|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 51/2024/HNGĐ-ST Ngày 11-6-2024 V/v: “Ly hôn, nuôi con chung giữa chị Hiền và anh Đăng” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lại Văn Tùng.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Anh Quế
Bà Trần Thị Minh Nguyệt.
- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thu Phương - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định tham gia phiên toà: Bà Bùi Bích Vân - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 32/2023/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 11 năm 2023 về việc “Tranh chấp ly hôn, con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 217/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Trịnh Thị H, sinh năm 1993; Nơi thường trú: Xóm E, xã X, huyện X, tỉnh Nam Định;
Nơi ở hiện nay: Số A, ngõ I, đường N, thành phố T, huyện T, Đài Loan;
- Bị đơn: Anh Mai Hồng Đ, sinh năm 1991; Nơi thường trú: Xóm E, xã X, huyện X, tỉnh Nam Định;
(Tại phiên tòa vắng mặt chị Trịnh Thị H có lý do, vắng mặt anh Mai Hồng Đ không có lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện ngày 13 tháng 10 năm 2023, bản tự khai nguyên đơn chị Trịnh Thị H trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Trịnh Thị H kết hôn với anh Mai Hồng Đ trên cơ sở tự do tìm hiểu, tự nguyện kết hôn, có tổ chức lễ cưới theo phong tục truyền thống, có đăng ký kết hôn vào ngày 05 tháng 6 năm 2012 tại Ủy ban nhân dân xã X, huyện X, tỉnh Nam Định. Sau khi kết hôn chị H và anh Đ chung sống hạnh phúc được một thời gian thì vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, vợ chồng thường xuyên cãi nhau, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, không cùng quan điểm về cách nuôi dạy con, cách sinh hoạt, không còn tin tưởng nhau. Quan hệ vợ chồng ngày càng trở nên căng thẳng, tình cảm vợ chồng ngày càng đi xuống. Mặc dù vợ chồng đã nhiều lần ngồi lại với nhau để trao đổi một cách tích cực để tìm ra cách giải quyết mâu thuẫn nhưng không thể tìm được tiếng nói chung trong cuộc sống, vợ chồng không thể hoà thuận được với nhau. Nay chị H xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, không có khả năng hàn gắn, đời sống chung không thể kéo dài, mâu thuẫn đã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị H đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định giải quyết cho chị được ly hôn với anh Mai Hồng Đ theo quy định của pháp luật.
Về con chung: Trong quá trình chung sống vợ chồng chị H có ba con chung cháu Mai Bích T, sinh ngày 18-11-2012, cháu Mai Thảo N, sinh ngày 09-3-2014 và cháu Mai Hoài A, sinh ngày 02-6-2015. Khi ly hôn nguyện vọng của chị H xin được nuôi dưỡng, chăm sóc ba con chung, chị H yêu cầu anh Đ cấp dưỡng tiền nuôi ba con đến khi trưởng thành. Tại bản tự khai bổ sung ngày 20-5-2024 chị H đề nghị Toà án giao cho anh Đ trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục ba con chung.
Về tài sản chung và công nợ: Chị Trịnh Thị H trình bày trong quá trình chung sống vợ chồng chị không có tài sản gì chung, không có công nợ chung nên chị không đề nghị Tòa án xem xét, giải quyết.
Do hiện nay chị Trịnh Thị H đang cư trú và lao động tại Đài Loan, do yêu cầu công việc và khoảng cách địa lý, chị H không bố trí thời gian đến Toà án trong quá trình giải quyết vụ án nên chị H đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải để vợ chồng đoàn tụ theo quy định của pháp luật, chị vẫn giữ nguyên nội dung trong đơn khởi kiện xin ly hôn và xin vắng mặt toàn bộ quá trình giải quyết vụ án.
* Bị đơn anh Mai Hồng Đ đã được Toà án gửi thông báo về việc thụ lý vụ án cho anh Đ nhận, anh đã biết được nội dung khởi kiện của chị Trịnh Thị H, đến nay anh không có yêu cầu phản tố. Toà án đã đến nơi cư trú để tống đạt các văn bản tố tụng cho anh Đ nhưng anh Đ đều từ chối không nhận các văn bản tố tụng của Toà án, nên buộc Toà án đã lập biên bản về việc không tống đạt được văn bản tố tụng và đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật. Đến nay anh Đ không có tài liệu chứng cứ gì giao nộp cho Tòa án, không đến Toà án làm việc lần nào, anh vắng mặt tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và phiên toà xét xử mà không có lý do. Đến nay anh Đ không có quan điểm của mình đối với vụ án.
Tại phiên toà hôm nay, chị Trịnh Thị H xin được vắng mặt và vẫn giữ nguyên ý kiến đã trình bày. Anh Mai Hồng Đ vẫn vắng mặt không có lý do.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án: Căn cứ Điều 21; Điều 262 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, thông qua việc kiểm sát tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay, Thẩm phán đã tiến hành thu thập chứng cứ, mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, tống đạt các quyết định tố tụng theo quy định tại các Điều 170, Điều 171, Điều 175, Điều 177, Điều 220 BLTTDS năm 2015. Từ khi thụ lý vụ án, nguyên đơn đã thực hiện đúng các quy định tại Điều 70, Điều 71 BLTTDS như cung cấp chứng cứ. Bị đơn không có văn bản và tài liệu chứng cứ giao nộp cho Tòa án là chưa thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ được quy định tại Điều 70, Điều 72 BLTTDS. Về nội dung vụ án, theo quy định tại Điều 51; Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; có đủ căn cứ xử ly hôn giữa chị Trịnh Thị H và anh Mai Hồng Đ. Con chung đề nghị giao cháu Mai Bích T, sinh ngày 18-11-2012, cháu Mai Thảo N, sinh ngày 09-3-2014 và cháu Mai Hoài A, sinh ngày 02-6-2015 cho anh M Hồng Đăng nuôi dưỡng, chăm sóc. Chị H không phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung mà được quyền đi lại chăm sóc, thăm nom con. Tài sản chung, công nợ của chị H, anh Đ không đề nghị Toà án giải quyết nên không cần đề cập, giải quyết. Án phí chị H phải nộp theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Anh Mai Hồng Đ đã được Tòa án thông báo hợp lệ, niêm yết các văn bản tố tụng và triệu tập hợp lệ đến phiên tòa lần thứ 2 nhưng anh Đ vẫn vắng mặt. Chị Trịnh Thị H có đơn xin xét xử vắng mặt nên theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt chị H, anh Đ.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Trịnh Thị H và anh Mai Hồng Đ kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có tìm hiểu, có đăng ký kết hôn vào ngày 05 tháng 6 năm 2012 tại Ủy ban nhân dân xã X, huyện X, tỉnh Nam Định như vậy cuộc hôn nhân này là hợp pháp.
[3] Trong quá trình chung sống giữa chị Trịnh Thị H và anh Mai Hồng Đ đã phát sinh mâu thuẫn trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận nguyện vọng xin ly hôn của chị H để giải phóng cho hai bên là phù hợp với quy định tại Điều 51; khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
[4] Vợ chồng chị Trịnh Thị H và anh Mai Hồng Đ có ba con chung cháu Mai Bích T, sinh ngày 18-11-2012, cháu Mai Thảo N, sinh ngày 09-3-2014 và cháu Mai Hoài A, sinh ngày 02-6-2015. Hiện nay ba con chung đang do anh Đ và gia đình anh nuôi dưỡng, chăm sóc. Khi ly hôn, chị H đồng ý để cho anh Đ được nuôi dưỡng, chăm sóc ba con chung, anh Đ không có ý kiến gì về việc nuôi dưỡng, chăm sóc các con chung.
[5] Xét nguyện vọng của chị Trịnh Thị H trong việc nuôi con chung thì thấy: Cháu Mai Bích T, cháu Mai Thảo N và cháu Mai Hoài A đang do anh Đ và gia đình anh nuôi dưỡng, chăm sóc từ khi chị H đi cư trú và làm việc tại Đài Loan cho đến nay, các cháu vẫn đang được ăn ở, cư trú ổn định, có môi trường sống tốt nhất để cho các cháu được phát triển lành mạnh cả về thể chất và tinh thần, chị H đang cư trú và lao động tại Đài Loan ở xa nhà không có điều kiện để chăm sóc các con chung. Xét thấy, các con chung của vợ chồng chị H, anh Đ hiện nay con nhỏ rất cần sự chăm sóc của người thân, các cháu lại có nguyện vọng xin được ở với anh Đ. Vì vậy, để đảm bảo sự phát triển mọi mặt của con chung nên cần tiếp tục giao cháu Mai Bích T, cháu Mai Thảo N và cháu Mai Hoài A cho anh Đ tiếp tục được nuôi dưỡng là phù hợp với Điều 71, 81, 82, 83 Luật hôn nhân gia đình năm 2014.
[6] Về cấp dưỡng tiền nuôi con: Trong quá trình giải quyết vụ án chị Trịnh Thị H và anh Mai Hồng Đ không yêu cầu Toà án xem xét, giải quyết về tiền cấp dưỡng nuôi con. Do đó, trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con chung không đặt ra giải quyết.
[7] Về tài sản chung và công nợ: Chị Trịnh Thị H trình bày vợ chồng chị không có tài sản chung, không có công nợ chung nên chị không đề nghị Tòa án xem xét, giải quyết, anh Mai Hồng Đ không có ý kiến gì về phần tài sản chung và công nợ của vợ chồng nên về phần tài sản chung và công nợ của vợ chồng chị H, anh Đ Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
[8] Về án phí ly hôn sơ thẩm chị Trịnh Thị H phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 71 ; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
- Về quan hệ hôn nhân: Xử ly hôn giữa chị Trịnh Thị H và anh Mai Hồng Đ.
- Về nuôi con chung: Giao con chung cháu Mai Bích T, sinh ngày 18-11-2012, cháu Mai Thảo N, sinh ngày 09-3-2014 và cháu Mai Hoài A, sinh ngày 02-6-2015 cho anh M Hồng Đăng trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến tuổi trưởng thành và có khả năng lao động tự lập được hoặc có tài sản để tự nuôi mình. Chị Trịnh Thị H không phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung cho anh Đ mà được quyền chăm sóc, thăm nom con nhưng không được lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Trịnh Thị H phải nộp 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000đ tại biên lai số 0005672 ngày 24-11-2023 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Nam Định, chị Trịnh Thị H đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn một tháng tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ. Anh Mai Hồng Đ vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lại Văn Tùng |
| THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
| Nguyễn Thị Anh Quế Trần Thị Minh N1 | Lại Văn T1 |
Bản án số 51/2024/HNGĐ-ST ngày 11/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH về tranh chấp ly hôn, con chung
- Số bản án: 51/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/06/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, nuôi con chung giữa chị H và anh Đ
