|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SỐP CỘP TỈNH SƠN LA Bản án số: 51/2024/HS-ST Ngày: 12-8-2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc - |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SỐP CỘP, TỈNH SƠN LA
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Kỳ Việt.
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Tòng Văn Dũng, bà Trần Thị Kim Thoa.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Ánh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Ông Dương Văn Nam - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 50/2024/TLST-HS ngày 09 tháng 7 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 48/2024/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:
Lò Văn K; sinh năm 1993 tại huyện S, tỉnh Sơn La; số định danh cá nhân: 014093001965; nơi cư trú: Bản N, xã M, huyện S, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ học vấn: lớp 9/12; dân tộc: Lào; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lò Văn M, sinh năm 1961 và bà Lò Thị N, sinh năm: 1961; bị cáo có vợ là Quàng Thị L, sinh năm 1988 và có 01 con sinh năm 2012; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 21/4/2020 bị UBND xã M, huyện S áp dụng biện pháp giáo dục tại xã thời hạn 03 tháng về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý; Ngày 27/02/2024 bị Công an xã M, huyện S xử phạt hành chính (Cảnh cáo) về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý.
Trong vụ án này bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 02/4/2024, chuyển tạm giam ngày 11/4/2024 cho đến nay có mặt tại phiên tòa.
* Người bào chữa cho bị cáo: Bà Lường Thị T - Luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh S (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 05 giờ 25 phút ngày 02/4/2024, tổ công tác Công an xã M làm việc tại khu vực bản N, xã M, huyện S phát hiện bắt quả tang Lò Văn K (Sinh năm 1993, trú tại bản N, xã M, huyện S) về hành vi cất dấu trái phép chất ma tuý. Vật chứng thu giữ gồm:
- Thu trên sàn nhà cạnh giường ngủ của Lò Văn K 01 bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long, bên trong có 01 gói nilon màu xanh chứa 02 viên nén hình trụ tròn màu hồng (Nghi là ma tuý tổng hợp); 01 bật lửa ga; 01 mẩu giấy bạc dùng để sử dụng trái phép chất ma tuý.
Ngày 02/4/2024, tại cơ quan CSĐT Công an huyện S, tỉnh Sơn La, đã tiến hành cân tịnh số vật chứng là 02 viên nén hình trụ tròn màu hồng do thu giữ của Lò Văn K có khối lượng 0,21 gam. Lấy 01 viên khối lượng 0,10 gam ký hiệu K làm mẫu gửi giám định. Số còn lại 01 viên khối lượng 0,11 gam ký hiệu K1 lưu kho vật chứng.
Kết luận giám định số 837/KL-KTHS ngày 04/4/2024 của Phòng K1 - Công an tỉnh S, kết luận: "Mẫu ký hiệu K gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine; khối lượng mẫu gửi giám định là 0,10 gam. Tổng khối lượng ma tuý thu giữ là 0,21 gam, loại Methamphetamine".
Tại cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện S, tỉnh Sơn La bị can Lò Văn K khai nhận như sau:
Khoảng 07 giờ ngày 31/3/2024, Lò Văn K thuê xe ôm đi từ nhà (Bản N, xã M, huyện S) đến bản Liềng, xã M, huyện S để tìm việc làm thuê. Đến khoảng 16 giờ cùng ngày trong khi đang đi tìm việc thì K gặp Lò Văn T1 (Sinh năm 1994, trú tại bản Nà Lừa, xã M, huyện S) đang điều khiển xe mô tô trên đường. Do quen biết với T1 từ trước nên K vẫy tay dừng xe T1 và hỏi có viên Hồng Phiến không, cho K xin mang về sử dụng, T1 nghe K hỏi vậy thì lấy từ trong túi quần ra 03 viên viên Hồng P đưa K, K nhận lấy rồi cho vào trong bao thuốc lá Thăng Long cất dấu trong túi quần rồi quay về nhà. Đến khoảng 20 giờ ngày 01/4/2024 K lấy ra 01 viên Hồng Phiến sử dụng bằng cách đốt hít. Số còn lại 02 viên Khải gói lại bằng mảnh nilon màu xanh bỏ vào trong bao thuốc lá dấu bên cạnh giường ngủ của mình. Đến khoảng 05 giờ ngày 02/4/2024 trong khi K đang năm ngủ thì tổ công tác Công an xã M đến nhà K test chất ma tuý đối với K, kết quả dương tính với ma tuý, đồng thời phát hiện gói ma tuý (02 viên Hồng Phiến) Lò Văn K cất dấu cạnh giường ngủ cùng 01 bật lửa ga và 01 mảnh giấy bạc dùng để sử dụng trái phép chất ma tuý như đã nêu.
Cáo trạng số 36/CT - VKSSC ngày 08/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La: Đề nghị truy tố bị can Lò Văn K về tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sốp Cộp, giữ quan điểm truy tố bị cáo về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự;
- Tuyên bố bị cáo Lò Văn K phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý và xử phạt bị cáo mức án từ 14 đến 18 tháng tù.
- Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự, đối với bị cáo.
Xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự;
- Tuyên tịch thu tiêu hủy: 0,11 gam Methamphetamine (Số còn lại sau khi trích rút 0,10 gam giám định); 01 bật lửa ga; 01 mảnh giấy bạc; 01 vỏ bao thuốc lá Thăng L1 và 01 mảnh ni lon màu xanh đựng ma tuý ban đầu.
Về án phí: Đề nghị áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Miễn cho bị cáo không phải nộp án phí hình sự sơ thẩm.
Tại phiên tòa bị cáo có ý kiến: Thừa nhận ngày 02/4/2024 bị bắt quả tang về hành vi cất dấu 0,21 gam ma túy, loại Methamphetamine để sử dụng cho bản thân. Việc truy tố, xet xử bị cáo về tội tàng trữ trái phép chất ma tuý là đúng người, đúng tội. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Tại phiên toà người bào chữa cho bị cáo có ý kiến: Hành vi phạm tội của bị cáo theo Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát là có căn cứ. Tuy nhiên cũng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét việc bị cáo là đồng bào dân tộc thiểu số sống ở vùng đặc biệt khó khăn mà xử phạt bị cáo mức án thấp nhất theo đề nghị của Viện kiểm sát.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện S, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện S, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội theo Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát: Tại phiên toà bị cáo khai nhận ngày 02/4/2024 bị bắt quả tang về hành vi cất dấu 02 viên Hồng Phiến, khối lượng 0,21 gam, loại Methamphetamine; 01 bật lửa ga, 01 mảnh giấy bạc dùng để sử dụng trái phép chất ma tuý. Số 0,21 gam Methamphetamine bị cáo cất dấu cạnh gường ngủ là để sử dụng cho bản thân, không có ý định bán lại cho người khác. Xét lời khai của bị cáo tại phiên toà thống nhất với lời khai trong quá trình điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang; vật chứng thu giữ; kết luận giám định đối với vật chứng thu giữ là 0,21 gam Methamphetamine và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Trên cơ sở đó đủ căn cứ kết luận bị cáo Lò Văn K đã phạm vào tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Như quan điểm truy tố và luận tội của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sốp Cộp là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự quy định: “ Người nào tàng trữ trái phép chất ma tuý mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm: c) Heroine, C,Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”.
[4] Hành vi tàng trữ trái phép 0,21 gam ma tuý, loại Methamphetamine của bị cáo nhằm sử dụng cho bản thân là hành vi nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến lĩnh vực độc quyền thống nhất quyền quản lý nhà nước về các chất ma tuý. Xâm hại đến chính sức khỏe, tài sản của bị cáo, sau là hành vi tiếp tay cho các loại tội phạm mua bán, vận chuyển trái phép chất ma tuý trong xã hội gia tăng và còn là nguyên nhân làm phát sinh tệ nạn sử dụng sau đó là nghiện ma tuý tại địa phương. Tội phạm bị cáo thực hiện thuộc trường hợp nghiêm trọng, do đó cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội và khối lượng ma túy bị cáo tàng trữ, với mục đích trừng trị răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
[5] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân bị cáo:
- Tình tiết tăng nặng: Không có.
- Tình tiết nhân thân: Bị cáo đã từng bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính, xử phạt hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý. Nhưng không chịu sửa đổi, tu dưỡng bản thân mà vẫn cố ý phạm tội. Do đó thuộc trường hợp nhân thân xấu để làm căn cứ quyết định hình phạt, theo quy định tại Điều 50 bộ luật Hình sự.
- Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, xét xử bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội. Nên được xem xét áp dụng là một tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[6] Đối với hình phạt bổ sung được quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự. Xét bị cáo không có tài sản để thi hành nên Hội đồng xét xử không áp dụng.
[7] Về xử lý vật chứng: Đối với 0,11gam Methamphetamine (Số còn lại sau khi trích rút 0,10 gam giám định) là chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo, vật cấm lưu hành. Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; để tuyên tịch thu tiêu huỷ cùng 01 bật lửa ga, 01 mảnh giấy bạc, 01 vỏ bao thuốc lá; và 01 mảnh ni lon màu xanh.
[8] Đối với nguồn gốc ma túy bị bắt giữ, theo bị cáo khai do Lò Văn T1, sinh năm 1994, trú tại bản Nà Lừa, xã M, huyện S cho ngày 31/3/2024. Kết quả điều tra bằng biện pháp đối chất, T1 không thừa nhận. Xét ngoài lời khai của bị cáo ra không có tài liệu, chứng cứ gì khác để chứng minh. Do vậy cơ quan CSĐT không có căn cứ xử lý đối tượng Lò Văn T1 và bị cáo phải chịu trách nhiệm đối với khối lượng ma tuý bị phát hiện bắt giữ.
[9] Án phí: Bị cáo là đồng bào dân tộc thiểu số sống ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, nên được miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm, theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
[10] Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án, theo quy định tại các Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng Hình sự.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh và hình phạt:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự;
- Tuyên bố bị cáo Lò Văn K phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý.
- Xử phạt bị cáo Lò Văn K 17 (Mười bảy) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt được tính từ ngày 02/4/2024 (Ngày tạm giữ bị cáo).
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự; điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự;
- Tuyên tịch thu tiêu huỷ:
+ 01 (Một) phong bì thư của Công an huyện S, tỉnh Sơn La, đã được niêm phong dán kín bằng giấy niêm phong, một mặt phong bì ghi: "Vật chứng lưu kho vụ: Lò Văn K - Tàng trữ trái phép chất ma túy, bắt ngày 02/4/2024 tại bản Nà Khoang, xã M, huyện S, tỉnh Sơn La. Bên trong phong bì có 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở; 01 mảnh nilon màu xanh đựng vật chứng ban đầu; 01 túi nilon màu trăng chứa 01 viên nén hình trụ tròn màu hồng có khối lượng 0,11 gam, ký hiệu K1". Theo kết luận giám định số 837/KL-KTHS ngày 04/4/2024 của Phòng K1 - Công an tỉnh S, thì 01 viên nén hình trụ tròn màu hồng có khối lượng 0,11 gam, ký hiệu K1 là ma tuý, loại Methamphetamine; 01 (Một) bật lửa ga màu hồng, nhãn hiệu H-Việt, đã qua sử dụng; 01 (Một) mẩu giấy bạc màu trắng, đã qua sử dụng; 01 (Một) vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long, đã cũ rách.
3. Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Miễn cho bị cáo không phải nộp án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng Hình sự; Báo cho bị cáo biết quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (12/8/2024).
|
Nơi nhận:
|
T. M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Kỳ Việt |
Bản án số 51/2024/HS-ST ngày 12/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SỐP CỘP, TỈNH SƠN LA về tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Số bản án: 51/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SỐP CỘP, TỈNH SƠN LA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lò Văn K phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý
