Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HỚN QUẢN

TỈNH BÌNH PHƯỚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập- Tự do- Hạnh phúc

Bản án số: 51/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 12-6-2024

V/v “Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỚN QUẢN, TỈNH BÌNH PHƯỚC

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Đoàn Thị Thu Thủy

Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Chí Vương

2. Bà Trương Thị Ngọc Linh

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Long – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hớn Quản tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thanh Thùy – Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản xét xử sơ thẩm, công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 42/2024/TLST – HNGĐ ngày 08 tháng 3 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 48/2024/QĐXXST- HNGĐ ngày 27/5/2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Thị B, sinh năm 2000; Địa chỉ: Tổ B, khu phố B, phường H, thị xã B, tỉnh Bình Phước (Có yêu cầu xét xử vắng mặt)

- Bị đơn: Anh Điểu T, sinh năm 1991; Địa chỉ: Tổ C, ấp S, xã M, huyện H, tỉnh Bình Phước (Có yêu cầu xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện và biên bản ghi lời khai nguyên đơn chị Thị B trình bày:

Chị Thị B và anh Điểu T chung sống với nhau từ năm 2018, đến năm 2021 anh chị đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 75 ngày 05/10/2021 của Ủy ban nhân dân phường H, thị xã B, tỉnh Bình Phước. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm nên thường xảy ra tranh cãi, khiến cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc. Anh T nhiều lần đi uống rượu rồi về nhà chửi bới, đánh đập chị B. Mâu thuẫn kéo dài dẫn đến vợ chồng không còn tình cảm với nhau. Do vậy, chị Thị B yêu cầu được ly hôn với anh Điểu T.

Quá trình chung sống chị Thị B và anh Điểu T có 01 con chung là Điểu Thị Ngọc Kim C, sinh ngày 20/9/2021, hiện tại con chung đang do chị Thị B nuôi dưỡng nên khi ly hôn chị Thị B yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu anh Điểu T cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại biên bản trình bày ý kiến anh Điểu T trình bày:

Anh T và chị B kết hôn năm 2021, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường H, thị xã M, tỉnh Bình Phước. Quá trình chung sống vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn, cãi vã, anh T có đánh chị Thị B, vợ chồng đã không còn chung sống cùng nhau từ năm 2023. Tuy nhiên, do còn thương vợ, con nên anh T không đồng ý ly hôn.

Đối với con chung là Điểu Thị Ngọc Kim C, sinh ngày 20/9/2021 hiện nay đang do chị Thị B nuôi dưỡng. Nếu Tòa án cho ly hôn anh T yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết con chung theo quy định.

Về tài sản chung và nợ chung không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Phát biểu của Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát:

Về tố tụng: Thẩm phán đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự về việc thu thập chứng cứ, giải quyết vụ án từ khi, nhận đơn, thụ lý vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử mở phiên toà. Tại phiên toà hôm nay, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Hồ sơ vụ án thể hiện chị B và anh T đều thừa nhận vợ chồng có mâu thuẫn, vợ chồng đã không còn chung sống cùng nhau từ năm 2023. Do vậy, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện, cho chị Thị B và anh Điểu T ly hôn. Giao con chung Điểu Thị Ngọc Kim C, sinh ngày 20/9/2021 cho chị Thị B nuôi dưỡng. Đương sự không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên không giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Chị Thị B yêu cầu ly hôn với anh Điểu T, bị đơn có nơi cư trú tại huyện H, nên đây là vụ án Ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước theo khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

Chị Thị B và anh Điểu T cùng có yêu cầu xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Thị B và anh Điểu T tự nguyện chung sống và đăng ký kết hôn năm 2021 theo Giấy chứng nhận kết hôn số 75 ngày 05/10/2021 của Ủy ban nhân dân phường H, thị xã M, tỉnh Bình Phước nên đây là hôn nhân hợp pháp theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình.

Chị B xác định mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, vợ chồng đã không còn chung sống cùng nhau từ năm 2023 nên yêu cầu ly hôn. Anh T cũng thừa nhận giữa anh chị có mâu thuẫn, trong lúc cãi nhau anh T có đánh chị Thị B, hiện nay vợ chồng đã không còn sống chung. Hội đồng xét xử nhận thấy: Tuy anh T không đồng ý ly hôn, nhưng từ lời trình bày của các đương sự có thể xác định mâu thuẫn giữa chị B và anh T đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận yêu cầu khởi kiện, cho chị Thị B ly hôn với anh Điểu T.

[3] Về con chung: Con chung Điểu Thị Ngọc Kim C, sinh ngày 20/9/2021 hiện nay đang do chị Thị B trực tiếp nuôi dưỡng, con chưa đủ 36 tháng tuổi nên Hội đồng xét xử chấp nhận giao con chung Điểu Thị Ngọc Kim C cho chị Thị B tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng. Chị Thị B không yêu cầu anh Điểu T cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét.

[4] Về tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

[5] Về nợ chung: Không có nên không xem xét.

[6] Về án phí: Nguyên đơn chị Thị B phải chịu 300.000đ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm được trừ vào tạm ứng án phí đã nộp.

[7] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ nêu trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Bộ luật tố tụng dân sự; các điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Q:

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Thị B ly hôn với anh Điểu T.

2. Về con chung: Giao con chung Điểu Thị Ngọc Kim C, sinh ngày 20/9/2021 cho chị Thị B trực tiếp nuôi dưỡng.

Chị B không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.

Không ai được quyền cản trở việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Vì quyền lợi của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi mức cấp dưỡng hoặc người trực tiếp nuôi con.

3. Về án phí: Nguyên đơn chị Thị B phải chịu 300.000đ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm được trừ vào tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0005086 ngày 04/3/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước.

4. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định./.

Nơi nhận :

  • - TAND tỉnh Bình Phước;
  • - VKSND huyện Hớn Quản;
  • - Các đương sự;
  • - Nơi ĐKKH;
  • - CCTHADS huyện Hớn Quản;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đoàn Thị Thu Thủy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 51/2024/HNGĐ-ST ngày 12/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỚN QUẢN, TỈNH BÌNH PHƯỚC về ly hôn

  • Số bản án: 51/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỚN QUẢN, TỈNH BÌNH PHƯỚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: cho ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger