫy tại Thành phố Hồ Chí Minh điều trị. Đến ngày 29/4/2021, Phong tử vong còn B tiếp tục điều trị thương tích do vụ tai nạn giao thông gây ra.
Căn cứ Bản Kết luận giám định pháp y về tử thi số 159 ngày 07/5/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Phước, kết luận: Nguyễn Vĩnh P, sinh năm 2005, bị chấn thương sọ não gây tụ máu nội sọ, hôn mê sâu không hồi phục dẫn đến tử vong.
Theo bản kết luận giám định pháp y tâm thần số 194 ngày 26/3/2024 của Viện pháp y tâm thần Trung ương Biên Hòa đối với Lã Quốc B, kết luận: Về y học: Đương sự không có bệnh tâm thần; Về khả năng nhận thức, điều khiển hành vi: Hiện nay đương sự đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi
Tại bản Cáo trạng số: 56/CT-VKS ngày 17/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Phú truy tố bị cáo Lã Quốc B về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo như Cáo trạng đã đề cập và đề nghị Hội đồng xét xử: Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lã Quốc B phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Về hình phạt, đề nghị: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; các điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các điều 38, 50, khoản 1 Điều 54, Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lã Quốc B từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 03 năm đến 04 năm tính từ ngày tuyên án.
Về vật chứng: Xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Exciter, màu cam BKS 93P1 – 795.52 thu giữ tại hiện trường, quá trình điều tra chưa xác minh được ai là người quản
2
lý hợp pháp chiếc xe nói trên nên đề nghị Tòa án tuyên giao cho cơ quan Công an huyện Đồng Phú tiếp tục xác minh và xử lý theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận toàn bộ nội dung như cáo trạng là đúng, khẳng định là việc truy tố là đúng người đúng tội, không oan sai; Trong phần tranh luận, sau khi nghe đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước công bố bản luận tội, bị cáo không có tranh luận gì về phần tội danh mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của các Cơ quan tiến hành Tố tụng và người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định trên. Do đó, các hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều là hợp pháp.
Đối với việc vắng mặt của ông Nguyễn Phong Đ, bà Chúc Thị Mỹ H2 là đại diện gia đình bị hại; quá trình điều tra đã có lời khai thể hiện rõ ý kiến của mình về vụ án và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên việc vắng mặt của họ tại phiên tòa không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Đối với người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị Thanh H3 do bà H3 đã bỏ đi khỏi địa phương, cơ quan điều tra chưa làm việc được với bà H3 nên chưa xác định được chiếc xe mô tô BKS 93P1 – 795.52 hiện tại bà H3 còn là chủ sử hữu hay không. Cơ quan Công an huyện đồng Phú đã ra thông báo truy tìm chủ, quản lý, sở hữu xe nói trên và xử lý theo quy định nên việc vắng mặt bà Hương cũng không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án.
[2] Về hành vi phạm tội: Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. Xét lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, lời khai của người chứng kiến, vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được hội đồng xét xử thẩm vấn công khai tại phiên tòa. Hội đồng xét xử có cơ sở kết luận: Ngày 28/4/2021, Lã Quốc B đã có hành vi đi bộ băng qua đường (đoạn đường ĐT741 thuộc khu phố B, thị trấn T, huyện Đ, tỉnh B) nơi không có đèn tín hiệu, không có vạch kẻ đường, cầu vượt, hầm dành cho người đi bộ; không chú ý quan sát các xe đang đi tới, qua đường khi không B đảm an toàn nên B đã gây ra vụ tai nạn giao thông với xe mô tô BKS 93P1 – 795.52 do Nguyễn Vĩnh P, sinh năm 2005 điều khiển đang lưu thông theo hướng từ thị trấn T, huyện Đ đi thành phố Đ, tỉnh B, dẫn đến P bị thương nặng, được đưa đi bệnh viện cấp cứu và tử vong. Hành vi trên của bị cáo Lã Quốc B đã vi phạm khoản 3 Điều 32 Luật giao thông đường bộ năm 2009 và đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.
3
Hành vi mà bị cáo Lã Quốc B đã thực hiện là hành vi nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến các quy định pháp luật về tham gia giao thông đường bộ; gây thiệt hại nghiêm trọng đến tính mạng của người khác, một khách thể quan trọng được pháp luật B vệ.
Xét hành vi của bị cáo Lã Quốc B đã thực hiện với lỗi vô ý. Khi phạm tội, bị cáo là người hoàn toàn bình thường, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức và làm chủ được hành vi của mình. Bị cáo nhận thức được và buộc phải nhận thức được nơi không có đèn tín hiệu, không có vạch kẻ đường, cầu vượt, hầm dành cho người đi bộ nếu muốn đi bộ qua đường thì phải chú ý quan sát các xe đang đi tới và chỉ được qua đường khi đảm B an toàn nhưng do thái độ chủ quan, cẩu thả, thiếu chú ý quan sát các xe đang đi tới dẫn đến va chạm với xe mô tô BKS 93P1 – 795.52 do Nguyễn Vĩnh P, sinh năm 2005 điều khiển đang đi đến làm bị cáo và bị hại P bị ngã văng ra đường, cả hai đều bị thương tích nặng, bị hại P tử vong sau khi được đưa đi cấp cứu tại bệnh viện. Xét tính chất, mức độ và hậu quả mà bị cáo Lã Quốc B gây ra, cần tuyên xử bị cáo một mức án nghiêm, tương xứng với hành vi phạm tội mới có tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; mặc dù gia đình bị hại không yêu cầu bồi thường nhưng bị cáo và gia đình đã thăm hỏi bồi thường một phần thiệt hại; gia đình bị hại xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo; bản thân bị cáo cũng bị thương tích nặng để lại di chứng (chấn thương sọ não, đứt ruột..); mặt khác nguyên nhân dẫn đến tai nạn cũng có một phần lỗi của người bị hại là điều khiển phương tiện giao thông khi chưa đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông (chưa đủ tuổi và chưa có giấy phép lái xe mô tô). Đây là những tình tiết giảm nhẹ hình phạt được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, cần được xem xét khi lượng hình đối với bị cáo.
4
Xét tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, căn cứ vào các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo; Xét thấy, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng, có nhân thân tốt, tuổi đời còn trẻ cần tạo điều kiện cho bị cáo có cơ hội lao động, học tập làm người có ích cho gia đình và xã hội nên không cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn mà chỉ cần giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi cư trú và gia đình quản lý giáo dục là đủ.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Gia đình bị hại không yêu cầu bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[6] Về vật chứng của vụ án: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Exciter, màu cam BKS 93P1 – 795.52 do bị hại điều khiển; qua điều tra xác định tên chủ sở hữu là Lê Thị Thanh H3, sinh năm 1971, địa chỉ Thôn 8, xã N, huyện B, tỉnh B. Tuy nhiên, qua xác minh bà H3 đã bỏ đi khỏi địa phương nên chưa làm việc được với bà H3; gia đình bị hại cũng không biết về chiếc xe nói trên. Cơ quan cảnh sát điều tra đã thông báo tìm kiếm chủ quản lý chiếc xe nói trên nhưng chưa có ai đến nhận. Do vậy cần tuyên giao chiếc xe nói trên cho Cơ quan Công an huyện Đồng Phú tiếp tục xác minh làm rõ và xử lý theo quy định của pháp luật.
[7] Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Phú đối với bị cáo Lã Quốc B về tội danh như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật. Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước đề nghị về tội danh, điều luật áp dụng, khung hình phạt, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, mức hình phạt, xử lý vật chứng như trên là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[8] Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Lã Quốc B phải chịu theo luật định.
Vì các lẽ trên;
5
QUYẾT ĐỊNH:
1.Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lã Quốc B phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
2. Điều luật và mức hình phạt: Áp dụng điểm 1, khoản 1, Điều 260; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các điều 38, 50; 65 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Lã Quốc B 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, cho hưởng án treo; thời gian thử thách là 03 năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 14/6/2024).
Giao bị cáo bị cáo Lã Quốc B cho ủy ban nhân dân xã M, huyện Đ, tỉnh B quản lý, giáo dục bị cáo trong thời gian chấp hành án. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
3.Về vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tuyên giao 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Exciter, màu cam BKS 93P1 – 795.52 cho Cơ quan Công an huyện Đồng Phú tiếp tục xác minh làm rõ và xử lý theo quy định của pháp luật.
4.Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội: Buộc bị cáo Lã Quốc B phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).
Bị cáo Lã Quốc B có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đại diện của bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án, bản sao bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo luật định.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Hương |
6
7
Bản án số 51/2024/HS-ST ngày 14/06/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG PHÚ, TỈNH BÌNH PHƯỚC về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Số bản án: 51/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG PHÚ, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
